Lỗi “UNEXPECTED INCONSISTENCY; RUN fsck MANUALLY”

LỖI “UNEXPECTED INCONSISTENCY; RUN fsck MANUALLY”

Trong quá trình khởi động Linux, màn hình đang ở chế độ đồ họa chuyển sang chế độ text đen trắng và có thông báo lỗi như thế này:

/dev/sda4: UNEXPECTED INCONSISTENCY; RUN fsck MANUALLY
(i.e., withou -a or -p options)

(/dev/sda4 có thể thay đổi tùy từng máy: /dev/sda2, /dev/hda5, v.v…).

Thông báo trên có nghĩa là “Hệ thống file trên partition /dev/sda4 có lỗi không tương thích; chạy lệnh fsck bằng tay để chữa”.

Lỗi không tương thích của hệ thống file thường là do máy bị shutdown không sạch (unclean – do tắt điện bất thình lình, do máy bị treo rồi tắt điện cưỡng bức) hoặc do ổ cứng có bad block.

Khi đó, dữ liệu file lưu khác với dữ liệu trong nhật ký, và như thế là lỗi (xem thêm về hệ thống file nhật ký tại đây). Khi khởi động, Linux tự phát hiện ra lỗi đó và cho chạy fsck để tự chữa lỗi. Chỉ khi nào không chữa được mới có thông báo trên yêu cầu người dùng chạy fsck bằng tay.

Cần nhớ: để an toàn, chỉ được dùng fsck kiểm tra các partition không mount.

Có hai trường hợp xảy ra tiếp theo:

a/ Nếu partition sda4 đang cài Linux (mount vào thư mục gốc /) thì lỗi nằm ở các file hệ thống và Linux sẽ ngừng khởi động chở xử lý.

b/Nếu partition sda4 không mount vào thư mục gốc, mà chỉ là partition phụ để chứa dữ liệu (như ổ D trong Windows) thì Linux vẫn khởi động tiếp nhưng partition đó không được mount.

Nếu là trường hợp b/ thì cách chữa đơn giản hơn:

1- Mở kiểm tra thư mục dùng mount sda4 (ví dụ /mnt/data, …) để chắc chắn là đã không mount: trong thư mục đó không có dữ liệu chứa trên sda4.

2- Mở terminal và chạy các lệnh sau:

sudo fsck -c /dev/sda4 (với Ubuntu)

hoặc với Mandriva chạy hai lệnh:

su (để chuyển sang root)

fsck -c /dev/sda4

Option -c để chương trình kiểm tra và đánh dấu các bad block nếu có.

Nếu trên máy có cài Gparted có thể dùng Gparted để kiểm tra như đã nói ở đây. mà không dùng lệnh. Tuy nhiên, không rõ lệnh check của Gparted có kiểm tra và đánh dấu các bad block không?

Nếu là trường hợp a/ thì an toàn nhất là khởi động lại máy từ một đĩa Linux LiveCD (đĩa nào cũng được, không nhất thiết phải trùng với bộ Linux đã cài trên ổ cứng). Khi khởi động như vậy, các partition đều không được mount. Khi đã vào chế độ LiveCD, mở terminal hoặc chạy Gparted để kiểm tra giống như trên.

Ngoài các bộ Linux thông thường, có hai bộ Linux chuyên dùng để sửa chữa là SystemRescueCDGpartedLive. có thể tải về ghi thành đĩa Live CD hoặc ổ Live USB. Khi cần boot máy từ đó để sửa. SystemRescueCD nhiều công cụ hơn, GpartedLive chỉ có Gparted nên dung lượng chỉ có 100MB.

Làm cho Linux nhanh hơn, nhẹ hơn và mạnh hơn

Làm cho Linux nhanh hơn, nhẹ hơn và mạnh hơn

(Tối ưu hóa quá trình boot, KDE, GNOME, kết nối mạng và nhiều thứ khác)

By Bob Moss   8/10/2009 at 14:15 BST                                                              ZXC232 lược dịch và bổ xung

( Một số chiêu thức dưới đây, nếu công lực chưa đủ thì đừng nên thực hiện. Một số trường hợp cách làm có thể khác nhau trên các bản Linux khác nhau, tác giả viết trên cơ sở openSUSE)

1- CHO LINUX KHỞI ĐỘNG NHANH HƠN.

Bỏ thời gian timeout:

Dùng quyền root mở file /boot/grub/menu.lst trong một trình soạn text và tìm dòng sau đây (thường ở ngay đầu file):

timeout=3

Đây là thời gian chờ để các phần cứng cũ có thể tải các module driver. Đổi timeout=0 sẽ khởi động nhanh hơn được 3 giây.

CHÚ Ý: điều nói trên chỉ đúng nếu trên ổ cứng chỉ cài một hệ điều hành duy nhất là Linux. Khi có từ hai hệ trở lên, thường timeout=10 (giây) là thời gian boot menu chờ người dùng chọn khởi động hệ điều hành nào. Nếu không chọn, hệ điều hành default sẽ được khởi động. Đặt timeout=0 sẽ làm cho bootmenu không xuất hiện nữa, sẽ không chọn khởi động được các hệ điều hành khác).

Tăng tốc ổ cứng.

Nếu ổ cứng có tính năng DMA (Direct Memory Access), có thể tăng tốc đọc dữ liệu bằng lệnh hdparm chạy trong terminal như sau (với quyền root):

hdparm -d1 /dev/hda1

trong đó /dev/hda1 là boot partition của bản Linux đang xét. Tùy máy và cách cài, có thể là hda2, sda5, …

Trong Gnome có thể cho chạy tự động lệnh này tại System > Administration > Services. Thêm dòng lệnh trên với gksudo ở đầu.

Chi tiết hơn về lệnh này xem tại đây.

Chạy song song các tiến trình khi boot

Dùng quyền root mở file /etc/init.d/rc trong một trình soạn text (gedit hoặc kwrite) rồi tìm dòng sau:

CONCURRENCY=none

Thay none bằng shell, thời gian boot có thể giảm được 1-2 giây.

Tối ưu hóa bộ nhớ

Một cách tốt để tăng tốc Linux là quy định việc sử dụng swap. Swap partition là nơi Linux dùng làm bộ nhớ ảo, lưu các dữ liệu tạm để có thể nạp nhanh vào RAM khi cần. Nếu RAM đủ lớn ( 1GB) thì nên giảm việc dùng swap và tốc độ sẽ tăng đáng kể.

Cách thay đổi mức độ swap xem tại đây.

CHÚ Ý: các cách tăng tốc boot nói trên có lẽ chỉ đúng cho các bản Linux cũ. Các phiên bản Linux gần đây đều cố gắng giảm thời gian boot xuống dưới 10 giây nên các cách trên không giúp được nhiều.

2- GNOME

Dùng preload

Preload là một trình thường trú (daemon) theo dõi các hoạt động hàng ngày để lúc khởi động tải trước các chương trình, file thường dùng nhằm tăng tốc hệ thống.

Trước hết kiểm tra trong danh sách các processes xem preload đã chạy chưa. Nếu không thấy, kiểm tra xem đã cài chưa (Ubuntu thường chưa cài), rồi kích hoạt bằng lệnh:

service preload on

Automatic login

Máy dùng chung thì không nên kích hoạt tính năng này. Nhưng máy cá nhân và không sợ người khác tò mò thì Automatic login đỡ mất thời gian chờ gõ username và password.

Chọn lần lượt System > Administration > Login Window > Security > Enable Automatic Login.

Dùng khung cửa sổ thay cho ảnh cửa sổ

Khi nhấn chuột vào thanh tiêu đề rồi rê một cửa sổ (window) từ chỗ này sang chỗ khác, trong quá trình rê, toàn bộ ảnh cửa sổ vẫn giữ nguyên. Để đỡ cho Gnome khỏi phải làm việc đó (tốc độ sẽ giảm), mở terminal gõ vào lệnh sau:

gconftool-2 –type bool –set /apps/metacity/general/ reduced_resources true

Bây giờ khi rê cửa sổ sẽ chỉ có hình khung rê theo. Chú ý thủ thuật này chỉ có tác dụng nếu không dùng Compiz hoặc các hiệu ứng màn hình.

Làm menu hiện nhanh hơn.

Khi mở các menu Gnome lần đầu, các ảnh của icon được tải từ file nguồn, menu có thể không xuất hiện ngay. Nếu máy đủ mạnh, mở thư mục Home, tạo một file ẩn mới .gtkrc-2.0 (chú ý đầu tên file ẩn có dấu chấm). Sau đó mở file nói trên bằng trình soạn text (gedit) rồi thêm dòng sau:

gtk-menu-popup-delay=0

Save rồi đóng file lại. Log out ra rồi log in lại, menu sẽ xuất hiện nhanh hơn.

3- KDE

Tăng tốc ext3

Có thể tăng tốc đáng kể bằng cách dùng kiểu ghi ổ cứng write-back của hệ thống file ext3. ( ext3 có ba kiểu ghi dữ liệu lên ổ cứng, xem tại đây). Thủ thuật này không chỉ áp dụng cho KDE, mà dùng được cho hầu hết các bản Linux hiện nay không dùng kiểu ghi này ( kiểu ghi mặc định của ext3 là ordered).

Nguyên nhân chính là do các ổ cứng kiểu cũ không hỗ trợ kiểu ghi này. Hiệu quả không rõ lắm trên một máy dùng ở nhà, nhưng sẽ thấy rõ trong những máy ghi ổ cứng nhiều, ví dụ các máy chủ. ( Lưu ý: được cái nọ thì mất cái kia, write-back ghi nhanh nhất nhưng có thể mất dữ liệu, data chậm nhất nhưng an toàn nhất)

Backup file /etc/fstab rồi dùng quyền root mở nó trong một trình soạn text và tìm đoạn sau:

relatime,errors=remount-ro

thay nó bằng đoạn này:

noatime,nodiratime,errors=remount-ro,data=writeback

Dùng quyền root mở file /boot/grub/menu.lst trong một trình soạn text rồi tìm các dòng sau:

# defoptions quiet splash
#altoptions=(recoverymode) single

Thêm đoạn dưới đây vào cuối hai dòng đó:

rootflags=data=writeback

Save file và đóng lại. Mở terminal chạy lệnh update grub.

Tắt IPv6

Hiện IPv6 chưa phổ biến, trình duyệt web Konqueror phải chuyển đổi giữa IPv4 và Ipv6. Có thể tắt IPv6 đi. Cách làm tùy từng bản Linux.

Trong Kubuntu, dùng quyền root mở file /etc/environment và thêm dòng sau:

KDE_NO_IPV6=True

Trong openSUSE, dùng quyền root mở file /etc/sysconfig/windowmanager tìm dòng sau:

KDE_USE_IPV6=”yes”

thay yes bằng no.

Automatic login

Vào System Settings, nhấn Advanced tab, nhấn tiếp vào Login Manager > Convenience rồi kích hoạt Auto Login.

Bắt đầu một phiên làm việc trống (empty session)

Khi kết thúc một phiên làm việc (log out hoặc shutdown, restart), KDE4 ghi lại trạng thái phiên đó (các cửa sổ đang mở, các tiến trình đang chạy, …) và trong phiên tới, nó mở lại đúng phiên cũ.

Nếu không cần điều đó, hãy mở System Settings > Advanced > Session Manager, chọn mục Start with an empty session rồi nhấn nút Apply.

4- NETWORK

Dùng hostname là ‘localhost’

Dùng quyền root mở file /etc/hosts trong một trình soạn text và thay hai dòng đầu thành như sau:

127.0.0.1 localhost
yourhost 127.0.1.1 yourhost

trong đó yourhost là tên đặt cho máy (ví dụ: zxcdesktop). Nhớ sao lưu file /etc/hosts trước khi sửa vì không phải bản Linux nào cũng tương thích với cách làm trên!

Tối ưu hóa các thiết lập của TCP

Dùng quyền root, mở file /etc/sysctl.conf trong một trình soạn text và thêm các dòng sau:

net.ipv4.tcp_timestamps = 0
net.ipv4.tcp_sack = 1

Dòng đầu bỏ các dữ liệu thời gian, bớt được 12k cho mỗi gói tin. Dòng thứ hai kích hoạt việc xác nhận chọn lọc, bớt được các công đoạn kiểm tra mỗi gói tin do đó lưu thông sẽ nhanh hơn.

Metrics và backlogs

Có thể tiếp tục tối ưu hóa TCP bằng cách thêm hai dòng sau vào file nói trên:

net.ipv4.tcp_no_metrics_save = 1
net.core.netdev_max_backlog = 2500

Dòng trên tăng tốc kết nối bằng cách tránh không save TCP metric cho từng gói tin. Dòng thứ hai quy định kích thước backlog cho phép.

Với kết nối không dây hoặc Ethernet cũ, backlog khoảng 2000, kết nối cáp 1GB backlog khoảng 5000.

TCP window scaling

Thiết lập này của TCP quy định kích thước gói tin tối thiểu và tối đa có thể gửi và nhận. Kết nối dial-up sẽ nhanh hơn khi kích thước gói nhỏ hơn, ngược lại kết nối băng rộng sẽ nhanh khi kích thước gói tin lớn.

Dùng quyền root mở file /etc/sysctl.conf và thêm vào đó:

net.ipv4.tcp_window_scaling = 1
net.ipv4.tcp_wmem = 10240 87380 16777216
net.ipv4.tcp_rmem = 10240 87380 16777216
net.ipv4.tcp_mem = 16777216 16777216 16777216
net.core.rmem_max = 16777216
net.core wmem_max = 16777216

Các số trên tối ưu cho kết nối 2Mbps, nói chung kích thước gói tối ưu tính bằng cách lấy băng thông lớn nhất (maximum bandwidth) chia cho độ trễ (latency). Hai số đó có thể xác định từ www.speedtest.net và kết quả thay đổi thế nào xác định theo www.speedguide.net:8080

( Trong Network Center của Mandriva có mục Advanced Settings cho phép disable Ipv6, TCP Windows Scanling và TCP Timestamps)

5- FIREFOX

Tắt IPv6

Gõ vào thanh địa chỉ: about:config rồi Enter. Xuất hiện màn hình cảnh báo, nhấn tiếp vào nút I’ll be carefull.

Trong màn hình mới, gõ vào ô Filter dòng sau:

network.dns.disableIPv6

Chỉ cần gõ vài từ đầu là thông số trên đã hiện lên ở dưới. Kích đúp chuột vào đó để đổi mục Value từ “False” thành “True”. Đóng màn hình config lại.

Hiển thị trang web nhanh hơn

Trong màn hình about:config, nhấn phím phải chuột, chọn New > Interger. Trong màn hình con xuất hiện gõ vào content.notify.backoffcount rồi OK. Trong màn hình con tiếp theo nhập vào số 5 rồi OK. Thiết lập này bảo Firefox không cần chờ cả trang web tải về mới hiển thị.

Tương tự như trên, tạo thông số nglayout.initialpaint.delay rồi gán giá trị bằng 0 (số không). Thông số này quy định Firefox không cần chờ toàn bộ thông tin kết cấu trang tải về xong mới hiển thị trang.

Tối ưu hóa lịch sử duyệt web.

Nếu giảm khối lượng lịch sử duyệt web mà Firefox phải lưu thì nó sẽ xuất hiện nhanh hơn và tiết kiệm ổ cứng. Trong màn hình about:config, gõ vào ô Filter:

browser.history

rồi nhấn đúp chuột vào các thông số browser.history_expires_daysbrowser.history_expires_days_min đổi chúng về giá trị nhỏ hơn.

Tiếp tục chỉnh các thiết lập của TCP

Vẫn trong màn hình about:config , chỉnh các thông số network.http.pipeliningnetwork.http.proxy.pipelining từ “False” thành “True”. Đổi giá trị của network. http.pipelining.maxrequests từ 4. thành 8.

(Firefox 3.5 đã đặt sẵn các thông số này giống như trên)

Hiển thị menu nhanh hơn

Trong màn hình about:config, nhấn phím phải chuột chọn New > Integer. Nhập tên thông số mới là ui.submenuDelay và đặt giá trị của nó bằng 0 (số không).

Khi khởi động lại Firefox sẽ thấy menu xuất hiện nhanh hơn đáng kể.

6-PHẦN MỀM.

Truy cập các kho phần mềm

Khi cài đặt, Ubuntu mặc định chọn kho phần mềm dành cho Việt nam (Server for Vietnam) nhưng kho đó ở Mỹ và không nhanh. Nhấn vào Other > Select Best Server, chương trình sẽ test khoảng 300 máy chủ trên toàn thế giới để chọn máy nhanh nhất. Tuy nhiên có điều lạ là mặc dù máy chủ của FPT được đăng ký chính thức trong danh sách đó nhưng thường không được chọn theo cách test trên. Thực tế sử dụng thì kho của FPT là nhanh nhất. Vì vậy không cần test, cuốn danh sách xuống dưới cùng đến mục Vietnam để chọn kho mirror-fpt-telecom.fpt.net.

Mandriva từ bản 2009 không cho chọn kho phần mềm riêng biệt mà theo một mirror list chung. Về nguyên tắc khi download, chương trình sẽ tự chọn kho nhanh nhất. Tuy nhiên, nếu đang download mà kho đó treo phải tắt chương trình cài phần mềm Software Management rồi bật lại để chương trình chọn sang kho khác.

Mandriva có cái dở là thông tin mô tả phần mềm khi cần mới tải về và quá trình tải cũng lâu. Vì vậy tốt nhất là tắt tính năng đó đi ( Control Center > Install & Remove Software > Options > Media Manager > Options > Global Options rồi chọn XML meta-data download policy là never).

Mandriva cho chọn ba chương trình download khác nhau. Vì vậy khi trục trặc có thể chuyển sang chọn chương trình khác, về nguyên tắc aria2 là hay nhất. Thực tế sử dụng thì aria2 chập chờn, lúc rất tốt, lúc lại tịt. Khi đó phải chọn chương trình download khác (curl hoặc wget) cũng ở cùng màn hình Global Options như trên.

Dọn phần mềm thừa

Khi tải phần mềm về cài, Ubuntu lưu các gói cài đặt trong thư mục /var/cache/apt. Khi cài xong, để xóa các gói lưu đó, mở terminal chạy lệnh:

sudo apt-get clean

Xóa các file “mồ côi” bằng lệnh:

sudo apt-get autoremove

Mandriva khi cài xong tự xóa cache. Thỉnh thoảng xóa file “mồ côi” bằng các lệnh:

su

urpme –auto-orphans

OpenOffice.org chạy nhanh hơn

Trong màn hình OpenOffice.org, nhấn vào Tools > Options > Memory:

  • Giảm số bước undo (Number of steps) xuống khoảng 20.
  • Tăng lượng lượng cache dành cho các đối tượng đồ họa trong file (Graphic cache) lên khoảng 128MB (hoặc hơn tùy theo RAM của máy).
  • Đánh dấu chọn mục Enable systray Quickstarter để khởi động trước một phần OpenOffice khi khởi động máy (sẽ xuất hiện một icon trên System Tray).
  • Trong mục Java ở cột bên trái, bỏ chọn mục Use a Java runtime environment (nếu không dùng các tính năng cao cấp của OpenOffice).

7- DÙNG MỘT “BỘ ÁO” NHẸ HƠN.

Ngoài các môi trường đồ họa có sẵn khi cài đặt (KDE hoặc GNOME), Linux còn nhiều “bộ áo” khác (xem thêm ở đây).

Nếu cần nhanh, có thể sắm thêm một bộ áo thể thao, xfce chẳng hạn, để dùng khi cần. Khi không cần lại khoác áo dạ hội KDE4 hoặc áo đi làm GNOME.

Trong Ubuntu, Kubuntu, cài thêm gói phần mềm xubuntu-desktop.(có trong kho phần mềm).

Trong Mandriva, vào Menu > Install & Remove Software:

Ở ô trên cùng chọn Meta packages như trong hình trên. Chọn tiếp mục Xfce ở cột bên trái rồi chọn cài task-xfce-minimal ở cột bên phải.

Trong màn hình Login của Ubuntu, Kubuntu từ 9.04 về trước, chọn Options > Sessions rồi chọn Xfce. Ubuntu, Kubuntu 9.10: nhập username, password rồi chọn Xfce ở đáy màn hình.

Trong màn hình Login của Mandriva, nhấn vào biểu tượng quyển sổ+bút chì để chọn Xfce.

IBM và Canonical tuyên chiến với Windows 7

IBM VÀ CANONICAL TUYÊN CHIẾN VỚI WINDOWS 7

Ngày 20/10/2009 vừa qua, IBM và Canonical tuyên bố tung ra thị trường Mỹ bộ phần mềm IBM Client for Smart Work (ICSW) cạnh tranh trực tiếp với Windows 7.

Bộ phần mềm này dành cho một dải rộng cấu hình máy (máy để bàn, laptop và netbook), gồm có:

  • Hệ điều hành Linux Ubuntu 8.04.1. Bản này là bản hỗ trợ dài hạn (LTS) đến tháng 4/2011

  • Bộ phần mềm văn phòng Lotus Symphony của IBM dựa trên nền OpenOffice.

  • Bộ phần mềm cộng tác (mail, calendar, task,…) Lotus Note/Domino, Domino Web Access, iNotes của IBM. (mail của đám mây điện toán LotusLive iNotes có giá $3/user/tháng).

  • Dịch vụ cộng tác online Lotus Online Collaboration Services dùng dịch vụ đám mây điện toán LotusLive.com ($10/user/tháng)

  • Tích hợp sẵn một loạt chức năng: chia sẻ file, quản lý văn bản, chat, web conferencing, điện thoại IP, blog, wikis,…

  • Có thể chọn nhiều dạng client từ nặng đến nhẹ tùy cấu hình máy. Đây là ưu điểm của Ubuntu.

Đây là một cuộc đấu hay. Lần đầu tiên, Microsoft bị thách thức bởi một đại gia trong làng tin học tại ngay thị trường Mỹ. Bộ sản phẩm Lotus Notes/Domino của IBM cũng là sản phẩm nổi tiếng lâu đời ngang ngửa với Microsoft Exchange/Outlook, kết hợp với Ubuntu là bộ Linux đang lên như diều và phổ biến nhất hiện nay.

Điểm mạnh của giải pháp này là: kết hợp các công nghệ mới nhất (Ubuntu, nguồn mở, đám mây điện toán) với các công nghệ lâu năm, ổn định (Lotus Notes/Domino), có support từ các hãng lớn, giá rẻ, dùng được máy hiện có không phải nâng cấp phần cứng.

Riêng Lotus Symphony thì hơi nghi ngờ: giao diện mới, hiện đại nhưng phần lõi lại dựa trên những phiên bản OpenOffice cũ (xem thêm tại đây).

Thị trường Mỹ là thị trường tuân thủ nghiêm ngặt luật bản quyền. Vì vậy các tổ chức hiện đang dùng Windows XP đứng trước những lựa chọn khó khăn khi Windows 7 ra đời và Windows XP không còn được hỗ trợ nữa. Nếu tiếp tục dùng Windows, họ buộc phải nâng cấp phần mềm và cả phần cứng để chạy được phần mềm đó. Theo IBM, các nhà nghiên cứu thị trường độc lập đã ước tính để chuyển sang Windows 7, mỗi user phải mất tới 2000 USD ?!

Theo IBM, tổng chi phí sở hữu ICSW (tính cả phần máy chủ cho các phần mềm cộng tác) chỉ bằng một nửa phần mềm Microsoft và không phải nâng cấp máy. IBM có đưa ra một bảng tính chi tiết tổng chi phí sở hữu (phải đăng ký mới đọc được), sau 5 năm, số tiền tiết kiệm được lên tới hơn 2 triệu USD! (cách tính chưa tìm hiểu được).

File cài đặt (Ubuntu 8.04 + các phần mềm của IBM nói trên) có thể tải về từ đây. File này lớn tới 1,08GB nên phải burn vào đĩa DVD.

Tôi sẽ cài thử và review sau.

Để tránh mã độc Windows: giao dịch ngân hàng bằng LiveCD Linux

Avoid Windows Malware: Bank on a Live CD

krebs_lol_624.gif

(Sau một loạt bài về các vụ ăn trộm tiền trên mạng đăng trong chuyên mục Security Fix , phóng viên Brian Krebs đề xuất một giải pháp chống trộm hiệu quả và rẻ tiền. Bài đăng trên một trong những tờ báo hàng đầu thế giới: Washington Post)

Loạt phóng sự điều tra tôi viết về các tổ chức tội phạm trên mạng ăn trộm hàng triệu đô la của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tạo ra nhiều câu hỏi của các chủ doanh nghiệp muốn biết làm thế nào để tự bảo vệ trước dạng tội phạm như thế.

Tôi biết một cách đơn giản nhất, hiệu quả nhất: đừng dùng Windows khi truy cập vào tài khoản ngân hàng trên mạng.

Tôi không đưa ra lời khuyên đó một cách dễ dàng. Tôi đã phỏng vấn hàng chục công ty nạn nhân mất từ $10,000 đến $500,000 chỉ vì bị nhiễm một phần mềm mã độc. Tôi đã nghe nhiều câu chuyện đáng tin cậy về vô số cách mà bọn tội phạm dùng để qua mặt gần như mọi hàng rào an ninh mà các ngân hàng dựng nên.

Nhưng dù cho các ngân hàng hoặc bọn tội phạm dùng cách gì, tất cả các cuộc tấn công đều có một mẫu số chung duy nhất không thể phủ nhận được: chúng thành công vì bọn tội phạm có thể cài được một phần mềm mã độc cho phép chúng dành được quyền kiểm soát các máy tính Windows

Tại sao hệ điều hành lại quan trọng như vậy? Hầu như tất cả các phần mềm ăn trộm dữ liệu hiện nay đều được viết để tấn công Windows và sẽ không thể chạy được trên một hệ điều hành không phải Windows. Các mã độc chạy trên Windows hiện tinh vi đến mức mà ngân hàng rất khó phân biệt được đâu là giao dịch của khách hàng và đâu là của hacker.

Cuộc tấn công nổi tiếng ăn trộm tiền của quận Bullit, Kentucky cho thấy bọn trộm đã dùng mã độc làm thất bại hai tuyến phòng thủ chủ yếu của ngân hàng như thế nào. Nhiều ngân hàng có chế độ “kiểm soát kép”: phải có ít nhất hai người có thẩm quyền cùng ký một lệnh chuyển tiền. Trong cuộc tấn công nói trên, bọn trộm cấy phần mềm mã độc vào máy tính của kho bạc, từ đó đăng ký được chính chúng là người có thẩm quyền cho chuyển tiền.

Ngân hàng cũng thường đăng ký các địa chỉ IP của khách hàng và có các biện pháp an ninh phụ khi khách hàng truy cập vào tài khoản nhưng không dùng địa chỉ IP đó. Trong trường hợp quận Bullit và ít nhất ba nạn nhân khác mà tôi đã phỏng vấn trong ba tháng qua, bọn hacker dùng phần mềm mã độc để chuyển hướng kết nối của chúng vào site của ngân hàng đi qua chính máy tính và địa chỉ IP của nạn nhân (do đó đối với ngân hàng, kết nối đến từ IP đã đăng ký).

Phần mềm mã độc cũng giúp bọn trộm làm thất bại hệ thống xác thực hai yếu tố, yêu cầu khách hàng ngoài username và password phải cung cấp thêm một mã xác thực phụ nữa ví dụ mã sáu ký tự do một thẻ tạo mã bỏ túi tạo ra và thay cái khác 30 giây một lần.

Trong hai tháng qua, tôi đã viết về cảnh ngộ khốn khổ của hai công ty nạn nhân mặc dù ngân hàng của họ đã yêu cầu dùng các mã an ninh phụ đó.

David Johnston, chủ công ty Sign Designs, California, mất gần $100,000 ngày 23/7 do một phần mềm mã độc Windows. Ngân hàng của Johston cũng yêu cầu khách hàng ngoài username và password phải nhập mã do thẻ an ninh Vasco tạo ra. Nhưng bọn trộm cài được mã độc vào máy tính của người quản lý và bắt được một mã an ninh khi người đó log in. Sau đó chúng làm chậm quá trình log in của người quản lý đó lại để chúng có thời gian hoạt động.

Cũng bằng cách đó, bọn trộm đã lấy được $447,000 của công ty Ferma.

Tôi không phải người duy nhất khuyên các khách hàng giao dịch ngân hàng qua mạng nên truy cập vào tài khoản từ các máy tính không Windows. Trung tâm Phân tích và Chia sẻ thông tin dịch vụ tài chính (Financial Services Information Sharing and Analysis Center, FS-ISAC), một nhóm các nhà công nghiệp được một số các ngân hàng lớn nhất thế giới hỗ trợ, vừa mới ban hành bản hướng dẫn khuyến nghị các doanh nghiệp thực hiện các giao dịch ngân hàng qua mạng “bằng một máy tính không nối mạng LAN, được bảo mật và khóa hoàn toàn sao cho các hoạt động duyệt Web và gửi email thông thường không thực hiện được”.

Đáp lại loạt bài phóng sự được công bố trên chuyên mục Security Fix của Washington Post, học viện công nghệ SANS, một tổ chức đào tạo và nghiên cứu về an ninh mạng đã treo giải cho sinh viên viết báo cáo về các phương pháp hiệu quả nhất để các doanh nghiệp vừa và nhỏ phòng chống tội phạm trên mạng. Kết quả? Có rất nhiều cách, nhưng cách rẻ nhất và hiển nhiên nhất là dùng một đĩa CD chỉ đọc (read-only), boot được có một hệ điều hành như Knoppix hoặc Ubuntu. Báo cáo của SANS có thể xem ở đây.

Được gọi là “Live CD”, những hệ điều hành này có thể tải miễn phí từ mạng và ghi vào đĩa CDROM. Cái hay của những đĩa này là nó có thể biến một máy tính Windows tạm thời thành máy Linux mà không phải cài bất kỳ cái gì vào ổ cứng. Các chương trình từ Live CD được tải vào bộ nhớ RAM của máy và mọi dữ liệu như lịch sử các trang web đã duyệt hoặc các hoạt động khác sẽ bị xóa hoàn toàn khi tắt máy. Để quay lại Windows chỉ cần khởi động lại và lấy đĩa CD ra khỏi ổ.

Điểm quan trọng hơn là những phần mềm mã độc dùng ăn trộm dữ liệu trong Windows không thể tải hoặc hoạt động được trong Linux. Ngay cả nếu máy Windows đã nhiễm mã độc trong ổ cứng, khi boot máy bằng Live CD, các mã độc đó không hoạt động được.

Arc of Steuben, một tổ chức phi lợi nhuận chăm sóc những người khuyết tật đã theo đúng lời khuyên trên. Tháng 9/2009 tôi có viết bài về bọn trộm đã dùng mã độc để ăn trộm gần $200,000 của họ như thế nào. Kể từ đó, họ đã giới hạn chỉ cho phép dùng các máy Linux trong mạng của họ để giao dịch ngân hàng theo một báo cáo tại đây cho biết.

Tất nhiên một máy tính Mac cũng có thể tránh được mã độc Windows. Nhưng dùng Live CD Linux là cách rẻ nhất. Nếu bạn muốn làm quen xin xem hướng dẫn tại đây.

Xem mặt Moblin.

Moblin (viết tắt của Mobile Linux) là hệ điều hành Linux do Intel chủ xướng chuyên dụng cho các netbook dùng chip Atom của Intel (và một số chip khác dùng bộ lệnh SSSE3). Ngoài netbook, Moblin cũng nhằm vào các thiết bị Mobile Internet Device và các thiết bị nhúng như hệ thống thông tin trên ôtô.

Ngoài việc chuyên hỗ trợ các chip trên, Moblin có mục tiêu khởi động nhanh và ít tốn pin. Sau khi công bố năm 2007, Moblin được môt loạt các nhà sản xuất netbook (Dell, Acer, …) và nhà sản xuất Linux (Ubuntu, Mandriva, …) ủng hộ.

Trong phiên bản Mandriva 2010.0 RC2 vừa công bố ngày 10/10/09 có một bản Moblin riêng. (ví dụ tải về tại đây). Nhưng cũng có thể xem mặt Moblin từ các bản KDE hoặc GNOME.

Vào Menu -> Install & Remove Software. Trong màn hình mới, chọn Meta Package -> Graphical Desktop -> Other rồi chọn cài task-moblin. Sau khi cài xong, logout ra. Trong màn hình Log in, nhấn vào icon hình quyển sổ và cái bút, đánh dấu Moblin rồi đăng nhập.

Màn hình chính như thế này:
snapshot1
Màn hình này có một thanh panel ở trên cùng và tự ẩn khi không dùng. Di chuột lên mép trên màn hình để panel xuất hiện rồi nhấn vào biểu tượng Application thì màn hình như sau:

snapshot2
Trong màn hình này có thể truy cập và mở các ứng dụng đã cài trong Mandriva. Moblin có một trình duyệt web riêng, giao diện giống Google Chrome và IE7.
Giao diện Moblin khác hẳn các loại giao diện cũ nên phải học cách dùng.

Ngoài Moblin, trong mục Graphical Desktop nói trên còn có thể cài thêm nhiều “bộ áo” khác: KDE4, Gnome, Enlightenment, Xfce, Ede, Lxde, Sugar. Chọn bộ áo nào từ màn hình Log in như đã nói ở trên.
Ubuntu cũng có một bản Ubuntu Moblin Remix, phiên bản mới nhất là mobile-karmic-mobline-remix nhưng không rõ cách cài như thế nào.

Posted in Linux. Thẻ: . 2 phản hồi »

Linux đã cứu hệ thống điện Australia

Linux saves Aussie electrical grid

By Nick Farrell

Thursday, 1 October 2009, 09:52

(Đây là một vấn đề nghiêm trọng. Không biết các hệ thống điều khiển của Việt nam nghĩ sao về chuyện này)

Những người yêu phần mềm nguồn mở đã có phản ứng nhanh cứu được hệ thống phân phối điện Australia sau khi mạng máy tính của phòng điều khiển trung tâm bị nhiễm virus.

Một con virus Windows W32.Virus.CF đã nhiễm vào mạng của hệ thống Năng lượng tích hợp (Integral Energy) và lan ra các máy tính trong phòng điều khiển.

Những kỹ thuật viên của phòng đã thay các máy Windows bị nhiễm virus bằng các máy Linux đang dùng để viết phần mềm. Nhờ thế, virus đã không lan được sang các máy điều khiển còn lại.

Đã có nhiều các cuộc điều tra của các chính phủ trên toàn cầu về an ninh của các công ty điện lực vì sợ rằng các hacker, các tên khủng bố hoặc các chiến binh mạng của các nước thù địch có thể chiếm quyền kiểm soát mạng lưới điện quốc gia. Nay điều lo lắng đó có vẻ đã thành sự thật.

Theo báo Sydney Morning Herald, nhiều máy Windows khác trong hệ thống Năng lượng tích hợp cũng bị nhiễm virus và hơn 1000 máy phải cài đặt lại.

Hệ thống được bảo vệ bởi phần mềm của Symantec và virus W32.Virus.CF đã được đăng ký trong cơ sở dữ liệu của hãng từ tháng hai. Website của Symantec mô tả con virus này là đặc biệt độc hại (particularly sinister), lây nhiễm nhanh và khó tiêu diệt. Nó thiết lập một cổng hậu (back door) trên máy bị nhiễm, cho phép hacker phát lệnh điều khiển máy qua kênh Internet Relay Chat (IRC). (và như vậy, hacker có thể điều khiển được hệ thống truyền tải và phân phối điện).

Chris Gatford, một chuyên gia an ninh mạng của Hacklabs cho rằng sự cố trên xảy ra có thể do một số máy đã không được cập nhật virus hoặc phần mềm của Symantec đã không phát hiện ra do kỹ thuật che dấu của virus.

zxc232

Trục trặc với Ubuntu 9.10 Beta

Vừa thử cài Ubuntu 9.10 Beta, gặp một số trục trặc:

  1. Trình cài đặt đã được viết lại một phần, trong quá trình cài có màn hình giới thiệu các tính năng chính (giống Windows) xem đỡ sốt ruột khi chờ đợi. Tuy nhiên, màn hình hiển thị các partition vẫn bị lỗi tràn ra ngoài màn hình do đó không nhìn thấy phím Next, phải dùng phím Tab để chuyển focus rồi Enter mò, không dùng chuột được (giống lỗi trong Ubuntu 9.04).
  2. Trình Network Manager không cài đặt được card mạng theo kiểu manual (đặt IP tĩnh bằng tay). Phải mở file /etc/network/interfaces để cài đặt card mạng. Lỗi này trong Ubuntu 9.04 và openSUSE cũng bị.
  3. Kết nối được Internet xong, cài được phần mềm từ repositories nhưng Firefox lại không vào các trang web được.
  4. Điểm dở nhất (đối với tôi) là Ubuntu 9.10 dùng trình bootloader Grub version 2 (Grub 2) thay cho Grub 1 mà các bản Linux hiện đang dùng (kể cả Ubuntu 9.04). Trình này nhận biết các bản Linux khác ngoài dòng Ubuntu (như Mandriva, PCLinuxOS, …) rất kém, do đó boot menu do nó tạo ra không boot được các bản Linux nói trên. Thay cho file /boot/grub/menu.lst sửa rất dễ của Grub 1, Grub 2 dùng file /boot/grub/grub.cfg khá phức tạp, không cho sửa kể cả với quyền root.
  5. Khi khởi động, Grub 2 tải lâu hơn hẳn Grub 1, mặc dù sau đó quá trình khởi động của Ubuntu khá nhanh.

Vì đây chỉ là bản beta nên hy vọng là khoảng 20 ngày nữa sẽ khá hơn. Tôi thường cài vài bản Linux trên máy nên lỗi trên là khá khó chịu vì sau khi cài Ubuntu không boot được vào các bản khác.

Rắc rối vì một cái link!

Cuối cùng thì sự cố blog zxc232.wordpress.com của tôi bị khóa bất thình lình cũng kết thúc tốt đẹp, blog được mở lại. Chia sẻ với mọi người nguyên nhân để cùng rút kinh nghiệm:
Sau khi blog bị khóa, tôi cũng tìm được chỗ gửi mail cho bộ phận support của WordPress tại đây. Khoảng một ngày sau thì nhận được mail “Sorry for that” và cho biết nguyên nhân vì trong một bài viết tôi có dẫn link của một công ty phần mềm có nhiều rắc rối gì đó với wordpress.com: “That site has caused us many problems in the past”. Sau khi tôi đề nghị xóa hộ link đó thì mọi việc OK.
Như vậy theo tôi hiểu thì trên wordpress.com có một phần mềm kiểm duyệt tự động dò tìm theo một danh sách đen (blacklist). Blog nào có dẫn link trong danh sách đen đó là tự động bị khóa!
Nếu trong danh sách đen đó có các site sex hoặc spam comments hoặc phát tán malware … thì còn hiểu được. Cái site tôi dẫn link là của một công ty phần mềm không hiểu có ân oán giang hồ gì với WordPress? Mà các blogger làm sao biết được điều đó? Tôi không dám viết lại cả tên công ty đó ở đây, sợ cái phần mềm cảnh sát kia nó lại cho mình tiêu lần nữa, bạn nào quan tâm có thể xem ở đây (nó là cái link … Linux Data Recovery ở gần cuối bài).
Cũng vì thế nên khi tôi tạo blog mới tại WordPress rồi import các posts từ Blogger sang (trong đó có bài chứa cái link nói trên) là bị phần mềm cảnh sát tự động khóa luôn, không phải lỗi khi import Blogger nói chung.
May mà trước dó ít lâu tôi đã phòng ngừa theo cách ở đây., giả sử có bị khóa hẳn thì cũng không đến nỗi mất hết.
Xét cho cùng thì cũng tại mình ngu. Suốt ngày đi dạy bảo mọi người là dùng máy tính thì phải nhớ sao lưu dữ liệu mà lại quên là trên Internet cũng phải thế! Bài học Yahoo 360 là điển hình, may mà tôi không lâp blog trên đó.
Cách làm nói trên chỉ dự phòng được blog nhưng địa chỉ blog thì chưa. Vì vậy tôi đăng ký cái http://zxc232.tk , bạn hãy vào blog của tôi theo địa chỉ đó. Hiện tại nó dẫn đến zxc232.wordpress.com, nếu trục trặc thì nó sẽ trỏ sang blog mirror.
Nhưng nếu site dot.tk cũng chết thì sao? Cách chắc nhất là bỏ tiền đăng ký hẳn một địa chỉ Internet, nhưng blogger hình như mới có nhà báo Osin làm việc đó.

Vài ấn tượng ban đầu với Mandriva 2010.0 KDE RC1 và Kubuntu 9.10 Beta

Cuối tháng 10 hai bản Linux mà tôi quan tâm sẽ ra đời phiên bản mới: Ubuntu 9.10 và Mandriva 2010.0. Sau đó ít lâu sẽ là các bản Linux Mint 8 (dựa trên Ubuntu) và PCLinuxOS 2010 (dựa trên Mandriva).
Mandriva 2010.0 RC1: hiện đã có bản RC1, đến 3/11 là bản chính thức.

  • Cài đặt trơn tru, không gặp trục trặc gì về nhận biết phần cứng (đã cài thử trên vài máy).
  • Dùng các phần mềm mới nhất: kernel 2.6.31, KDE 4.3, OpenOffice 3.1, Firefox 3.5.3. Đặc biệt, làm việc tốt với card màn hình Intel, không bị lỗi như bản 2009.1. KDE 4.3 đẹp, chạy nhanh, và nhiều tính năng hơn bản 4.2. KDE4 hiện có vẻ đã đủ độ chín.
  • Kernel 2.6.31 đã hỗ trợ chuẩn USB 3.0 tốc độ 5Gbits/s nhanh hơn 10 lần USB 2.0 hiện nay. Thiết bị hình như cũng đã bắt đầu có. Hiện tại, Linux là hệ điều hành đầu tiên hỗ trợ chuẩn này.
  • Gõ tiếng Việt tốt với scim-unikey 0.3.1 nhưng cài scim thì hơi trục trặc, không trơn tru như các bản Mandriva cũ. Hy vọng lỗi này sẽ hết trong bản chính thức.
  • Từ bản 2009.1, Mandriva có chế độ ghi file iso vào USB để cài, không cần burn vào đĩa CD nữa. Download file mandriva-seeds.sh tại đây (ở cuối danh sách), sau đó chạy file trong terminal và theo hướng dẫn. Khi cài chọn chế độ boot từ USB.
  • Vẫn như cũ, Mandriva ưu tiên cho các phần mềm khác đưa vào file cài đặt, nên muốn cài máy in phải tải về khoảng 280MB phần mềm nữa.
  • Dùng thử khoảng 1 tuần, chạy khá ổn, nhưng không nhận được máy in Canon 1210 (các đời trước nhận ngon kể cả khi chưa có driver CAPT).

Kubuntu 9.10 Beta:

  • Trình cài đặt mới, đẹp hơn và dễ nhìn các partition hơn bản cũ.
  • Cũng dùng các phần mềm mới nhất KDE 4.3.1, OpenOffice 3.1.1. Riêng trình duyệt mặc định vẫn là Konqueror, nhưng có thể cài thêm Firefox. KDE4.3 chạy khá nhuyễn không như các bản Kubuntu trước. Đặc biệt có sẵn một số Plasma Widget kết nối với Google Calendar, Flick, Facbook, Twitter,…
  • Tích hợp với bộ công cụ GTK+ nên các ứng dụng GNOME có giao diện giống KDE hơn và tùy biến được.
  • Thử cài trên notebook được, nhưng trên hai máy để bàn thì thua: một máy không boot được vào chế độ LiveCD, một máy thì ngừng ở chổ copy package list. Hai máy này cài Mandriva 2010.0 RC1 đều được. Để khi có bản chính thức thử lại xem sao.

Mã độc nguồn mở!

Why malware writers are turning to open source

Nick Heath – 2009/09/21 11:19:02

Những kẻ viết mã độc (malware) đang nguồn mở hóa sản phẩm của mình để cải tiến nó tốt hơn.

Bằng cách cho người khác truy cập tự do vào mã nguồn của các loại mã độc (malware) chuyên ăn trộm thông tin cá nhân và thông tin tài chính, các tác giả của những mã độc đó hy vọng sẽ mở rộng được tính năng của nó so với các loại trojan thông thường.

Theo Candid Wuest, nhà nghiên cứu của Symantec, khoảng 10% thị trường trojan hiện nay được nguồn mở hóa. Việc chuyển sang mô hình nguồn mở cho phép các kẻ tội phạm bổ xung được tính năng cho các mã độc của chúng.

"Ưu điểm là có nhiều người tham gia vào phát triển một mã độc hơn là chỉ có tác giả, nếu người đó chuyên về mã hóa, họ sẽ bổ xung tính năng mã hóa (để tránh bị các chương trình diệt virus phát hiện), kẻ chuyên về video streaming có thể bổ xung tính năng streaming từ xa," Wuest nói.

Việc nguồn mở hóa các trojan bắt đầu từ năm 1999 khi nhóm Dead Cow công bố mã nguồn của trojan Back Orifice. Gần đây, những tác giả của Limbo Trojan cũng công bố mã nguồn để đẩy nhanh việc sử dụng nó bởi những kẻ lừa đảo trên mạng.

Sau khi ra đời năm 2007, Limbo Trojan trở thành trojan được sử dụng rộng rãi nhất thế giới nhưng tới năm 2008 thì mất ngôi vị đó sau khi Zeus Trojan tinh vi hơn xuất hiện. Trở thành trojan thống trị trên thị trường đem lại cho tác giả của chúng rất nhiều tiền: các máy bị nhiễm và các thông tin cá nhân, tài chính mà trojan đánh cắp được trị giá hàng triệu đô la trên thị trường đen. Limbo Trojan trước đây được bán cho những kẻ lừa đảo trên mạng với giá 350USD, trong khi Zeus Trojan hiện nay có giá từ 1000 đến 3000USD.

Tuy nhiên người đứng đầu bộ phận công nghệ mới của hãng an ninh mạng RSA là Uri Rivner cho biết việc nguồn mở hóa không cứu vãn được vị trí suy đồi của Limbo Trojan.

"Chúng chuyển sang mô hình kinh doanh hệt như các dự án phần mềm nguồn mở khác: cho không phiên bản cơ bản, bán phiên bản tiên tiến hơn hoặc dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp hoặc dịch vụ cá biệt hóa theo yêu cầu khách hàng. Lúc mới nguồn mở hóa thì đó là tin nóng, nhưng từ đó "khách hàng" ngừng mua nó. Nó không còn là trojan tốt nhất nữa, nhưng vì nó là phần mềm nguồn mở nên những kẻ tội phạm trên mạng có thể thử dùng nó như công cụ đầu tay"

Tính phổ biến của Limbo tiếp tục giảm mặc dù có nhiều tính năng mới được bổ xung cho phép kẻ tội phạm có thể thêm các trường phụ vào mã PIN để đánh lừa các website của ngân hàng, thu thập danh sách các phím đã gõ và các file đã lưu trên máy tính bị nhiễm trojan.

Và trong khi việc nguồn mở hóa không mang lại may mắn cho Limbo, nó còn tạo ra thêm vấn đề cho những kẻ lừa đảo trên mạng: các công ty an ninh mạng cũng có mã nguồn của nó.

Đại đa số trojan lây nhiễm bằng con đường download: nó tự động được tải về máy khi bạn mở một website đã nhiễm độc, hoặc một thông báo của một mạng xã hội thúc dục mọi người tải về một bản cập nhật an ninh nhưng thực ra đó là một trojan.
Các phương pháp lây nhiễm đó tỏ ra hiệu quả hơn các kỹ thuật trước đây như gửi một email có link đến file đã nhiễm hoặc có file đính kèm chứa trojan.
Các nhà phân tích của RSA nói phương pháp mới đã tăng số lần lây nhiễm theo cấp số nhân: tháng 8/2008 hãng chỉ phát hiện được 613 lần lây nhiễm, tháng 8/2009 là 19.102

Thiết kế kiến trúc hệ thống mở

Đọc hai bài báo gần đây (bài 1bài 2) cũng thấy mừng cho ngành Công nghệ Thông tin nước nhà bắt đầu đi vào nề nếp. Đây cũng là vấn đề tôi ấp ủ nhưng chưa làm được, xả ra trên blog vậy.

Cách đây khoảng 3 năm, đặt vấn đề với FIS về “Thiết kế kiến trúc hệ thống” theo một framework có sẵn còn thấy ngơ ngác, đưa cho cái link TOGAF thì tấm tắc khen hay. Vậy mà bây giờ đã có người đỗ chứng chỉ! Tuy nhiên đây là một công việc khá khó, khối lượng lớn, một người e rằng quá ít.

Ngay cả việc bộ Ngoại giao giao cho Microsoft thiết kế kiến trúc chuẩn cũng là việc đáng bàn. Nhưng cái đó để sau.

Vậy thì “Kiến trúc hệ thống” tạm dịch từ “Enterprise Architecture” là cái gì?

Khi xây một cái nhà, bước đầu tiên là thiết kế kiến trúc (nếu cả một khu nhà lớn thì trước đó còn có cả quy hoạch nữa). Thiết kế kiến trúc xong mới đến thiết kế xây dựng, thiết kế thi công và thiết kế hoàn công nữa.

Xây một hệ thống thông tin lớn cũng vậy. Kiến trúc của một tổ chức được định nghĩa theo ISO/IEC 42010:2007 là:

“Tổ chức cơ bản của một hệ thống thể hiện trong các bộ phận cấu thành, quan hệ giữa các bộ phận với nhau và với môi trường ngoài và trong các nguyên tắc chỉ đạo việc thiết kế và phát triển các bộ phận đó”

"The fundamental organization of a system, embodied in its components, their relationships to each other and the environment, and the principles governing its design and evolution."

Kiến trúc hệ thống đại thể có các hạng mục lớn sau:

  1. Kiến trúc nghiệp vụ (Business Architecture): xác định chiến lược hoạt động của tổ chức, cách quản lý, hệ thống tổ chức và các hoạt động nghiệp vụ chính.
  2. Kiến trúc ứng dụng (Application Architecture): là bản thiết kế (đến mức nào?) các ứng dụng, tương tác giữa chúng với nhau và quan hệ của chúng với các hoạt động nghiệp vụ chính của tổ chức.
  3. Kiến trúc dữ liệu (Data Architecture): mô tả cấu trúc các kho dữ liệu logic và vật lý của tổ chức và các tài nguyên dùng quản lý dữ liệu.
  4. Kiến trúc công nghệ (Technology Architecture): mô tả hạ tầng phần mềm để khai triển các ứng dụng quan trọng, cốt lõi của hệ thống.

Mục 1 là trách nhiệm các nhà lãnh đạo, mục 2 và 3 có khi được gọi chung là Kiến trúc hệ thống thông tin (Information System Architecture).

Khối lượng công việc thiết kế như trên rất lớn và rất phức tạp. Vì vậy cần phải có một quy trình thiết kế tiêu chuẩn và vô số công cụ hỗ trợ gọi chung là Phương pháp kiến trúc (Achitecture Framework).

Phương pháp kiến trúc là một công cụ dùng để phát triển các kiến trúc bao gồm:

  • một phương pháp thiết kế hệ thống thông tin gồm nhiều bộ phận có tương tác với nhau
  • một bộ các công cụ thiết kế và một từ điển thuật ngữ thống nhất.
  • một danh sách các tiêu chuẩn nên dùng
  • một danh sách các sản phẩm thoả mãn chuẩn có thể dùng để xây dựng nên các bộ phận của hệ thống thông tin.

Nói nôm na nó là bản hướng dẫn từng bước thiết kế kiến trúc như thế nào.

Cái framework này rất quan trọng để có được một thiết kế đúng, hợp lý, thống nhất chung cho toàn hệ thống. Vì vậy chính phủ một số nước cũng như các bộ quốc phòng Anh, Mỹ và thậm chí NATO đều ban hành framework chuẩn cho hệ thống của mình (xem thêm). Các công ty và các loại tổ chức khác thì có thể chọn một trong các frameworks phổ biến để áp dụng.

TOGAF (The Open Group Architecture Framework) là một framework do tổ chức Open Group xây dựng. Open Group là một consortium độc lập với công nghệ và nhà cung cấp có mục tiêu hỗ trợ truy cập thông tin tích hợp bên trong và giữa các tổ chức dựa trên các chuẩn mở và tính tương tác toàn cầu (The Open Group is a vendor- and technology-neutral consortium, whose vision of Boundaryless Information Flow™ will enable access to integrated information within and between enterprises based on open standards and global interoperability.) Thành viên của Open Group có các đại công ty như HP, IBM, HSBC, các trường, viện, và các tổ chức, cá nhân khác.

Phiên bản 1 của TOGAF ra đời năm 1995 trên cơ sở framework TAFIM của bộ quốc phòng Mỹ. Phiên bản 9 là mới nhất hiện nay. Tài liệu được công bố công khai trên mạng và có thể tải về dùng nội bộ miễn phí (dùng thương mại, thiết kế kiếm tiền thì phải trả tiền).

Mỗi bản TOGAF là một tài liệu dài cỡ 300 trang mô tả rất chi tiết các khái niệm, các bước thiết kế cụ thể, các tiêu chuẩn, form mẫu, các công cụ hỗ trợ. Xem thoáng qua thì rất hay và rất thích nhưng hiểu được thì … chết liền, mất khá nhiều thời gian và nơ ron thần kinh mà cũng chưa chắc đã hiểu, chưa nói đến ứng dụng!

Điểm hay của TOGAF là nó vô tư (độc lập với công nghệ và nhà cung cấp, dựa trên các chuẩn mở), tài liệu rất chi tiết, có diễn đàn hỗ trợ, nói tóm lại là nó mở. Ai đã từng làm thiết kế đều biết cửa ăn hoa hồng dễ nhất là trói thiết kế vào sản phẩm.

Bởi vậy, tôi mới thấy băn khoăn về cái thiết kế của bộ Ngoại giao. Có nên tin vào tính vô tư của Microsoft hay không?

Hãng phim DreamWorks dùng đám mây điện toán của Red Hat để giảm chi phí làm phim.

DreamWorks uses Red Hat cloud to cut filmmaking costs

spacer.gif By Pam Derringer, News Contributor
10 Sep 2009 | SearchEnterpriseLinux.com spacer.gif

zxc232 lược dịch

(Làm phim hoạt hình tốn công suất máy tính dễ sợ. Xem thêm về Hollywood dùng Linux tại đây)

Công ty phần mềm nguồn mở Red Hat đang thảo luận với hãng phim DreamWorks về việc dùng đám mây điện toán chạy trên Red Hat Linux để sản xuất bộ phim hoạt hình nổi, ba chiều đầu tiên trên thế giới trong năm nay.

Đám mây điện toán của Red Hat cùng với các phần mềm dựng phim mới nhất sẽ giúp dựng bộ phim hoạt hình “Cuộc chiến giữa các con quỷ và người ngoài hành tinh” có những cảnh hoàng tráng như cảnh sụp đổ của cầu treo Cổng Vàng tại San Francisco.

Các hiệu ứng đặc biệt sẽ làm cho dự án phim này tốn đến 40 triệu giờ công, chi phí gấp 8 lần bộ phim Shrek nổi tiếng và hoàn thành trong 2 năm.

Linh hoạt hơn.

Điện toán đám mây là yếu tố then chốt để làm phim nhanh hơn và hiệu quả hơn, cho phép DreamWorks có được năng lực máy tính phù hợp lúc ổn định cũng như lúc cao điểm, giảm yêu cầu nhân vi xử lý (core) từ 21.000 xuống 16.000. Điện toán đám mây cung cấp dịch vụ linh hoạt hơn các dàn máy chủ, cho phép chia nhỏ các đoạn phim gửi đồng thời cho 40 nhân xử lý, tự động hóa được một số công việc trước đây phải làm thủ công, giảm thời gian quay vòng từ 4 giờ xuống còn vài phút.

Ứng dụng ảo hóa trong đám mây điện toán cũng cho phép DreamWorks xử lý tách biệt các công việc, đo lường được mức độ sử dụng tài nguyên tính toán và kiểm tra được trạng thái từng việc, do đó giảm thời gian dựng phim.

Cơ sở máy tính của DreamWorks là một mạng lưới máy chủ xây dựng đã 10 năm gồm hơn 20.000 nhân vi xử lý phân bổ trong 4 trung tâm dữ liệu nối với nhau bằng hơn 20.000 km cáp đôi gigabit (trừ trung tâm đặt tại Bangalor, Ấn độ). Mặc dù vậy, DreamWorks luôn phải đối mặt với những “thách thức khó chịu” về thiếu băng thông và mật độ I/O cao khi chuyển dữ liệu vào ra mạng lưới điện toán của họ.

Red Hat đã giải quyết được các khó khăn đó bằng việc ảo hóa nhân hệ điều hành, quản lý ảo hóa, phối hợp các ứng dụng và tạo các lớp đám mây trừu tượng (kernel virtualization, virtualization management, the application orchestration and cloud abstraction layers).

Tủ áo của Linux

8 Great Alternative Desktop Managers For Linux

Nov. 17th, 2008 By Damien Oh
Lược dịch Zxc232 (chữ nghiêng là lời người dịch)

Trong một post trước đã giới thiệu hai bộ áo thông dụng nhất của Linux: KDE và GNOME. KDE4 (bản mới nhất là 4.3 vừa ra đời) là bộ áo dạ hội, lộng lẫy, màu sắc và cũng lỉnh kỉnh nhiều phụ tùng. Một trong những tính năng hay của KDE4, nhất là ở bản 4.3, là notification (thông báo): di chuột vào đâu cũng có màn hình thông báo xuất hiện, mạng bị đứt hay nối lại đều có thông báo nhanh với đầy đủ thông tin. KDE3 và GNOME là bộ áo đi làm, đủ tính năng và chạy nhanh trên các máy tính thông dụng hiện thời.

Nhưng nếu máy cấu hình yếu hoặc muốn nhanh hơn thì hãy thử một trong các bộ áo dưới đây.

1. XFCE

xfce- desktop manager linux

Xfce là môi trường đồ họa nhẹ cho các hệ điều hành kiểu unix. Nó nhằm vào mục tiêu nhẹ và nhanh nhưng vẫn đủ trực quan và dễ sử dụng. Xfce viết bằng bộ công cụ GTK2+ cũng như GNOME, vì vậy ai quen GNOME sẽ thấy Xfce thân thuộc.

Xfce có điểm hay là tùy biến được toàn bộ như KDE và GNOME. Toàn bộ gói Xfce được chia thành nhiều dự án cho từng phần khác nhau của màn hình desktop. Vì vậy có thể cài đặt toàn bộ hoặc chỉ cài những phần tùy chọn và tùy biến theo ý thích.

Các bản Linux phổ biến hầu như đều có một phiên bản riêng dùng Xfce, ví dụ Xubuntu. Bản Xubuntu 9.04 chạy nhanh và cũng khá đẹp.

2. Enlightenment

enlightenment linux

Enlightenment là bản đồ họa desktop nhẹ mà tôi thích nhất. Nó có tính cách mạng, nhìn hấp dẫn và cực dễ dùng. Trong khi hầu hết các bản đồ họa desktop khác bỏ các hiệu ứng đồ họa để giảm yêu cầu về phần cứng, Enlightenment làm ngược lại. Bạn sẽ ngạc nhiên thấy nó có thể chạy trơn tru, đẹp đẽ ngay cả trên các máy cấu hình thấp.

Khi lần đầu log in vào, bạn sẽ ngạc nhiên vì không thấy menubar, panel hoặc icon trên màn hình, tất cả chỉ có một màn hình màu đen và một pager ở đáy màn hình. Kích vào chỗ bất kỳ trên màn hình sẽ có menu xuất hiện. Di chuyển chuột hoặc cuộn bánh xe sẽ thấy các cửa sổ đã thu nhỏ trong pager hiện lên với hiệu ứng đồ họa. Lúc đầu giao diện kiểu này hơi khó dùng nhưng nếu bạn đã quen thì sẽ không muốn dùng các loại đồ họa desktop khác nữa.

3. FVWM-Crystal

fvwm-crystal

Nếu bạn thích các eye-candy, bạn sẽ thích FVWM-Crystal. FVWM-Crystal dựa trên trình quản lý cửa sổ FVWM. Nó giữ nguyên tính linh hoạt và khả năng tùy biến cao của FVWM, bổ xung nhiều cải tiến vào giao diện. Kết quả là có một giao diện đẹp, các cửa sổ nửa trong suốt và nhiều eye-candy.

Trong số các bản đồ họa desktop, FVWM-Crystal có tốc độ nhanh nhất khi khởi động hoặc mở ứng dụng. Nó tích hợp tốt với XMMS, XMMS2, MPD, Quod Libet và cdcd. Nếu bạn tìm một bản đồ họa desktop đẹp có thể link với music server dễ dàng thì FVWM-Crystal đúng là cái bạn cần.

4. LXDE

LXDE

Là một người đã có kinh nghiệm với GNOME và KDE, tôi thấy LXDE rất dễ dùng. Lý do là vì LXDE là phiên bản nhẹ của GNOME và KDE tổ hợp với nhau. Đáy màn hình có panel giống KDE và giao diện thì theo kiểu GNOME nên không có gì mới phải học. Nếu bạn có máy tính cấu hình yếu và không muốn xa rời KDE hoặc GNOME thì LXDE là lựa chọn tốt.

Ai muốn xem LXDE có các hiệu ứng Compiz, cửa sổ bay tá lả có thể thử bản Linux Knoppix.

5. IceWM

icewm

IceWM đơn giản và có khả năng tùy biến cao (mới nhìn thì xấu). Tất cả các thiết lập lưu trong một file text đặt trong thư mục home của user nên dễ cấu hình và sửa.

Nếu thích một giao diện giống Windows 95, có thể tạo nó trên IceWM. Cũng có thể dùng các theme khác để làm nó giống Windows Vista, Mac OS hoặc bất kỳ thứ gì bạn muốn.

6. Fluxbox

fluxbox

Fluxbox là môi trường đồ họa cực tiểu vì nó hỗ trợ tối thiểu đồ họa và chỉ có một taskbar. Muốn cho hiện menu thì kích phím phải chuột. Giao diện có thể thay bằng các theme khác được, phần lớn settings đặt trong các file text có thể sửa dễ dàng.

7. Window Maker

windowmaker

Window Maker là một trong số ít bản đồ họa desktop có công cụ đồ họa để cấu hình các thiết lập hệ thống. Công cụ đó (Wprefs) dễ dùng, tránh việc sửa file cấu hình và giúp cho user (dù là người mới hay đã có kinh nghiệm) dễ dàng cấu hình và chỉnh sửa được các thiết lập hệ thống.

Cũng như Fluxbox, Window Maker là bản đồ họa desktop tối thiểu. Trên cả màn hình chỉ có 4 icons trong đó một cái để mở terminal, một cái để chạy Wprefs. Nhấn phím phải chuột, menu chính sẽ xuất hiện.

8. AfterStep

afterstep

Ban đầu dựa trên giao diện NeXTStep, AfterStep là một bản đồ họa desktop nhất quán, thoáng và đẹp có thể chạy trên các máy cấu hình thấp. Cũng như các bản đồ họa desktop nhẹ khác, nó nhanh, ổn định, dễ dùng và dễ cấu hình.

Ngoài những cái nêu trên, còn nhiều nữa. Xem thêm tại đây.

Cài đặt:

Để dễ phổ biến (lưu được trong một đĩa CD), các bản Linux gốc chỉ có một môi trường đồ họa (Ubuntu dùng GNOME, Kubuntu dùng KDE, Xubuntu dùng Xfce, v.v…..). Có thể cài thêm các bản đồ họa desktop khác mà không ảnh hưởng gì đến bản gốc cả, trừ việc menu có thể nhiều chương trình hơn. Nếu có sẵn trong kho phần mềm (thường là dưới dạng meta package) thì cài dễ nhất. Kho của Mandriva có nhiều graphical desktop nhất. Còn nếu không phải hỏi cụ Gúc tìm đến site gốc tải về cài.

KDE 4.3 có thể cài lên Ubuntu theo các hướng dẫn ở đây. hoặc ở đây.

Sau khi cài xong, log out ra rồi chọn theo hướng dẫn ở đây.

Không quân Úc đào tạo phi công bằng thiết bị nguồn mở

Không quân Úc chi 1,7 triệu USD cho thiết bị mô phỏng bay dùng Linux

Đăng trên itnews.com.au
By Munir Kotadia
Aug 31, 2009 6:08 AM
Tags: defence | linux | opteron | flight | simulator

Nền đồ họa cũng là nguồn mở

Lực lượng quốc phòng Úc (The Australian Defence Force-ADF) đã tiết lộ thiết bị mô phỏng bay mới nhất chạy trên cụm máy chủ (clusters) dùng bộ xử lý Operon của AMD, hệ điều hành Suse Linux và một môi trường đồ họa nguồn mở.

Thiết bị này tạo nên một thế giới ảo cho phép các phi công trải nghiệm các tình huống chiến đấu thực mà không phải rời mặt đất.

Greg Combet, bộ trưởng Quân lực, Vật tư và Khoa học Quốc phòng nói thiết bị mới sẽ tạo ra “những kinh nghiệm thực và ảo cho các phi công và nhân viên điều hành bay”.

“Bằng cách tái tạo các hoàn cảnh thực tế trong một môi trường ảo, thiết bị cho phép diễn tập và đánh giá các hoạt động không chiến với chi phí giảm đi rất nhiều và không đặt các phi công vào những tình huống nguy hiểm”

Người phát ngôn bộ Quốc phòng cho biết thiết bị sẽ khởi động trong 30 giây, dùng cụm máy chủ Opteron 2218 4 lõi, card màn hình nVidia Quadro FX 5600G. Các bộ mô phỏng bay và khí động học chạy trên nhiều máy chủ dùng bộ xử lý Opteron 8 lõi.

Tất cả các máy chủ trong cụm (cluster) chạy hệ điều hành Suse Linux. Khác với các cụm máy chủ Linux truyền thống tập trung vào thông lượng dữ liệu, cụm máy chủ này chú trọng đến tốc độ đáp ứng theo thời gian thực bằng cách dùng các tính năng của nhân Linux như khóa bộ nhớ (memory locking), lập lịch thời gian thực (real-time scheduling) và truyền dữ liệu có độ trễ thấp (low-delay communication).

Phần mềm quan sát được viết trong OpenGL dùng các engine đồ họa nguồn mở và đóng, dựa rất nhiều vào các chương trình OpenGL Shader Language để tạo các hiệu ứng như các đám mây, khói và cây cối.

OpenDiscovery- bản Linux dành cho sinh học phân tử

Open Discovery là một bản Linux dựa trên nền Fedora dành riêng cho sinh học phân tử. Nó có các công cụ phần mềm để phân tích chuỗi DNA, xem cấu trúc protein và cấu trúc hóa học, mô hình hóa phân tử, động học phân tử, v.v.. (chi tiết xem thêm và tải về tại đây). OpenDiscovery hỗ trợ các máy tính nhiều processors để tăng tốc các quá trình tính toán và hỗ trợ các ngôn ngữ lập trình phổ biến trong lĩnh vực sinh học phân tử như PERL và PYTHON.

screenshot-5

Những ai hay chống Linux nhất?

Nếu bạn chỉ vọc Linux cho riêng mình thì thôi. Nếu bạn lại muốn phổ biến tuyên truyền điều mình ham thích thì dưới đây là những đối tượng bạn nên tránh.

Chống lại Linux mạnh nhất, kiên quyết nhất lại chính là dân tin học. Các giám đốc công ty tin học lớn nhỏ, các “chuyên gia” tin học kỳ cựu, các “cử nhân” tin học vất vả mãi mới tốt nghiệp được đều nhìn Linux với con mắt đầy căm thù, hằn học và sợ hãi.

Vì Linux đe dọa cái cần câu cơm của họ! Điều đó hoàn toàn có thể hiểu và thông cảm được.

Và sự chống đối của họ thường có hiệu quả cao đối với những người ngoại đạo do cái “mác” mà họ có và những lời lẽ “uyên bác” đầy những từ ngữ kỹ thuật. Tôi đã từng được đọc những bản tư vấn chống lại opensource của các “chuyên gia” VNPT thuộc loại này, từng được nhận những cái bĩu môi khinh bỉ kèm theo những lời vàng ngọc của các cây đại thụ trong hội Tin học đất nước và thủ đô!. Những chuyên gia của văn phòng đại diện Microsoft thì phản ứng khá hơn nhưng cũng là nông nổi.
Tất cả đều có một điểm chung là không ai hiểu gì về Linux, opensource cả! Trước nguy cơ đe dọa, họ vội vã thu góp các thông tin thậm chí chỉ là nghe thoáng qua không thèm hỏi lại cụ Gúc nữa để tung ra phản công.

Và những lý lẽ của họ thật khôi hài!

Trong hàng ngũ những người sử dụng, chống Linux hăng nhất là những người trước đây bắt buộc phải học Windows, trầy trật mãi mới tạm biết sử dụng, tiếng Anh cũng không thạo. Bây giờ lại phải chuyển qua Linux thì thật kinh hoàng! Thuộc loại này thường là lớp cán bộ già và cũng có cả cán bộ trẻ nhưng IQ thấp (chú ý là tôi không vơ đũa cả nắm, “thường là” thôi nhé).

Cán bộ già mà chống thì thật đáng sợ vì thường có chức, có quyền, học hàm, học vị đầy người, ăn nói có gang có thép. Những ý kiến quý báu như thế này : “Kubuntu không dùng giao dịch quốc tế được”, “Phần mềm nguồn mở rất kém an toàn, chẳng có ai chịu trách nhiệm cả”, “Thì giờ đi học Linux để làm những cái cần thiết hơn” v.v. và v.v không phải là hiếm. Đụng phải đối tượng này, bạn là nhân viên dưới quyền có thể thân bại, danh liệt.

Trước đây dùng Windows, nếu gặp lỗi hoặc không biết làm thì tự biết là mình kém không dám đổ cho ai. Nhưng nếu dùng Linux, bất kỳ trục trặc lớn nhỏ là đổ hết lên đầu Linux, khi kiểm tra ra mới biết là không thạo sử dụng máy tính nói chung, nếu dùng Windows thì cũng trục trặc như thế. Đường Internet đứt, không vào được mạng, tại Ubuntu; bảng tính sai kết quả do chính công thức sai, cũng tại Ubuntu nốt. Thậm chí máy in chưa bật, không in ra được cũng tại Ubuntu luôn cho tiện!

Có những cán bộ già vẫn mang đầy hoài niệm về thời trẻ oai hùng là học sinh chuyên toán mà bây giờ cũng nhìn Linux đầy ngần ngại. Chẳng ai chống được tuổi tác và ông Trời!
Khác với lớp người trên, những người này chống không phải vì sợ mất cần câu cơm mà xuất phát từ bản năng “tiết kiệm năng lượng” hay nói một cách thô thiển là bản năng “lười” của con người. Đối với một số người là ám ảnh của ký ức đầy gian khổ của thời buộc phải học Windows nữa. Đang yên ổn, chẳng ai muốn thay đổi.
Nhưng các cụ đã dạy rằng “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” mà nhiều người không chịu theo.

Nhưng cũng có một phần là do thiếu thông tin.
Chính bản thân tôi ban đầu lao vào Linux là do “ham của lạ”. Chỉ sau này tìm hiểu kỹ hơn mới giật mình là trước đây mình ngu quá. Ngay bộ ngoại giao Mỹ mà còn cho rằng Dùng Firefox tốn kém lắm thì còn trách ai được. Trên các phương tiện truyền thông chỉ lơ thơ vài ba tin. Ngay cái site “Phần mềm tự do nguồn mở” của bộ Khoa học Công nghệ có nội dung thật đáng thất vọng.
Lớp người tiếp thu nhanh nhất là lớp trẻ có chỉ số IQ khá, tư duy thoáng và cởi mở, không ngại những cái mới nói chung (trừ loại có IQ thấp, lười và mua bằng ra nhé). Để tự tìm hiểu và sử dụng được Linux cho những nhu cầu thông thường, lớp người này thường chỉ cần mất vài ngày. Và đấy là lực lượng bạn nên dựa vào nếu muốn tuyên truyền phổ biến về Linux.
Chia sẻ những kinh nghiệm trên để bạn tránh, không phải để bi quan. Nếu như gần đây chính Microsoft còn phải công khai nhìn nhận sự đe dọa của Linux thì không ai có thể cản bánh xe lịch sử được. Bạn không phải Đông Ki sốt mà là Kim Ngọc của một trào lưu mới.

Zimbra – bộ phần mềm cộng tác nguồn mở

Zimbra nguyên là một công ty độc lập về phần mềm nguồn mở được Yahoo mua lại năm 2007.  Điều đó cũng chứng tỏ sản phẩm của công ty được đánh giá cao. Theo quảng cáo trên site của hãng thì hiện có 60.000 tổ chức và 40 triệu mailbox đang dùng Zimbra.

Screenshot-1

Zimbra Collaboration Suite là bộ phần mềm cộng tác gồm cả phần mềm chạy trên máy chủ và máy trạm có các đặc điểm, tính năng chính sau:

  • Thư điện tử: một hệ thống thư điện tử hoàn chỉnh gồm Mail server (SMTP, POP3, IMAP, antivirus, antispam, openLDAP, backup, …, có đầy đủ các tính năng như auto-reply, auto-forward, mail filter, …) và Mail client (Zimbra desktop và Zimbra Web Client).
  • Lịch công tác (calendar): lịch cá nhân và lịch nhóm, tự động gửi mail mời họp,…
  • Sổ địa chỉ (Contacts): sổ cá nhân và sổ chung của nhóm
  • Danh mục công việc (Task): của cá nhân và nhóm.
  • Tài liệu (Documents): tài liệu dưới dạng wiki của cá nhân hoặc soạn tập thể
  • Cặp hồ sơ (Briefcase): lưu file dùng riêng hoặc chung.
  • Chat: chat nội bộ trong mạng LAN hoặc trên Internet.
  • Tất cả các mục trên đều có phần chạy trên máy chủ (nằm trong Zimbra Server), lưu trên máy chủ để có thể dùng chung được truy cập được từ bất kỳ đâu có Internet. (nếu cài trên máy chủ có Internet). Các mục đó đều có khả năng share (kể cả các thư mục email: Inbox, Sent) cho người khác dùng chung.
  • Zimbra có hai phần mềm client: Zimbra desktop và Zimbra Web client là giao diện với người dùng. Zimbra desktop (tương tự như Outlook, KMail,…) cài được trên Windows, Mac, Linux. Ngoài ra có thể dùng các mail client khác như Outlook, Evolution, KMail, Thunderbird, … Hai loại mail client trên ứng với hai cách làm việc:
    • Làm việc online, dùng Zimbra web client. Mọi thông tin sẽ lưu trên máy chủ Zimbra. Zimbra Web Client có hai giao diện: dạng html thông thường, nhanh nhưng ít tính năng và dạng Ajax (tương tự Yahoo Mail). Zimbra Web Client là một trong những Web Client hoàn chỉnh nhất hiện nay (hỗ trợ hầu hết tính năng của Zimbra Server, kể cả chat).
    • Làm việc offline, dùng các mail client còn lại. Riêng Outlook, Apple Desktop và Evolution có thể đồng bộ email, calendar, contacts và task với máy chủ Zimbra, các mail clien khác chỉ dùng đọc và gửi email.
  • Zimbra cũng hỗ trợ làm việc với các điện thoại di động iPhone, Blackberry, …
  • Zimbra có một kho các Zimlet (một thứ tương tự các extensions của Firefox) mà các quản trị mạng có thể chọn cài để bổ xung tính năng. Mọi người có thể tự viết các Zimlet để kết nối hệ thống Zimbra với các hệ thống thông tin khác hoặc mở rộng tính năng. Đây có lẽ là một trong những điểm mạnh nhất và sẽ gây nghiện cho người dùng giống như các extensions của Firefox vậy.
  • Quản trị hệ thống qua giao diện web khá đầy đủ và chi tiết với nhiều tiện ích. Ví dụ có thể tạo hàng trăm account trong vài phút.

Zimbra có một bản opensource miễn phí và ba bản khác có thu phí. Bản đắt nhất là 35USD/user/năm cho 25 user đầu. Bản opensource có các tính năng sử dụng giống bản có phí, chỉ kém một số tính năng quản trị nhưng có thể bù đắp  bằng cách tự cài bổ xung và hoàn toàn có thể dùng bản opensource vào các hệ thống thật được.

Về kiến trúc bên trong, Zimbra vẫn sử dụng các bộ phần mềm chức năng (nguồn mở) phổ biến như OpenLDAP, Postfix, SpamAssassin, Amavisd, Tomcat, … cùng với một số phần mềm riêng tạo nên một hệ thống tích hợp chặt chẽ. Có thể không dùng OpenLDAP mà dùng Windows Active Directory, hoặc import user từ một máy chủ Exchange sang.

Hiện tại, Zimbra Server có các bản cài trên Red Hat, Fedora, CentOS, Debian, SUSE, Ubuntu và MacOS. Nếu chỉ cài trên một máy chủ độc lập thì cách cài đặt khá đơn giản và nhanh.

Zimbra có thể cài theo nhiều cấu hình khác nhau từ một hệ thống nhỏ vài chục account trên một máy chủ duy nhất cho đến hệ thống rất lớn hàng nghìn account trên nhiều máy chủ có các chức năng khác nhau. Có khả năng mở rộng (scalability) bằng cách thêm máy chủ dễ dàng.

Hiện đang chạy thử trên một cặp máy chủ clustering bằng drbd và heartbeat và chưa chê được điểm gì. Hoàn toàn có thể thay được cặp Exchange + Outlook (nhất là với trình độ sử dụng như hiện nay). Phải chạy thật và sau một thời gian mới có thể phát hiện xem có lỗi gì không.

gOS – một bản Linux nhẹ và đẹp

gOS là một bản Linux được xếp thứ 19/310 về mức độ quan tâm của người dùng trong 12 tháng qua tại site Distrowatch. Vì vậy tôi cũng thử qua xem thế nào.

Screenshot

gOS là sản phẩm của công ty Mỹ và Đài loan Good OS mới thành lập đầu năm 2007 mà nhiệm vụ chính là dựng các phần mềm cho điện toán đám mây (cloud computing). Hệ điều hành này đã được chọn cài trên netbook Everex gPC 199 USD bán trong chuỗi cửa hàng Wal-Mart tại Mỹ.

gOS dựng trên nền Ubuntu Hardy 8.04, phiên bản hiện tại là gOS 3.0 Gadgets. Bên trong thì không biết thế nào nhưng nhìn bên ngoài thì chủ yếu là sửa sang hình thức và cài thêm một số phần mềm (tự làm trên Ubuntu hoặc các bản Linux khác cũng được):

  • Hình thức sáng sủa và đẹp, sử dụng một theme riêng là gOS3_theme. Đáy màn hình có cài sẵn một docking bar là Wbar. Nhìn chung hình thức hơi “teen”.
  • Trên desktop có cài sẵn một số Google Desktop Gadgets. Cái này tự cài lên Ubuntu được và có thể chọn bổ xung ở đây. Ưu điểm của Google Desktop Gadgets là số lượng gadgets nhiều và phong phú.
  • Tích hợp với các sản phẩm của Google: GMail, Google Docs, Google Calendar, Google Finance, v.v… bằng cách dùng công nghệ Mozilla Prism để chạy các ứng dụng nói trên trong các cửa sổ Firefox riêng biệt, độc lập với nhau, không mở chung thành từng tab trong một trình duyệt. Do đó có thể: dành nhiều chỗ cho ứng dụng hơn trong một cửa sổ, tạo các shortcut riêng trong menu hoặc docking bar, khi một ứng dụng treo không ảnh hưởng đến cái khác. Trên Windows có thể cài Prism như một add-ons của Firefox dễ dàng, nhưng chưa có Prism for Linux. Có lẽ gOS dùng Prism qua wine.
  • Các thứ khác: cách cài đặt, phần mềm cài sẵn, kho phần mềm, tiện ích, … hệt như Ubuntu Hardy 8.04. Vẫn phải cài ubuntu-restricted-extra hoặc perfecbuntu (xem tại đây) để có đủ các thứ cần thiết khác. OpenOffice vẫn là bản 2.4. Bộ gõ tiếng Việt scim-unikey 0.3 cho Ubuntu 8.04 dùng tốt trên gOS.
  • Có cảm giác là nhẹ, chạy nhanh (có lẽ vì hướng vào netbook).

Hiện nay, Good OS đang xây dựng một hệ điều hành hơi đặc biệt là Cloud: hệ điều hành + trình duyệt web để hướng vào điện toán đám mây như đã nói trong một post trước.

Posted in Linux. Thẻ: . Leave a Comment »

Linux ảnh viện

Tại đây là nơi trưng bày ảnh chụp màn hình (screenshot) của một số khá lớn các bản Linux, kể cả các bản alpha, beta thường không có ảnh trên site chính thức. Có thể ngắm nghía trước khi quyết định tải về thử. Nếu theo ảnh ở đó thì bản Ubuntu 9.10 sắp tới không thay đổi gì về hình thức màn hình.

Còn đây là một bức chân dung của bản Ubuntu Thiên Chúa giáo (Ubuntu Chritian Editor 5.0). Tính chất Thiên Chúa giáo không chỉ ở ảnh nền desktop mà còn cả ở trong nội dung một số phần mềm chuyên biệt (học kinh, các lời răn,…).

desktop

Còn dưới đây là bản Ubuntu Hồi giáo (Ubuntu Muslim Edition 8.04.1)

screenshots

Trong đó có lịch cầu kinh Coran (hình như tới 6 lần một ngày mà phải quỳ hướng đúng về Thánh địa Mecca!):

screenshots2

Mà hình như không thấy … à có đây rồi. Search “ubuntu buddhism” thì lần ra một bản Ubuntu Phật giáo (Ubuntu-budha)  ở đây và cái hình này:

screenshots1

Cuối cùng để cân bằng với tất cả những cái trên là bản Ubuntu Quỷ Satan (Ubuntu Satanic Edition):

SE-Skulls-1

Không hiểu trong đó có cái quái gì.

Posted in Linux. Thẻ: . Leave a Comment »

Hậu cung của nhà vua

(Nghỉ cuối tuần mà trời nóng quá, ngại ra đường nên ngồi nhà nổi máu văn chương)

Sau khi đã lập xong hậu cung và trở thành một cao thủ trong tình trường Linux, đức Hoàng thượng rùng mình nghĩ lại thời mình còn lẽo đẽo đi theo bà Hoàng hậu già Windows khó tính, bệnh tật virus đầy người, hơi một tý lại lăn ra ngất. Nói cho công bằng, không có bà dìu dắt, Người cũng chẳng có ngày hôm nay. Bây giờ, Người ngạc nhiên nhìn lũ trai trẻ trong vương quốc cam tâm cúc cung tận tụy với Windows mà không biết rằng cả một chân trời mới đang ở ngay bên cạnh. Bởi vậy, Người mới quyết định giới thiệu hậu cung của mình để làm gương.

Và cũng bởi Người bắt đầu thấy nhàm rồi, đang tiến quân đi chinh phục những vùng đất mới.

Nước nhỏ và nghèo nên hậu cung xây trên một miếng đất khá chật: notebook Dell INSPIRON 700m với CPU Pentium M 1.6MHz, 1.256 GB RAM, 40 GB HDD, 82852/855GM Intel Integrated Graphics Device.

Đất hẹp nên mỗi quý phi chỉ được có khoảng 4-5 GB ext3 partition và có một phòng sinh hoạt chung My Documents (ntfs partition, 10 GB) thừa hưởng lại của hoàng hậu Windows XP đã quá cố (xóa sạch rồi chỉ còn lại có My Documents) và cái sảnh swap partition 500 MB cũng dùng chung nốt. Menu list là cái danh sách quyết định cô nào được ân sủng vua vời sẽ nói sau.

Mandriva 2009.1 KDE

snapshot1

Cô này vốn xuất thân từ một dòng họ quý tộc lâu đời (Mandrake 1.0, 7/1998). Cái tính quý tộc thể hiện từ hình thức đến nội dung. Mọi sinh hoạt đều tuân thủ theo nề nếp gia phong của Control Center và System Settings rất đầy đủ, chặt chẽ, rõ ràng, có lớp có lang từng bước một (wizard). Riêng cái nề nếp đó chưa có cô nào theo kịp, kể cả openSUSE. Bảo cô làm việc gì cũng dễ dàng và ngoan ngoãn.

Bộ áo KDE 4.2 cô đang diện vốn là một bộ áo thời thượng nhất, đẹp nhất hiện nay nhưng cũng khó mặc nhất. Nhiều cô khác cũng cố khoác nó lên người nhưng rồi phải bỏ hoặc lụng thụng trông chẳng ra sao (Kubuntu chẳng hạn). Mandriva hòa nhập với KDE4 nhuần nhuyễn và có bản sắc riêng từ cái màn hình khởi động (splash) đến screensaver và nhiều tiểu tiết khác được may cắt riêng chứ không dùng cái có sẵn của KDE.

Nhìn sâu hơn thì cô thuộc loại quý tộc không nghèo nhưng cũng không phải là giầu. Các kho của hồi môn (repositories) khá lớn nhưng chưa bằng được một số cô khác. Và bố trí bên trong cũng hơi lộn xộn.

Tuy dòng dõi cao sang nhưng Mandriva nổi tiếng bình dân. Đặt vào đâu cô cũng hòa nhập rất tốt, không kén cá chọn canh gì (tương thích phần cứng tốt). Chỉ có đến đời 2009.1 này là thấy có chuyện. Cô sống rất thoải mái, nhanh nhạy với cái card màn hình Intel 82852/855GM, nhưng đưa sang chỗ khác có card  82G33/G31 cũng của Intel là chậm chạp hẳn. Đời trước 2009.0 thì lại không sao. Nguyên nhân có lẽ do cái driver Intel mới nhất hiện còn chưa ổn như đã nói trong một post trước.

Mandriva còn có một cô em diện áo GNOME, không xinh bằng chị nhưng nhìn thoáng hơn, nhanh nhẹn hơn vì bớt cầu kỳ. Hoa thơm đánh cả cụm nhưng đất chật đành cho hai cô ở chung một phòng (Install & Remove sofware -> Meta package -> GNOME -> task-gnome-minimal thế là xong). Thích ngắm cô nào thì ở cửa ra vào (màn hình Log in), nhấn vào hình quyển sổ bút chì đăng ký gặp cô đó. Hình cô em đây:

snapshot

Nếu để ý trên hình sẽ thấy, mặc dù cô em khoác áo GNOME nhưng vẫn dùng được đồ KDE của chị (Kontact) và ngược lại. Như thế hay hơn là chỉ có một thứ.

Đức vua hiện nay sủng ái cô chị Mandriva nhất. Hồi mới lập hậu cung, nghe thiên hạ đồn thổi người vời Ubuntu đầu tiên nhưng rồi chê vì hình thức màu mè xấu quá (hồi đó bản lĩnh người còn thấp chưa biết mua sắm trang điểm cho quý phi). Tiếp sau, có thời người sủng ái Kubuntu vì có nhiều nét hao hao giống hoàng hậu Windows. Bây giờ Mandriva với nền nếp gia phong dễ bảo lại xinh đẹp thì vượt lên không có gì là lạ.

Còn sau này thì chưa biết.

Ubuntu 9.04

snapshot1

Ubuntu là con gái nhà giàu mới nổi. Bố cô sau khi quăng một đống tiền đi du lịch vũ trụ về mới sinh ra cô. Tài kinh doanh, tổ chức của bố, tiền của bố và một chiến dịch lăng xê ngoạn mục đã làm cho Ubuntu nhanh chóng nổi như cồn. Chính nhà vua khi mới lập hậu cung cũng nghe đến tên Ubuntu đầu tiên. Đến bây giờ những kẻ chết mê chết mệt cô đông vô kể và đó chính là sức mạnh vô địch của cô. KDE 4.3 mới ra đời có mấy hôm đã có kẻ dâng lên cô rồi là một ví dụ. Đội ngũ fan người Việt cũng khá đông đảo và có một diễn đàn riêng (www.ubuntu-vn.org), cần gì lên đấy mà hỏi. Đó cũng là thế mạnh của Ubuntu ở cái xứ sở còn sơ khai về opensource này.

Kho của hồi môn (repositories) của Ubuntu thừa kế từ cụ bà Debian và bổ xung liên tục đứng vào hàng nhất nhì thiên hạ. Ngay kho Việt nam cũng được chăm sóc cẩn thận hơn các cô khác. Khi đức vua nổi máu phiêu lưu muốn thử cái mới, bao giờ người cũng dùng Ubuntu. Gia đình giàu có, đội ngũ fan đông đảo, thông tin tràn lan trên Internet, Ubuntu dễ dàng giải quyết được những việc mới đề ra.

Con gái nhà giàu mới lớn nên hơi khó bảo so với Mandriva. Có nhiều việc tề gia nội trợ bình thường, Mandriva có sẵn công cụ làm êm ru thì Ubuntu phải tìm kiếm cách làm, cài thêm công cụ,… hết hơi. Mặt khác vì là tầng lớp thượng lưu nên hay sợ điều tiếng, những cái gì không phải opensource là không dùng, báo hại người dùng phải tự bổ xung hơi bị mệt. Nhưng về lâu dài, tiềm năng của Ubuntu là vô địch và tương lai chắc còn sáng lạn.

Cô em Kubuntu khoác bộ cánh KDE4 lộng lẫy cũng được cho ở chung với chị (System -> Administration -> Synaptic Package Manage rồi tìm cài kubuntu-desktop). Nếu muốn diện bộ áo mới nhất KDE 4.3 (vừa may xong hôm 4/8/2009) thì theo hướng dẫn ở đây. hoặc ở đây. Mặc áo xong, ra khỏi phòng (log out) rồi trước khi vào lại, ở màn hình Log in nhấn vào Options -> Sessions để chọn. Kubuntu mặc áo KDE4 không được nhuyễn như Mandriva. Dung nhan Kubuntu 9.04 với KDE 4.3 như thế này:

snapshot2

Sống chung nên hai cô có thể dùng lẫn đồ của nhau. Ubuntu có thể dùng Kontact viết cho KDE và ngược lại Kubuntu cũng dùng được Brasero vốn viết cho GNOME. Thực ra cái đó không phải là mới. Thời các cụ tổ Red Hat (còn miễn phí) và Mandrake, bộ CD cài có 5-6 đĩa, cài xong là có cả KDE và GNOME cùng một đống phần mềm hỗn hợp. Bắt đầu từ Ubuntu nhằm mục đích phổ biến cho nhanh, mọi thứ được co gọn lại về bộ cài một đĩa CD mới có sự phân biệt như ngày nay.

Linux Mint 7

Screenshot

Trong 12 tháng qua (và kể cả trước đây), Linux Mint luôn đứng trong TOP 5 Người đẹp Linux Hoàn vũ. Về cô này đã có bài chi tiết trước đây. Khi cần giới thiệu người đẹp Linux với một người mới (bạn bè, người thân) đưa cô này ra là tiện nhất vì các lý do sau:

  • Mất độ 20 phút cài vào ổ cứng là xong. Hầu như không phải cài thêm gì (trừ bộ gõ tiếng Việt). Ubuntu và Mandriva phải cài bổ xung nhiều. Linux Mint con nhà bình dân không thượng lưu như Mandriva và Ubuntu nên không câu nệ tiểu tiết hay nói đúng hơn là không sợ điều tiếng. Cái gì cần là có không phân biệt cái đó có thuộc đẳng cấp mình (opensource) hay đẳng cấp khác (proprietary).
  • Giao diện nhẹ (GNOME) phù hợp với mọi cấu hình máy, thoáng, đẹp và menu dễ dùng.
  • Linux Mint cũng họ nhà Ubuntu. Do đó thừa hưởng được mọi ưu thế (và cả nhược điểm) của Ubuntu như đã nêu ở trên, nhất là phần hướng dẫn tiếng Việt cho người mới học. Mặt khác vì sinh sau nên Linux Mint có những phần bổ xung mà Ubuntu không có.

PCLinuxOS 2009.2

PCLinuxOS năm ngoái liên tục đứng trong TOP 5 Người đẹp Linux Hoàn vũ. Năm nay thì tụt hạng còn có thứ 7 nhưng vẫn còn có hạng. Con nhà nghèo (nhóm phát triển hoàn toàn là tình nguyện), bố mẹ lại lục đục nên cô chịu nhiều thiệt thòi. PCLinuxOS thuộc họ nhà Mandriva nên cũng thừa hưởng được nền nếp gia phong vốn có (Administration Center).

snapshot1

PCLinuxOS 2009.2 vẫn giữ nguyên bộ áo KDE3. KDE3 nhẹ hơn KDE4 dù không lộng lẫy bằng nhưng phát triển lâu nên khá chín, nhiều công cụ tiện ích bổ xung và chạy cũng nhanh hơn. PCLinuxOS cũng như Linux Mint có tính thực dụng cao nên cái gì cần là có và có khá nhiều tiện ích.

PCLinuxOS có một bộ cánh GNOME khá độc đáo như thế này (cái theme này chắc cài được lên các bản GNOME khác):

Screenshot

Tuy nhiên hai cô này hơi khó ghép ở chung với nhau.

Một trong những điểm chơi trội gần đây của PCLinuxOS là bản Firefox 3.5 vừa ra đời chỉ ít lâu sau đã được chính thức đươưa vào kho và tự động upgrade được. Các cô khác còn đang ngắm nghía, thử nên nếu muốn phải tự cài riêng từ ngoài vào.

Thực tình trước đây openSUSE, Fedora, Debian, Mepis, DreamLinux, Knopix,… và thậm chí cả openSolaris cũng đã lần luợt đi qua hậu cung này. openSUSE dung nhan không có gì đặc biệt, nề nếp gia phong rất bài bản nhưng lại quá rắc rối khắt khe, Fedora và Debian dòng dõi lâu đời nhưng không có gì nổi bật đối với người dùng bình thường, Solaris là một nhánh trực hệ của cụ cố Unix, khó tính khó nết không chịu sống chung với các cô khác nên đều bị loại. Bởi vì mục đích lập hậu cung là thực dụng, không phải nghiên cứu.

Những lúc vui đùa với đám mỹ nữ này, coi khinh các loại virus, nghĩ đến những kẻ đang mê muội bám đuôi bà lão Window mà thấy thương và ái ngại.

(còn tiếp, nếu trời còn nóng).

Lại mấy người khổng lồ chuyển sang dùng Linux

Hệ thống phối hợp hỗ trợ chiến đấu của quân đội Mỹ (the Global Combat Support System-Joint GCSS-J)

Cục Hệ thống thông tin Quốc phòng của quân đội Mỹ (The Defense Information Systems Agency DISA) chịu trách nhiệm về lập kế hoạch, phát triển, thử nghiệm, triển khai và hỗ trợ các hệ thống thông tin, viễn thông chỉ huy và điều khiển phục vụ cho Tổng thống, Phó tổng thống, bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng liên quân, các tư lệnh chiến trường và các đơn vị khác của quân đội Mỹ trong mọi điều kiện thời chiến cũng như thời bình.

Hệ thống phối hợp hỗ trợ chiến đấu GCSS-J do DISA phát triển là hệ thống tích hợp các nguồn thông tin hậu cần (logistics information) khác nhau. GCSS-J có khả năng cung cấp cho các tư lệnh chiến trường thông tin theo thời gian thực về vận tải, tiếp liệu, quân lực, bảo trì, y tế, tài chính và các hệ thống kỹ thuật phục vụ chiến đấu. Chi tiết xem tại đây.

DISA đã chọn MetaMatrix Enterprise Data Services Platform của Red Hat làm hệ thống nền cho GCSS-J. Đây là một giải pháp của Red Hat cung cấp dịch vụ truy cập các nguồn dữ liệu đa dạng khác nhau cho phần mềm xây dựng theo kiến trúc hướng dịch vụ.

Hãng bán lẻ khổng lồ Gap Inc.

Gap Inc. là công ty đứng thứ 144 trong danh sách Fortune 500 năm 2007, sử dụng 150′000 nhân công tại 3100 chi nhánh trên toàn cầu. Để tân trang lại hạ tầng công nghệ thông tin, công ty đã tiến hành xem xét, thử nghiệm cả Unix, Windows và Linux. Kết quả Linux Red Hat được chọn như hệ điều hành nền cho toàn hệ thống.

Tuy nhiên, để quản lý user trong hệ thống toàn cầu của mình, Gap dùng Active Directory của Microsoft (giống cách làm của ngân hàng HSBC, xem tại đây). Likewise, một giải pháp nguồn mở khác cho phép các user trên máy Linux, Unix,.. xác thực trong Active Directory, đã được sử dụng làm cầu nối giữa các hệ điều hành này.

Như vậy cùng với WallMart, hãng bán lẻ lớn nhất và cũng là hãng đứng đầu Forune 500 2008 dùng SUSE Linux Enterprise (xem thêm tại đây) lại thêm một hãng trong Fortune 500 chuyển sang dùng Linux. Thông tin thêm về các hãng trong Fortune 500 dùng Linux xem tại đây. SUSE Linux Enterprise còn có một khách hàng lớn trong các hãng bán lẻ là Office Depot (xem tại đây)

Hãng sản xuất thép Posco

Posco là một trong những hãng sản xuất thép lớn nhất thế giới (30 triệu tấn/năm) có hơn 20′000 công nhân. Trước đây, hãng dùng các máy chủ Unix lớn và đắt tiền. Trong giai đoạn từ 2004-2009, hãng quyết định thay thế các máy chủ đã cũ đó bằng các máy chủ thương mại thông thường của IBM và HP. Hệ điều hành được chọn cho các máy chủ mới là Red Hat Enterprise Linux.

Còn nữa, nhưng tạm thế đã.

Netbook Việt nam chạy Linux song ngữ (Hacao Netbook)

Site DesktopLinux.com vừa có bài giới thiệu Hacao Netbook. Tôi dịch lại để ủng hộ hàng nội và Hacao Linux. Trước đây có lần thử qua Hacao, ấn tượng nhất là chạy rất nhanh (bản thân Puppy vốn đã nhẹ chạy nhanh rồi). Lâu nay tưởng dự án Hacao tiêu rồi không ngờ vẫn sống và lại gắn được với netbook. Hacao netbook giá 5.5 triệu không phải là đắt nhưng hãng gốc Axioo hơi vô danh không rõ chất lượng, tuổi thọ thế nào. Để lúc nào rỗi điểm qua bản Hacao Linux 2009.

Công ty công nghệ Linux Việt nam Hacao vừa cho ra đời netbook chạy phiên bản Hacao Linux 2009 CE song ngữ (Anh/Việt). Hacao Netbook dùng chip Atom của Intel, có màn hình 10 inch và ổ cứng 160GB.

Được giới thiệu tại triển lãm Vietnam Computer Electronics World Expo 2009, Hacao netbook là một phiên bản của Pico netbook do hãng Axioo, Singapore chế tạo. Pico netbook lại là phiên bản có sửa đổi, không có Bluetooth của MSI Wind netbook.


Hacao Classmate PC
(Click for details)

Năm 2007, Hacao đã tung ra phiên bản Việt nam hóa của Intel Classmate PC, mini-laptop dành cho giáo dục, là netbook sớm nhất trên thị trường. Hacao Classmate PC (xem ảnh bên phải) dùng chip Celeron 900MHz, màn hình 7 inch, chạy Hacao Linux, được chính phủ Việt nam đồng ý cho dùng trong nhà trường, theo công ty cho biết.


Hacao Netbook có đối tượng rộng hơn, gồm cả doanh nghiệp và người tiêu dùng. Hacao cho biết tương đối ít thông tin chi tiết về netbook, nhưng có thể cho rằng nó không khác nhiều Pico netbook, dùng chip Intel Atom 1,6GHz có lẽ là model N270, 1GB RAM và có WiFi, Ethernet và camera.


Hacao Netbook
Một tính năng tiêu chuẩn của Axioo Pico không liệt kê dưới đây là có ba cổng USB, một đầu đọc flash card và một moden quay số. Điểm khác biệt lớn nhất là giá: Pico netbook cài Windows có giá trên 500USD trong khi Hacao netbook chỉ có 240USD.

Các tính năng chính của Hacao netbook:

  • Processor — Intel Atom 1.6GHz
  • Memory — 1GB DDR2
  • Display — 10-inch WXGA screen; VGA port
  • Storage — 160GB SATA hard disk drive
  • Networking — 10/100 Ethernet
  • WiFi — Type not specified
  • Camera — 1.3-megapixel
  • Weight — 2.6 lbs. (1.2 kg)
  • Operating system — Hacao Linux 2009 CE

Hacao Linux 2009 CE

Hacao Linux 2009 CE là bản update lớn của Hacao 4.21 Pro. Cũng như Hacao Linux 2.01 ra đời năm 2006, Hacao Linux 2009 CE dựa trên Puppy Linux, nhưng có tổng dung lượng file 321MB, và nhiều tính năng hơn.



Màn hình chính của Hacao Linux 2009 CE
(Click to enlarge)

Bổ xung chính là tích hợp đầy đủ hơn hai ngôn ngữ, chỉ một cú nhấn chuột là chuyển giữa bản tiếng Việt và bản tiếng Anh. Trong cả hai bản Việt và Anh, hỗ trợ toàn phần unicode trong các ứng dụng OpenOffice (có kiểm tra chính tả), Skype, Yahoo Chat, Gimp, Wine và Stardict.


Menu cấu hình của Hacao Linux 2009 CE
(Click to enlarge)

Một nét đặc trưng khác của Hacao Linux 2009 CE là dễ kết nối với mạng Windows, cải thiện hỗ trợ WiFi và các tính năng tăng cường cho duyệt web, chat, thoại có hình.


Các màn hình OpenOffice của Hacao Linux 2009 CE
(Click to enlarge)

Availability

Hacao Netbook hiện có bán với giá $240 U.S. Nhiều thông tin hơn xem tại Hacao web page. Về netbook Axioo Pico xem tại  đây.

Bản cài đặt Hacao Linux 2009 CE có thể download tại các site mirror của Puppy Linux (username là “puppy”, password là “linux”)  tại đây. Thông tin về bản linux này (có các ảnh màn hình -ND) xem tại đây.

Eric Brown

Điểm tin PMNM (22/7/2009)

Microsoft liên tiếp nguồn mở hóa một số phần mềm

Thứ hai, 20/7 vừa qua, Microsoft đã nguồn mở hóa 20 000 dòng mã lệnh của ba Linux driver thiết bị của hãng cho cộng đồng phát triển nhân Linux. Các driver này sẽ được tích hợp vào Linux kernel 2.6.32 giúp cho Linux OS chạy nhanh hơn trong máy ảo Hyper-V Server 2008 hoặc Windows Server 2008 R2 Hyper-V. Các driver này được nguồn mở hóa theo giấy phép GPL2 và đây là lần đầu Microsoft dùng giấy phép này.

Sam Ramji, giám đốc chiến lược công nghệ nguồn mở của Microsoft gọi hành động trên là cam kết quan trọng nhất chưa từng có của công ty đối với Linux và phần mềm nguồn mở.

Động thái này tạo nên hy vọng là các công ty khác cũng theo gương Microsoft nguồn mở hóa các driver của họ.

Tiếp theo, thứ ba 21/7, Microsoft lại nguồn mở hóa tiếp Live Services Plug-in cho phần mềm quản lý giảng dạy nguồn mở Moodle. Moodle dùng tổ chức các website học online trên Internet và hiện có khoảng 30 triệu người dùng.

Adobe nguồn mở hóa các công cụ phát triển ứng dụng cho Flash.

Adobe đang lập kế hoạch để nguồn mở hóa hai sản phẩm : OSMF (Open Source Media Framework) và Text Layout Framework. OSMF cho phép xây dựng các trình chơi multimedia (media player) trên nền Flash. Các cá nhân cũng có thể bổ xung các tính năng mới vào Flash Player. Text Layout Framework cho phép người dùng “làm mọi thứ mình muốn với text để cho nó thực sự cool hơn trên nền Flash”.

Đây được đánh giá là một đòn tấn công của Adobe nhằm giành ưu thế cho Flash trước đối thủ cạnh tranh là Microsoft Silverlight.

Trước đây, Adobe đã nguồn mở hóa một số công nghệ Flash: Flex và bộ dịch, máy ảo Tamarin.

Bang Connecticut xây dựng hệ thống thông  tin y tế dựa trên một phần nguồn mở.

Công ty dịch vụ y tế Hartford Healthcare tuyên bố sẽ tổ hợp công nghệ kết nối nguồn mở của Misys với hệ thống lưu trữ hồ sơ y tế Allscripts để tạo nên hệ thống Transforming Healthcare In Connecticut Communities (THICC), một hệ thống kết nối các bệnh viện, phòng khám và các cơ sở y tế khác trong toàn bang Connecticut.

THICC được kết nối vào hệ thống Thông tin Y tế Quốc gia, xây dựng trên nền phần mềm của Sun.

Các module điều khiển tàu vũ trụ Apollo 11 được nguồn mở hóa

Các phần mềm đã giúp con người đổ bộ lên Mặt trăng đã được trao cho cộng đồng nguồn mở để kỷ niệm 40 năm sứ mệnh Apollo 11.

Apollo 11 command module is released to open source

Chương trình Apollo 11 gồm có hai tàu vũ trụ: module chỉ huy ( Command Module (CM)) dùng đưa ba nhà du hành vũ trụ lên mặt trăng rồi quay về và module mặt trăng ( Lunar Module (LM), dùng chở hai nhà du hành vũ trụ đổ bộ xuống mặt trăng.

Trên mỗi con tàu trên có một máy tính  Apollo guidance computer (AGC) . Phần mềm khác với ngày nay được ghi trên băng đục lỗ và bìa đục lỗ.

Các nhà lập trình của dự án AGC ảo scan các băng và bìa đục lỗ được lưu tại bảo tàng MIT rồi tạo nên một phần mềm mô phỏng AGC, phần mềm này có thể chạy trên Linux. Windows XP và Mac OS.

Mã nguồn hiện được đặt tại Google Code. Nó tái tạo lại bảng điều khiển mà các nhà du hành vũ trụ đã dùng để bay và hạ cánh xuống mặt trăng.

//

Hệ điều hành Google Chrome, một bước tiến dần đến điện toán đám mây

Ngày 7/7/2009, Google công bố trên blog chính thức của hãng về kế hoạch xây dựng hệ điều hành nguồn mở Google Chrome OS trước mắt dành cho netbook vào cuối năm 2010. Tin này lập tức gây nên một trận động đất trên các phương tiện truyền thông vì đây là lần đầu tiên một người khổng lồ tin học công khai lấn sân của Microsoft trong lĩnh vực hệ điều hành. Mới có 3 hôm nhưng gúc cụm từ “Chrome OS” cho 21 triệu kết quả!

Ngoài khía cạnh kinh doanh nói trên, đây là một bước nữa tiến dần đến thời đại điện toán đám mây đã được trình bày trong một post trước. Dưới đây điểm qua vài nét, tất cả đều xoay quanh việc vào Internet không chỉ để “lướt web” mà để kết nối vào một rừng máy chủ, làm việc thật sự.

Theo công bố trong blog nói trên, Google Chrome OS là một hệ điều hành nguồn mở, nhẹ (lightweigh) sẽ có mặt trên các netbook vào nửa sau năm 2010 và sau này là trên các máy PC. Ba đặc điểm chính là nhanh, đơn giản và an toàn (Speed, simplicity and security).

Đơn giản bởi vì nền tảng chạy ứng dụng đã chuyển chỗ. Cho đến hiện nay, các ứng dụng chạy trên nền hệ điều hành của máy trạm. Vì vậy, hệ điều hành càng ngày càng phức tạp để có thể cung cấp được nhiều dịch vụ cho các ứng dụng. Trong tương lai, các ứng dụng chạy trên các máy chủ Internet và giao diện với người dùng qua trình duyệt (web-based), hệ điều hành trên máy trạm chỉ còn cần chủ yếu để chạy trình duyệt và các công nghệ bên dưới nó. Phần ứng dụng chạy trên máy trạm là chạy trên nền web. Những giao diện đẹp và nặng nề hiện nay cũng không còn cần thiết nữa vì giao diện của ứng dụng sẽ được cung cấp từ Internet. Giao diện của hệ điều hành bây giờ sẽ là trình duyệt web. Google Chrome OS không phải để cài các bộ Office nặng nề, những bộ Office đó đã có sẵn trên Internet (Google Docs, Zoho Office, Thinkfree Office, v.v…). Điều đó cũng sẽ đúng cho các ứng dụng khác: Chỉnh sửa ảnh, Quản lý dự án, Kế toán, v.v..

Cũng vì đơn giản nên tất nhiên là sẽ nhanh. Thời gian khởi động và tắt hệ điều hành chỉ còn vài giây như bật tắt Tivi.

Với một công dụng mới như vậy, đương nhiên hệ điều hành cần phải được thiết kế lại từ đầu. Google nói rằng khi thiết kế mới, họ sẽ chú ý đến kiến trúc an ninh nền tảng bên dưới. Ta có thể hy vọng rằng trước mắt, số lượng khổng lồ các malware chạy trên Windows sẽ không còn đất dụng võ. Còn về lâu dài, cái gì con người làm ra, con người cũng phá được. Nhưng có lẽ sẽ khó hơn và không tồi tệ như đại dịch virus hiện nay.

Google nói rằng họ lắng nghe và đáp ứng ý kiến người dùng. Người dùng muốn:

  • Bật máy tính lên là có email ngay, không phải chờ khởi động lâu: Điều này dĩ nhiên vì với hệ điều hành khởi động chỉ có vài giây, giao diện là trình duyệt lại đặt trang chủ là Gmail chẳng hạn thì không khó khăn gì.
  • Máy tính lúc nào cũng chạy nhanh như lúc mới mua: Điều này cũng hiển nhiên vì mọi thứ đều lưu trên máy chủ Internet, hầu như chẳng có dữ liệu gì lưu lại trên ổ cứng. Ổ sẽ không bị phân mảnh, không có hàng đống file rác, không có các registries ngày càng phình to, tìm kiếm mất thì giờ. Chỉ còn cache trình duyệt tự động xóa sau mỗi lần tắt máy và một số nội dung offline.
  • Dữ liệu có thể truy cập được từ bất cứ đâu, không phải lo lắng mất máy tính, hỏng ổ cứng hoặc quên backup: Dữ liệu lưu trên các máy chủ Internet đáp ứng yêu cầu đó.
  • Không mất thì giờ cấu hình máy và cập nhật phần mềm.

Thực ra ý tưởng hệ điều hành web không phải mới. Trong post này có giới thiệu một sản phẩm của Asus đi theo hướng đó dùng công nghệ Splashtop. Google gây được tiếng vang lớn vì cái tầm vóc khổng lồ của họ.

Nhưng Google Chrome OS không thể thành công riêng lẻ. Nó chỉ là một khâu trong điện toán đám mây. Thành công của nó còn phụ thuộc vào:

  • Hạ tầng Internet: các công nghệ truyền dẫn mới tốc độ cao, các điểm truy cập Internet nhanh, ổn định, giá rẻ hoặc miễn phí có ở khắp nơi.
  • Các công nghệ nền và công cụ để phát triển ứng dụng web nhanh, dễ. Số lượng các ứng dụng web lớn và có tính năng đủ đáp ứng người dùng thay thế được cho các ứng dụng chạy trên PC hiện tại.
  • Thói quen và niềm tin của người dùng khi “dựa” toàn bộ vào Internet. Ví dụ: soạn văn bản là nghĩ ngay tới Zoho Writer.

Với hiện trạng của ba yếu tố trên, Chrome OS chưa thể thành công trong một vài năm tới.

Vài thủ thuật hay

Tình cờ tìm được vài thủ thuật hay tại site http://tips4Linux.com.

Xem thông số RAM

Chạy lệnh sau trong terminal: sudo dmidecode -t memory sẽ cho biết nhiều thông số về RAM. Tương tự, thay memory bằng bios, processor, system, v.v…. Để biết chi tiết về lệnh này gõ man demidecode.

Hoặc gõ một lần sudo dmidecode | more để xem toàn bộ các thông số bios. Với Mandriva, không cần sudo nhưng trước đó phải chuyển sang user root bằng lệnh su.

Lệnh lshw cũng liệt kê các thông số phần cứng. Ví dụ lshw -c memory liệt kê tất cả các loại ram trong máy (bios firmware, cache của bộ xử lý, RAM).

Kiểm tra trạng thái pin của laptop

a/ Thông số pin

Lệnh: grep -F : /proc/acpi/battery/BAT0/info
Kết quả tương tự như sau:

present:                              yes
design capacity:                2200 mAh
last full capacity:               2200 mAh
battery technology:           rechargeable
design voltage:                  14800 mV
design capacity warning:   66 mAh
design capacity low:           66 mAh
capacity granularity 1:       10 mAh
capacity granularity 2:       2134 mAh
model number:                    Bat 4Cell
serial number:                     236
battery type:                      Lion
OEM info:

b/Trạng thái pin:

user@laptop:~$ acpi -t
Battery 0: Full, 100%
Thermal 0: ok, 44.5 degrees C
user@laptop:~$ acpi -V
Battery 0: Full, 100%
AC Adapter 0: on-line
Thermal 0: ok, 41.5 degrees C
Cooling 0: Processor 0 of 10
Cooling 1: Processor 0 of 10

Khôi phục boot menu sau khi cài lại Windows

Khi trên máy đã cài Windows, cài thêm Linux thì Linux sẽ tạo boot menu để chọn khởi động vào Windows hay Linux. Nếu sau đó phải cài lại Windows, boot menu sẽ mất và chỉ còn khởi động thẳng vào Windows mà không vào Linux được nữa. Để khôi phục lại boot menu làm như sau:

  1. Boot máy bằng đĩa cài Linux vào chế độ LiveCD.
  2. Khi đã khởi động xong Linux, mở terminal rồi chạy lệnh su để chuyển sang user root (Mandriva), Ubuntu thì không cần.
  3. Chạy lệnh grub (Mandriva) hoặc sudo grub (Ubuntu).
  4. Tại dấu nhắc grub> gõ lệnh find /boot/grub/stage1
    rồi Enter
  5. Danh sách các partition có cài Linux xuất hiện. Nếu chỉ có một bản Linux: (hd0,x), x=1,2, …, nếu có nhiều bản: (hd0,2), (hd0,4), … Chú ý là trong danh sách không có các partition không cài Linux.
  6. Gõ tiếp lệnh root  (hd0,x) trong đó x=1, 2, … rồi Enter
  7. setup (hd0) (Enter)
  8. quit (Enter)
  9. Khởi động lại máy, lấy đĩa CD ra để boot bằng ổ cứng. Xong.

Hai kiểu link giữa các file OpenOffice Calc

Giả sử ta có một file bảng tính gốc test2.odt với các ô từ B2-B5 có dữ liệu như sau:

test2Ta muốn copy các dữ liệu này sang một bảng tính khác test1.odt sao cho khi các dữ liệu trong hình trên ở file test2 thay đổi thì các dữ liệu tương ứng ở test1 cũng thay đổi.

Cũng giống như trong Excel, có hai cách làm:

Cách 1: Mở cả hai file, trong file test1, đánh dấu = vào ô đầu tiên muốn copy rồi chuyển sang file test2 nhấn vào ô B1 rồi Enter. Quay về test1, ô đầu tiên đã được copy, rê chuột kéo xuống các ô dưới, màn hình như sau:

test3Chú ý thanh công thức, công thức link ở đây là =’file:///home/zxc/test2.ods’#$Sheet1.B2

Cách 2: Mở cả hai file. Trong file test2, bôi đen các ô định copy rồi nhấn nút Copy trên toolbar. Chuyển sang file test1, nhấn chuột vào ô đầu tiên định copy rồi nhấn menu Edit -> Paste Special. Trong màn hình xuất hiện  đánh dấu chọn mục Link rồi OK. Màn hình như sau:

test4Chú ý thanh công thức, công thức khác với cách trên.

Đặc điểm:

Trong màn hình của file test1, nhấn vào menu Edit -> Links ta có:

test5Trong màn hình trên có hai link. Link thứ nhất có Type=Document và Status=Manual là link của cách 1. Link thứ hai có Type=soffice và Status=Automatic là link của cách 2.

Theo cách 1 thì dữ liệu ở test1 không tự động thay đổi khi dữ liệu ở test2 thay đổi. Khi thay đổi dữ liệu ở test2 xong, phải nhấn nút Save rồi sang test1 mở màn hình Edit Links trên nhấn nút Update, dữ liệu trong test1 mới được cập nhật. Có khi phải nhấn vài lần Update dữ liệu mới cập nhật.

Theo cách 2, dữ liệu tự động cập nhật. Chỉ cần sửa dữ liệu trong test2 là dữ liệu trong test1 tự động sửa theo ngay.

Ngoài ra, theo cách 2, khi nhấn vào nút Modify có thể sửa được một vài thứ của link. Theo cách 1, nhấn nút Modify chỉ sửa được mỗi đường dẫn của file.

Còn một chỗ nữa để điều khiển update link. Nhấn vào menu Tools -> Options -> OpenOffice Calc -> General. Trong mục Updating có thể chọn cho link tự động update khi mở file, hỏi trước khi updat hoặc không bao giờ update.

Còn hai vấn đề nữa về link tôi chưa thử được vì không còn Windows trên máy. Bạn đọc tự thử:

1- Khi mở file test1 có chứa hai kiểu link nói trên bằng MS Excel thì Excel hiểu hai link đó thế nào?

2- Trong Excel, hai kiểu link trên có các đặc điểm giống như trên không?

Viết công thức toán học trong OpenOffice Writer

Viết công thức toán học trong một văn bản là một điểm yếu của OpenOffice Writer so với WinWord. Mặc dù Writer có chức năng Insert -> Objects -> Formula gọi chương trình OpenOffice Math nhưng cách dựng công thức của Writer dùng một thứ ngôn ngữ lập trình của LaTex (trình soạn văn bản khoa học kỹ thuật) khá khó hiểu và phức tạp với người dùng bình thường.

Để dễ viết công thức hơn, có thể cài thêm extension Dmaths vào Writer (tải về tại đây). Giải nén file Dmaths32.zip thành thư mục Dmath32. Trong Writer, nhấn vào Tools -> Extension Manager -> Add rồi tìm đến file DmathsAddon.oxt trong thư mục Dmath32 để cài.

Khởi động lại Writer, thanh toolbar của Dmaths sẽ xuất hiện ở dạng floating. Tìm một ô nhỏ hình vuông có chữ D trên nền màu vàng, nhấn vào đó để tắt toolbar đi. Sau đó dùng chuột rê ô chữ D vào một vị trí trên toolbar chính của Writer. Nhấn lại vào chữ D, toolbar của Dmaths lại xuất hiện. Dùng chuột rê nó vào vị trí cố định bên dưới Format toolbar rồi nhấn nút D để tắt nó đi. Ngoài ra menu Dmaths cũng xuất hiện trên hàng menu.

Screenshot-1

Về bản chất, Dmaths cũng dựa trên ngôn ngữ dựng công thức sẵn có của Writer, chỉ đưa thêm vào các màn hình và hướng dẫn cho dễ làm hơn. Nhưng mức độ dễ dùng thì vẫn thua WinWord. Đây sẽ là một cản trở trong việc áp dụng OpenOffice vào ngành giáo dục. Các thầy cô dạy toán tiểu học hoặc trung học mà dùng được Writer để soạn bài hoặc ra bài tập cho học sinh sẽ vất vả hơn nhiều so với dùng WinWord.

Ví dụ: Viết công thức sau:

Screenshot

Nguyên tắc: viết từ ngoài vào trong. Trong ví dụ trên: đầu tiên viết hai dấu ngoặc nhọn, tiếp đến ký hiệu tổng, hai dấu ngoặc lớn, dấu phân số, hai dấu ngoặc của tử số, biểu thức trong tử số, hai dấu ngoặc mẫu số, biểu thức mẫu số. Xong.

Cụ thể:

Nhấn vào nút để bật Dmaths toolbar.
Trên thanh Dmath toolbar, nhấn vào nút  ta có màn hình sau:

Hai dấu ngoặc nhọn: Nhấn vào nút để nhập ngoặc nhọn ngòai cùng của biểu thức. Trên thanh nhập liệu sẽ xuất hiện các mã sau (không cần quan tâm):

Dấu tổng: nhấn chuột vào hàng Intergral/Sum/Product (Tích phân/Tổng/Tích) rồi nhấn vào nút Validate the selection, màn hình sau xuất hiện:

Đánh dấu chọn Enter a sum. Trong ô Variable, gõ vào i (mặc định là x), ô from nhập 10, ô to nhập 100, nhấn chuột chọn mục Enter a sum rồi nhấn nút Enter. Màn hình quay về như sau:

Hai dấu ngoặc lớn: trong màn hình trên, nhấn vào nút để mở hai dấu ngoặc lớn.
Phân số: nhấn chuột vào hàng chữ A fraction (phân số) ta có màn hình sau:

Ở ô tử số (Numerator) gõ vào (a+b+c) và mẫu số (Denominator), (d+e+f) như hình trên rồi nhấn Enter.
Trong màn hình tiếp theo nhấn nút Finish để kết thúc.

private:stream Page 1 of 1

KDE hay GNOME?

KDE và GNOME là hai môi trường đồ họa (graphic desktop environnent) phổ biến nhất của Linux nhưng cũng không phải là duy nhất. Ngoài ra còn có Xfce, Lxde, e17, … khoảng một tá nữa. Thời mới làm quen với Linux, KDE gây được cảm tình hơn GNOME vì dạng giao diện gần Windows, có System Settings giống với Control Panel và màu xanh tươi mát của nó (hồi đó chưa biết cách tùy biến màn hình, cũng chưa biết bật Control Center của GNOME). Nhìn cái giao diện của Ubuntu 6.10 xấu tệ.

Vì vậy để tránh những phức tạp chưa cần thiết, nếu mới làm quen với Linux nên chọn KDE.

Sau này khi công lực thâm hậu rồi thì KDE hay GNOME chỉ còn là sở thích. Vì nói chung các phần mềm ứng dụng viết cho KDE vẫn cài chạy được trên GNOME và ngược lại.

Ví dụ đang dùng Ubuntu nhưng hay ghi đĩa CD thì nên cài k3b (viết cho KDE) có nhiều tính năng hay hơn là trình ghi đĩa brasero mặc định của GNOME. Ngược lại, trình System Monitor cùa GNOME nhiều thông tin hơn System Monitor của KDE v.v…

Cái hay của thế giới nguồn mở là khả năng tự do lựa chọn chỉ sau vài cú nhấp chuột. Những phần mềm cài sẵn theo một hệ Linux chưa chắc đã phải là cái hay nhất đối với từng người. Để chơi nhạc, Amarok, Songbird, SMplayer, VLC, …. ? thử cũng đủ mê mải rồi.

Đến hiện nay, GNOME (ví dụ Ubuntu) nên dùng để làm việc vì chạy nhanh, nhạy hơn so với KDE4, giao diện nguyên thủy tương đối chân phương giống như một anh công chức nghiêm chỉnh vậy. KDE nhất là KDE4 màu sắc điệu đà, rực rỡ nhưng chậm hơn, kém nhạy hơn, đòi hỏi cấu hình máy cao hơn. Tính năng thì cũng một chín một mười, KDE4 mới sinh nên còn chưa đủ độ chín.

Trước đây cứ phải tải về Ubuntu, Kubuntu, Mandriva KDE, Mandriva GNOME, … rồi chia nhiều partition cài lần lượt từng bộ. Thực ra thì không cần phải thế.

Với Ubuntu, cài xong mở Synaptic cài thêm kubuntu-desktop (khoảng hơn 300MB) thậm chí cả xubuntu-desktop. Hoặc ngược lại cài Kubuntu xong, cài thêm ubuntu-desktop, v.v… Khi cài như vậy, không chỉ KDE, GNOME mà cả một số phần mềm ứng dụng phổ biến của môi trường đó cũng được cài. Ví dụ khi cài ubuntu-desktop thì trình thư điện tử Evolution cũng kèm theo. Nếu muốn cài riêng GNOME có thể dùng lệnh sudo apt-get install --no-install-recommends ubuntu-desktop.

Với Mandriva cài xong mở Install & Remove Software, chọn Meta Packages ở danh sách góc trên, bên trái màn hình, chọn tiếp Graphic Desktop thì sẽ có cả KDE3, KDE4, GNOME, Xfce, Enlightenment, Lxde, Ede để chọn. Mỗi gói có chữ task đằng trước, ví dụ task-gnome. Trong đó nếu chọn task-gnome-minimal thì chỉ cài tối thiểu GNOME, chọn task-gnome là cài đầy đủ các phần mềm kèm theo.

Cài xong logout ra, trong màn hình Login, nhấn vào biểu tượng bút chì (Mandriva) hoặc Options -> Select Session (Ubuntu) chọn GNOME, KDE, … tùy ý. Sau đó nhập username, password là đăng nhập được vào môi trường đã chọn. Trong menu chương trình sẽ có thêm nhiều chương trình của các môi trường khác nhau. Ví dụ cài cả KDE và GNOME thì có cả KMail và Evolution. Nếu không thích, gỡ bỏ cả hai rồi cài Thunderbird (trình email chống spam tốt nhất hiện nay).

Cài như vậy, trên cùng một partition sẽ có cả ba bộ Ubuntu, Kubuntu và Xubuntu, thích login vào bộ nào cũng được.

Tóm lại cuối cùng ta sẽ có thế này:

  • Khi khởi động máy lên, xuất hiện boot menu có vài ba hệ Linux khác nhau để chọn (mỗi bộ mất khoảng 5GB, cách cài đã nói trong một post trước).
  • Chọn một hệ để khởi động vào, tới màn hình Login lại có vài ba lựa chọn môi trường đồ họa nữa. Thích chân phương đứng đắn thì chọn GNOME (nguyên bản), thích màu mè thì KDE4, thích nhanh, nhẹ (nhưng cũng không kém đẹp) hoặc máy cấu hình yếu thì chọn Xfce, Lxde, v.v…

Nhưng cái trò đó cũng chỉ để tìm hiểu khi còn đang khám phá, và cũng nên cẩn thận không dễ bị “tẩu hỏa nhập ma”: cái nào cũng thích, cũng hay, loay hoay giữa đàn mỹ nữ không biết nên thiên vị cô nào. Nếu còn thích một bộ hơn bộ khác vì quen hơn, dễ dùng hơn là tu luyện chưa thành chính quả.

Khi công lực đã đạt đến hỏa hầu nhất định thì bộ Linux nào cũng không quan trọng nữa (nếu căn cứ trên nhu cầu sử dụng thông thường). Tất cả đều na ná giống nhau, có thể tùy biến, bổ xung cái mình thích. Vì về cơ bản các bộ phận để lắp ráp nên chúng đều là một: nhân Linux, môi trường đồ họa, các trình ứng dụng,…. Cài một bộ mới không khó khăn gì và mất thêm đôi chút thì giờ tìm hiểu những điểm khác biệt. Trong vài ba bộ phổ biến nhất, bộ nào cũng có cái hay, cái dở, xêm xêm như nhau.

Khi đã giang hồ hoa lá chán rồi thì sẽ dừng lại ở một nơi mà yên hưởng tuổi già. Lúc đó Linux chỉ còn là công cụ, không còn là đối tượng khám phá nữa. Tuy nhiên, nếu máu giang hồ chưa dứt thì vẫn còn cả thế giới nguồn mở mênh mông. Linux chỉ là một góc và là góc dễ khai phá nhất mà thôi.

Điểm qua vài hệ Linux gần đây

Kubuntu 8.04.2

Kubuntu 8.04.2 là bản cập nhật của 8.04 KDE3, với lời thừa nhận rằng:” bản Kubuntu 8.10 KDE4 hiện chưa thích hợp cho mọi người dùng”. Nhóm Kubuntu có vẻ trầy trật với KDE4, ngay bản Jaunty sắp tới cũng có một phiên bản remix dùng KDE3.

Bản này cập nhật hơn 200 mục, nhẹ, ổn định, gõ tiếng Việt được bằng x-unikey-0.9.2. Không có gì mới hay nổi bật so với 8.04.

Update 28/4/09: bộ gõ unikey có một nhược điểm là khi gõ trên web (blog, gmail, …) không gõ nhanh được.

PCLinuxOS 2009

Sau gần hai năm (PCLinuxOS 2007 ra tháng 5/2007) đến nay PCLinuxOS mới ra được phiên bản mới: PCLinuxOS 2009.1 KDE3 và GNOME. Một hiện tượng đáng ngạc nhiên là mặc dù cập nhật chậm như thế nhưng trong hai năm qua, PCLinuxOS luôn nằm trong TOP10 của site DistroWatch, chứng tỏ sự quan tâm đến nó không giảm.

Trong thời gian đó, nội bộ nhóm phát triển có nhiều mâu thuẫn. Một bộ phận bỏ nhóm đi nơi khác. Như đã nhận xét trong một post trước, mô hình kinh doanh yếu của PCLinuxOS đã thể hiện rõ trong thời gian vừa qua.

Hai bản PCLinuxOS KDE3 và GNOME 2009.1 vẫn giữ nguyên được các ưu điểm cũ: thừa kế tính năng dễ dùng của Mandriva, cài sẵn các gói non-free và các phần mềm ứng dụng tương đối đầy đủ (trừ bản GNOME không có OpenOffice!), giao diện độc đáo và đẹp. Gõ tiếng Việt trên bản KDE3 vẫn dùng được x-unikey-0.9.2 ổn định không lỗi như x-unikey-1.0.4. Gõ tiếng Việt trên bản GNOME dùng scim với file vi-telex-locdt.mim.

PCLinuxOS chú ý đến những tiểu tiết sử dụng của người dùng Windows. Ví dụ trong bản KDE, nhấn phím phải chuột vào một thư mục có lệnh zip thư mục đó.

Tóm lại nếu muốn có một bản Linux đẹp để dùng (không phải để nghịch), cài đặt đơn giản thì nên chọn PCLinuxOS.

Nhược điểm lớn nhất là hai bản này chạy không thoát và nhanh như phiên bản cũ, nhất là trên các máy cấu hình thấp. Mô hình kinh doanh yếu tạo cảm giác không yên tâm.

openSUSE 11.1 (GNOME)

SUSE là một cây đại thụ trong làng Linux (bắt đầu năm 1996). Công ty hiện đang kinh doanh SUSE là Novell, một trong hai công ty Linux thành công nhất cho đến nay (công ty kia là RedHat). Chỉ đến năm 2005, theo mô hình Fedora của RedHat, Novell mới lập dự án openSUSE cho cộng đồng nguồn mở rộng rãi tham gia. Bản openSUSE nguồn mở miễn phí, luôn tích hợp các công nghệ và phần mềm mới nhất để làm con chuột thí nghiệm cho Novell lấy ý kiến từ người dùng, rút kinh nghiệm xây dựng bản SUSE Enterprise Linux bán cho các khách hàng doanh nghiệp.

Quá trình cài đặt và cấu hình openSUSE phức tạp và hoành tráng hơn các bản Linux phổ biến khác nhiều. Trong mỗi bước thực hiện, có nhiều những options, những thông số, những khái niệm để lựa chọn. Thực ra, những cái đó trong các bản Linux khác cũng có nhưng thường được ẩn đi theo những lựa chọn mặc định.Vì vậy nếu định tìm hiểu hơi sâu về Linux dùng openSUSE rất có ích.

Toàn bộ quá trình cài đặt và cấu hình dựa trên một công cụ trung tâm là YaST (Yes another Setup Tool). YaST có cả hai loại giao diện: giao diện đồ hoạ trên nền KDE hoặc Gnome và giao diện đơn giản chạy trên nền terminal (kiểu như giao diện các chương trình chạy trên nền DOS).

Control Center của openSUSE có lẽ là phong phú đầy đủ nhất trong các bản Linux. Trong đó có cả những tính năng mà chỉ do quan hệ với Microsoft mới có như Windows Domain Member. Dễ dùng thì không bằng Mandriva vì các mục cấu hình không ở dạng wizard như Mandriva nhưng số lượng mục cấu hình nhiều hơn (Ví dụ có các mục /etc/sysconfig Editor, Kernel Settings chắc không mấy user thường dám thử) và chi tiết hơn (ví dụ các Network Services).

Trình quản lý phần mềm (Software Manager) có vẻ chặt chẽ bài bản nhưng cũng phức tạp, rắc rối hơn các bản Linux khác. Mỗi lần chạy, nó đều tự động kết nối và kiểm tra lại danh sách các gói phần mềm hiện có trong các kho, hơi lâu nhưng cẩn thận (các bản Linux khác, phần này thường không tự động). Khi có xung đột, nó đưa ra ba bốn lựa chọn chắc sẽ làm cho user thường hoa mắt. Đặc biệt nó kiểm tra rất kỹ chữ ký số của các gói phần mềm, thấy lạ là hỏi. Quá trình cài đặt hiện lên màn hình thành bốn năm bước, cho cảm giác rất cẩn thận.openSUSE dùng dạng đóng gói file cài đặt là rpm.

Khi update phần mềm, các file tải về đều có tên delta RPM. Theo suy đoán thì có lẽ đây là các bản vá (patch) vào các gói đã có. Nếu đúng vậy thì dung lượng tải về sẽ nhỏ hơn là tải toàn bộ gói mới như phần lớn các bản Linux hiện đang dùng.

Tuy thế cũng vẫn có những lỗi khó hiểu. Khi lần đầu tìm cài thêm FreeFont, ta phải cài thêm cả đống phần mềm khác mà không hiểu tại sao. Chắc là trong cách thiết lập dependencies có lỗi. Mandriva cũng có lỗi kiểu này: thỉnh thoảng sau khi gỡ một phần mềm nào đó, nó hiện lên thông báo một danh sách dài các phần mềm không cần nữa và bảo ta dùng urpme –auto-orphans gỡ đi, nhưng nếu nghe theo là đi luôn, phải cài lại từ đầu. Về quản lý phần mềm, đến nay có lẽ Kubuntu với trình Adept Manager vẫn là hay và tiện nhất.

Khi định chạy một file mp3 lần đầu tiên trong trình duyệt Firefox, openSUSE sẽ dẫn người dùng qua 5-6 màn hình với những lời giải thích rất kỹ lưỡng về codecs để cuối cùng yêu cầu cài gói codecs-gnome (tương tự như ubuntu-restricted-extras). Dân kỹ thuật ham hiểu biết sẽ thích nhưng người dùng thường thì choáng váng. Tuy vậy, chỉ có những công ty kinh doanh lớn, lâu đời mới làm tỷ mỷ được như vậy.

Tiếng Việt trong bản Gnome gõ được bằng scim (cài gói m17n rồi add thêm file vi-telex-locdt.mim vào thư mục /usr/share/m17n). Tuy nhiên thỉnh thoảng lại bị mất tiếng Việt phải Ctrl+Shift bật lại tiếng Việt mới gõ tiếp được.

Giao diện của openSUSE chân phương, không màu mè. Nhược điểm lớn nhất là menu chính (Computer). Menu này theo kiểu kick-off mới nếu không quen hơi khó dùng và phải nhấn chuột nhiều lần mới tới được chỗ cần. Một số bản Linux khác cho phép chuyển về kiểu menu cũ nhưng openSUSE thì không. Phải remove menu đó đi rồi chọn add  Traditional Main Menu vào panel.

Các phần mềm ứng dụng cũng tương tự như các bản Gnome khác. Riêng OpenOffice là bản riêng của Novell dựa theo bản OpenOffice nguồn mở của Sun, hình như hỗ trợ tốt VBA macro và các dịnh dạng file của MS Office 2007 hơn bản gốc.

Sau khi cài openSUSE lên một máy notebook Dell Inspiron 700m (cấu hình khá thấp) chạy vẫn tốt. Nhưng sau lần update đầu tiên, không khởi động được vào màn hình đồ hoạ nữa.

Cũng một lần dùng Boot Loader của Control Center để sửa Boot Menu, khi khởi động lại, máy báo “Error No Operating System” tức là MBR bị lỗi. May mà dùng cách trong post “Sửa một số lỗi Linux 1″ cứu lại được.

Những nhận xét trên đều dựa trên kinh nghiệm mới dùng openSUSE lần đầu được hai ba ngày. Nếu đã tương đối thạo Linux thì cũng nên thử cho biết. Nếu mới làm quen thì không nên.

Các hệ thống file nhật ký của Linux

Giải phẫu hệ thống file nhật ký của Linux

M.Tim Jones (mtj@mtjones.com), Consultant Engineer, Emulex Corp. 04 Jun 2008

zxc232 lược dịch

Khi hệ điều hành bị tắt bất thình lình (mất điện, lỗi phần mềm, v.v..), trong hệ thống file xuất hiện lỗi do file đang ghi dở, địa chỉ chưa được cập nhật,… Nếu hệ thống file đang dùng không thuộc loại hệ thống file nhật ký (ext2,…), khi khởi động lại, hệ điều hành sẽ phát hiện được lần tắt bị lỗi (unclean shutdown) trước đó và tự động dùng phần mềm fsck (file system check) để soát và sửa lỗi. Nếu ổ cứng lớn, quá trình chạy fsck sẽ khá lâu và nếu lỗi nặng fsck không sửa được nó sẽ báo cho hệ điều hành khởi động vào chế độ single user mode để người dùng sửa.

Hệ thống file nhật ký tránh việc hỏng hệ thống file bằng cách ghi một nhật ký. Nhật ký là một file riêng ghi lại mọi thay đổi của hệ thống file vào một vùng đệm (thay vì ghi thẳng vào hệ thống file trên ổ cứng). Sau từng khoảng thời gian định trước, những thay đổi đó được thực hiện chính thức vào hệ thống file. Nếu giữa khoảng thời gian đó, hệ thống bị tắt đột ngột, file nhật ký sẽ được dùng để khôi phục lại các thông tin chưa lưu và tránh làm hỏng metadata của hệ thống file.

[Metadata của hệ thống gồm các thông tin về cấu trúc dữ liệu trên ổ cứng: ngày giờ tạo, xoá file và thư mục, tăng giảm dung lượng file, chủ nhân của file, ...]

Tóm lại, hệ thống file nhật ký là một hệ thống file tự chữa lỗi bằng cách dùng một file nhật ký lưu lại mọi thay đổi trước khi thay đổi đó được thực hiện thật sự vào hệ thống file (xem hình 1).

111
Hình 1: Sơ đồ một hệ thống file nhật ký.

(Các hệ Linux hiện tại, sau khoảng 25-30 lần mount một partition, thường bằng số lần khởi động hệ thống, sẽ tự động thực hiện kiểm tra hệ thống file trong các partition đã mount. Do vậy, thỉnh thoảng ta thấy hệ thống khởi động lâu hơn thường lệ -ND)

Lịch sử hệ thống file nhật ký của Linux.

Hệ thống file nhật ký đầu tiên là IBM Journaled File System (JFS) ra đời năm 1990, version hiện nay là JFS2. Năm 1994, công ty Silicon Graphics công bố hệ thống file nhật ký cao tốc XFS cho hệ điều hành IRIX. XFS được chuyển vào Linux năm 2001. Smart File System (SFS) của công ty Amiga ra đời năm 1998 và công bố thành nguồn mở, dùng trong Linux năm 2005. Hệ thống file nhật ký phổ biến nhất hiện đang dùng trong các hệ Linux là ext3fs (third extended file system, thường viết tắt là ext3), được đưa vào Linux năm 2001. Ext3 là mở rộng (thêm khả năng nhật ký) của hệ thống file ext2 (không nhật ký). Cuối cùng, hệ thống file ReiserFS với nhiều tính năng hay, được chấp nhận rộng rãi nhưng hiện tác giả đang gặp khó khăn cá nhân nên không tiếp tục được.

Các kiểu ghi nhật ký.

Hệ thống file nhật ký dùng một file nhật ký làm vùng đệm lưu mọi thay đổi của hệ thống file nhưng có nhiều kiểu ghi nhật ký khác nhau. Ba kiểu thường dùng nhất là writeback, ordereddata.

Khi dùng kiểu writeback, chỉ các metadata được lưu nhật ký còn các block dữ liệu được ghi thẳng vào vị trí của nó trên ổ cứng. Cách này bảo vệ được cấu trúc dữ liệu nhưng bản thân dữ liệu vẫn lỗi (ví dụ hệ thống bị tắt sau khi metadata đã được ghi nhưng trước khi dữ liệu được ghi vào ổ cứng). Để tránh điều đó có thể dùng kiểu ordered: trước tiên dữ liệu phải được ghi xong vào ổ cứng rồi sau đó metadata mới được lưu vào nhật ký. Kiểu data là an toàn nhất: cả metadata và dữ liệu đều được ghi trước vào file nhật ký rồi mới cập nhật vào ổ cứng. Tuy nhiên tốc độ chậm vì dữ liệu phải ghi hai lần (đầu tiên ghi vào nhật ký sau đó ghi vào ổ cứng).

Kiểu ghi nhật ký cũng còn một số khía cạnh khác nhau nữa. Ví dụ nội dung nhật ký được ghi vào ổ cứng khi file nhật ký gần đầy hay là ghi sau từng khoảng thời gian nhất định?

Các hệ thống file nhật ký hiện nay.

Dưới đây xem xét bốn hệ thống file nhật ký phổ biến nhất hiện nay. Mỗi loại đều có ưu nhược điểm riêng.

JFS2

JFS2 là hệ thống file nhật ký đầu tiên đã nhiều năm dùng trong hệ điều hành AIX của IBM trước khi được mang sang Linux. JFS2 là hệ thống file 64 bit hỗ trợ kiến trúc đa xử lý.

JFS2 dùng kiểu ghi nhật ký ordered ở mức nhỏ hơn giây. JFS2 cũng dùng cách ghép các block thành từng nhóm liên tục (gọi là một extent) trong bộ nhớ trước khi ghi vào ổ cứng, do đó tốc độ ghi và đọc nhanh hơn và cũng giảm được lượng metadata cần quản lý. Nếu không dùng extent, metadata được cập nhật cho từng block dữ liệu, khi dùng extent, metadata chỉ cập nhật cho từng nhóm block.

JFS2 dùng cấu trúc thư mục kiểu B+ để duyệt nhanh hơn. JFS2 không có chính sách ghi nhật ký vào ổ cứng riêng mà dựa vào thời gian hết hạn (timeout) của kupdate daemon.

XFS

XFS cũng là hệ thống file nhật ký 64-bit có tốc độ rất cao dùng cây thư mục và vị trí file kiểu B+. XFS cũng dùng cách lưu file extent-based, dung lượng block có thể biến thiên từ 512 bytes đến 64KB.

Một tính năng đáng chú ý khác là XFS có tốc độ I/O cố định dành riêng và I/O trực tiếp: dữ liệu được copy trực tiếp giữa ổ cứng và vùng đệm (không phải qua nhiều vùng đệm khác nhau). XFS dùng kiều ghi nhật ký writeback.

XFS sử dụng kỹ thuật ghi trễ (Allocate-on-flush hoặc còn gọi là delayed allocation): khi các block trên ổ cứng được bố trí để chuẩn bị ghi dữ liệu, dung lượng ổ tương ứng được trừ đi khỏi bộ đếm dung lượng còn trống nhưng chưa thực sự được đánh dấu đã dùng. Dữ liệu vẫn nằm chờ trong bộ nhớ cho đến khi nó được ghi vào ổ cứng vì các nguyên nhân khác nhau.

Như vậy, nhiều dữ liệu được tích lại chờ trong bộ nhớ cho đến khi được ghi đồng thời, làm giảm cường độ sử dụng CPU, và giảm phân mảnh ổ cứng đặc biệt với những file tăng chậm. Nó cũng cho phép bố trí các vùng liên tục khi có nhiều file cùng lớn lên đồng thời.

EXT3 (Third extended file system – ext3fs)

Ext3 là hệ thống file nhật ký phổ biến nhất hiện nay và là cuộc cách mạng từ ext2. Ext3 tương thích với ext2 vì dùng cùng cấu trúc chỉ thêm vào phần nhật ký. Thậm chí có thể mount một partition ext3 như ext2 hoặc convert ext2 sang ext3 (dùng công cụ tune2fs).

Ext3 có thể dùng cả ba kiểu nhật ký (writeback, ordered và data) nhưng mặc định là ordered. Chính sách ghi vào ổ cứng có thể cấu hình được, mặc định là khi đầy ¼ nhật ký hoặc timeout của một trong những bộ đếm thời gian.

Một trong những nhược điểm chính của ext3 là phát triển từ ext2 lên, không phải là hệ thống file nhật ký được thiết kế từ đầu. Do đó nó thiếu một số tính năng tiên tiến mới đây có trong một số hệ thống file nhật ký khác (ví dụ extent-based). Tốc độ cũng chậm hơn các hệ thống file khác như ReiserFS, JFS và XFS nhưng lại tốn ít CPU và bộ nhớ hơn.

ReiserFS

ReiserFS là hệ thống file nhật ký được phát triển từ đầu nhằm vào nhật ký. Kiểu ghi nhật ký mặc định là ordered và cho phép resize online để tăng dung lượng partition. ReiserFS cũng hỗ trợ kiểu đặt nhiều file nhỏ trong một block để giảm phân mảnh và tăng tốc độ so với ext3.

ReiserFS v3 có nhiều tính năng hiện đại như cây thư mục B+. Định dạng cơ bản của hệ thống file dựa trên một cây B+ duy nhất, do đó tìm kiếm nhanh hơn và mở rộng dễ. Chính sách ghi từ nhật ký vào ổ cứng tuỳ theo kích thước nhật ký nhưng dựa trên số block cần ghi.

Hệ thống file nhật ký trong tương lai.

Reiser4

Sau khi ReiserFS được tích hợp thành công vào nhân Linux và được nhiều bản Linux chấp nhận, Namesys (công ty đứng đằng sau ReiserFS) tiếp tục xây dựng một hệ thống file nhật ký mới Reiser4. Reiser4 được thiết kế từ đầu như một hệ thống file nhật ký mới với nhiều tính năng tiên tiến.

Sau khi chủ công ty Namesys bị kết án hình sự, các hoạt động thương mại về Reiser4 đã ngừng. Hiện nay đang có những cố gắng tiếp tục.

EXT4 (Fourth extended file system – ext4fs)

Hệ thống file nhật ký mở rộng thứ tư (ext4) là sự phát triển của ext3, tương thích với ext3 (do đó có thể mount một partition ext4 như ext3 và ngược lại) và có thêm nhiều tính năng tiên tiến.

Thứ nhất, ext4 là hệ thống file 64-bit được thiết kế để hỗ trợ các dung lượng rất lớn (toàn hệ thống tới 1exabyte và một file tới 16 terabyte). Nó cũng có thể dùng cách lưu file theo nhóm block (extents), một extent tới 128 MB vùng ổ cứng liên tục với các block 4KB (nhưng nếu dùng thì sẽ không tương thích với ext3 nữa). Cũng như XFS và Reiser4, ext4fs dùng kỹ thuật ghi trễ dữ liệu lên ổ cứng. Nội dung file nhật ký được tính số kiểm tra (checksum) do đó file nhật ký có độ tin cậy cao. Thay cho các cấu trúc tiêu chuẩn B+ hoặc B*, ext4 dùng một biến thể của cấu trúc B tree gọi là H tree, có số thư mục con lớn hơn (64.000 thư mục trong khi ext3 giới hạn ở 32.000).

Mặc dù kỹ thuật ghi trễ làm giảm độ phân mảnh nhưng sau một thời gian một hệ thống file lớn vẫn bị phân mảnh. Một công cụ xoá phân mảnh online (e4defrag) được xây dựng để xử lý việc đó. Có thể dùng công cụ này để xoá phân mảnh một file riêng rẽ hoặc cả hệ thống file.

Một nét khác biệt giữa ext3 và ext4 là độ chia thời gian. Trong ext3, mốc thời gian (timestamp) nhỏ nhất là 1 giây. Ext4 nhìn về tương lai: khi tốc độ xử lý và tốc độ giao diện tăng lên, cần chia thời gian nhỏ hơn. Mốc thời gian tối thiểu của ext4 là 1 nano giây.

Ngày 11/10/2008, bản vá đánh dấu mã ext4 như mã ổn định được tích hợp vào nhân Linux 2.6.28, kết thúc giai đoạn phát triển và khuyên dùng ext4. Nhân Linux phiên bản 2.6.28 chứa hệ thống file ext4 được chính thức phát hành ngày 25/12/2008.

Một số bản Linux sắp phát hành (OpenSuse, …) cũng sẽ chính thức dùng ext4.

Posted in Linux. Thẻ: , , . 1 Comment »

Sửa, khôi phục ổ cứng, hệ thống file, file bị xoá bằng TestDisk và PhotoRec.

TestDisk và PhotoRec là các công cụ mạnh chạy trên nhiều hệ điều hành (Windows, DOS, Vista, Linux, MacOS,…) để:

  • Sửa một ổ cứng không boot được:
    • Khôi phục lại boot sector của FAT32/NTFS từ bản backup.
    • Tạo lại (rebuild) boot sector FAT12/FAT16/FAT32/NTFS.
  • Chữa bảng FAT bị hỏng.
  • Chữa Master File Table (MFT) từ bản mirror.
  • Tìm các SuperBlock backup của ext2/ext3.
  • Khôi phục các file bị xoá ở các partitions FAT, NTFS và ext2/ext3.
  • Copy file từ các partitions FAT, NTFS, ext2/ext3 đã bị xoá.
  • Chữa bảng partitions bị hỏng, khôi phục các partitions bị mất.

PhotoRec nằm trong bộ TestDisk dùng undelete hơn 180 loại file, đặc biệt là các file video, ảnh trên thẻ nhớ, ổ USB, …

Người bình thường và các chuyên gia đều có thể dùng.

So với một số công cụ khác tương tự (Foremost, Scalpel,…), TestDisk và PhotoRec dễ dùng hơn vì có màn hình hướng dẫn qua từng bước.

Hướng dẫn chi tiết (tiếng Việt) tải về tại đây (file TestDisk va PhotoRec.pdf)

Cài máy in Canon trong Mandriva 2009

Một số máy in Canon sau đây: LBP-1120, 1210, 2900, 3000, 3200, 3210, 3300, 3500, 5000, 5100, 5300. dùng chung một driver CAPT của chính hãng. Driver này miễn phí nhưng nguồn đóng nên thường không được cài sẵn trong các bản Linux.

CHÚ Ý: driver CAPT chỉ dùng được khi máy in nối với máy tính qua cổng USB.

Một số máy in Canon khác đã có sẵn driver trong Linux thì không cần theo hướng dẫn này.

Trước đây trên blog này đã có một post hướng dẫn cài trên Mandriva 2008. Bản 2009 dùng một phần mềm cài máy in khác nên có một số điểm khác biệt trình bày dưới đây.

Nhấn vào nút Menu trên thanh panel, rồi nhấn tiếp vào Install & Remove Software. Trong màn hình cài đặt, tìm cài gói system-config-printer, task-printing-server và phần mềm soạn thảo nano.

Nhấn vào icon trên panel để mở Mandriva Linux Control Center. Trong màn hình Control Center nhấn vào Hardware ở cột bên trái rồi nhấn tiếp vào Set up the printer(s). Một màn hình nhỏ hiện lên yêu cầu cài hai gói phần mềm còn thiếu. Nhấn vào nút Install để cài.

(CHÚ Ý: khi cài xong phần này, nếu khởi động lại máy, Mandriva sẽ tự động nhận biết đúng máy in và tự cài. Khi cài xong sẽ có thông báo như sau:

printer1210Model máy in do máy thông báo nên nhận đúng nhưng driver hiện không có nên chương trình dùng driver của máy gần nhất. Khi in thử, thực tế sẽ không in được. Vì vậy việc nhận đúng tên máy in chưa phải là đủ).

Google search cụm từ “CAPT Printer Driver” ta sẽ tìm được ví dụ trang này có chứa driver cần tìm. Mở trang đó, cuốn xuống dưới cùng, tìm đến chỗ dưới đây ứng với driver mới nhất (1.80):

Nhấn vào dòng Canon CAPT Printer Driver for Linux (1.80) sang trang tiếp, cuốn xuống dưới đến mục sau:

Nhấn vào dòng CAPTDRV180.tar.gz để tải file đó về. Nhấn phím phải chuột vào file, chọn Extract – Extract Here, file được giải nén thành thư mục CANON_UK.

Mở thư mục đó, rồi mở tiếp thư mục Doc ta thấy có file guide-capt-1.8xE.tar.gz. Nhấn chuột phải vào file rồi chọn Extract – Extract Here, file được giải nén thành thư mục guide-capt-1.8xE. Mở thư mục đó ra, nhấn chuột vào file manual_contents.html ta sẽ có một trang web hướng dẫn cài đặt. Về cơ bản các bước dưới đây làm theo hướng dẫn đó, có sửa đổi đôi chút cho dễ hơn.

  1. Mở thư mục CANON_UK/Driver/RPM. Nhấn vào file cndrvcups-common-1.80-1.i386.rpm để cài trước, sau đó nhấn tiếp vào file cndrvcups-capt-1.80-1.i386.rpm để cài tiếp. Mandriva dùng dạng đóng gói file cài đặt là rpm nên ta cài các file nói trên. Với những hệ Linux dùng dạng file deb (Ubuntu, Mint,…) thì mở thư mục CANON_UK/Driver/DEB để cài.

  2. Khởi động lại máy tính để Mandriva nhận các driver mới cài.

  3. Mở Terminal, chạy lần lượt ba lệnh sau (copy hai lệnh sau rồi paste vào terminal cho nhanh và đỡ nhầm):

  • su – Enter – nhập password của root rồi Enter tiếp.

  • /usr/sbin/lpadmin -p LBP1120 -m CNCUPSLBP1120CAPTK.ppd -v ccp:/var/ccpd/fifo0 -E (lệnh viết liên tục thành một hàng, không xuống dòng) rồi Enter.

  • /usr/sbin/ccpdadmin -p LBP1120 -o /dev/usb/lp0 rồi Enter.

    Lệnh đầu tiên chuyển sang user root. Lệnh thứ hai đăng ký máy in với trình quản lý hàng đợi (print spooler). Lệnh thứ ba đăng ký máy in với ccpd daemon.
    CHÚ Ý: hai lệnh sau viết ví dụ cho máy in Canon LBP-1120. Nếu cài máy in Canon khác phải thay các cụm LBP1120 bằng cụm tương ứng (ví dụ: LBP2900)
    Khi lệnh thứ ba thực hiện thành công, màn hình có thông báo như sau:

  1. Vẫn trong màn hình Terminal và đăng nhập với quyền root ở trên, chạy lệnh sau:
    nano /etc/rc.local
    trong đó nano là một chương trình soạn thảo trong terminal. Nếu bị báo lỗi chưa có nano thì quay lại Install & Remove Software cài nó vào.

  2. Màn hình nano có file rc.local đã mở như hình sau:

  1. Dùng phím mũi tên di chuyển con trỏ xuống hàng dưới cùng rồi gõ thêm vào hàng sau:
    /etc/init.d/ccpd start
    Nhấn cặp phím Ctrl+o (chữ o không phải số 0) để ghi file đã sửa lại (WriteOut). Sau đó nhấn cặp phím Ctrl+x để thoát khỏi chương trình nano.

  2. Khởi động lại máy tính. Khi khởi động xong, nhấn cặp phím Ctrl+Esc để mở chương trình System Activity. Trong màn hình mở ra, kiểm tra xem ccpd đã chạy chưa.

  3. Mở Mandriva Linux Control Center, nhấn vào Hardware ở cột bên trái rồi nhấn tiếp vào Set up the printer ta sẽ thấy máy in xuất hiện như hình sau (tự nhận, không phải cài):

  1. Nhấn phím phải vào tên máy in rồi nhấn tiếp Propeties ta có màn hình sau:

  1. Chú ý là ở mục Device URI (địa chỉ máy in) phải như trong hình trên (trùng với lệnh đã khai báo ở bước 2). Nhấn Print Test Page để in thử. Nhấn vào các mục khác ở cột bên trái để đặt các tuỳ chọn cho máy in.

  2. Xong.

Sửa một số lỗi Linux (phần 2)

Chữa các lỗi kết nối mạng.

Trước tiên kiểm tra xem hệ thống có nhận card mạng không bằng lệnh:

sudo ifconfig -a

Nếu có, card mạng LAN sẽ được ký hiệu là eth0, card wifi là wlan0, ath0 hoặc ngay cả là eth1. Màn hình terminal sẽ có kết quả như sau:

Nếu không thấy có card nào, boot lại máy bằng đĩa Live CD (của hệ Linux khác) rồi chạy lại lệnh trên. Nếu Live CD nhận được card, chạy lệnh sau để xem nó dùng module nào:

sudo lspci -k

sau đó tìm trên web để có driver cần thiết cho hệ Linux đang cài trên máy.

Một số card wireless cần có file firmware đặt trong thư mục /lib/firmware. Khi driver của card được tải vào bộ nhớ, nó sẽ tải file firmware lên bộ nhớ của card. File firmware thường có trong các driver Windows (giải nén các file cab Windows để tìm) hoặc tải từ Internet.

Nếu không tìm được driver cho card thì cách cuối cùng là dùng driver của Windows. Trong Linux có trình NdisWrapper dùng cho việc này.

Trước hết cần cài NdisWrapper từ kho phần mềm của Linux. Sau đó cần tìm file Windows driver của card từ đĩa CD bán kèm theo card. Phải dùng đúng đĩa CD vì một số nhà chế tạo card có thói quen thay đổi chipset của card và do đó thay driver mà không thay đổi model card.

Tải file driver đó (là một file INF trên CD) vào bằng lệnh:

sudo ndiswrapper -i /path/to/driver.inf

Kiểm tra xem driver có làm việc không bằng lệnh:

sudo ndiswrapper -l

Lệnh trên sẽ liệt kê các driver hiện có của ndiswrapper. Tải ndiswrapper vào bộ nhớ bằng lệnh:

sudo modprobe -v ndiswrapper

Chạy lại lệnh ifconfig đã nêu ở trên, card wifi bây giờ sẽ xuất hiện như wlan0 (hoặc eth1, v.v…). Nếu không tìm thấy file INF trên CD, thì rất có thể nó được nén trong một file nén tự dãn dạng exe. Trong Linux, dãn file đó ra bằng lệnh (gói unzip phải đã cài):

unzip /mnt/cdrom/install.exe

Trong phần trước đã hướng dẫn cách tải tự động module khi Linux khởi động. Dùng cách đó để tải NdisWrapper.

Kết nối wifi bao giờ cũng được mã hoá để bảo mật. Nhưng khi đang thử, hãy tạm tắt chức năng mã hoá. Kiểm tra xem router của mạng đừng hạn chế địa chỉ MAC (nhất là khi đang kết nối một máy mới hoặc card wifi mới).

Phần lớn hệ Linux dùng trình Network Manager để quản lý các kết nối. Khi nhấn chuột vào biểu tượng Network Manager trên taskbar, tên các mạng wifi sẽ hiện lên để chọn kết nối. Nếu tên mạng không hiện, kiểm tra xem mạng có đặt ở chế độ thông báo tên mạng (broadcast SSID) không. Một số mạng wifi vì lý do an ninh không thông báo tên mạng.

Cũng có thể kiểm tra các mạng wifi hiện có bằng các lệnh sau:

sudo ifconfig wlan0 up
sudo iwlist wlan0 scan

Lệnh đầu để kích hoạt card wifi, lệnh sau cho hiện danh sách các mạng wifi đang trong vùng phủ sóng. Nếu nhận được thông báo “Interface Doesn’t Support Scanning” thì hoặc ta kích hoạt sai card hoặc card không có driver hoặc firmware đúng. Quay lại phần trên để chọn lại driver, firmware.

Nếu kết nối được thành công thì lập tức ngắt kết nối và khôi phục lại chế độ mã hoá của mạng rồi thử kết nối lại. Chế độ mã tốt nhất là WPA2 (nếu card không hỗ trợ thì dùng WPA – Wi-Fi Protected Access). Không nên dùng WEP vì độ an toàn thấp, dễ bị phá.

Mạng Internet có dây.

Nếu truy cập Internet có vẻ không thông, đầu tiên hãy thử dùng lệnh ping đến một địa chỉ đã biết. Ví dụ:

ping www.linuxformat.co.uk

Nếu mạng vẫn thông thì lệnh này sẽ cho biết số gói tin (packet) gửi và nhận tới địa chỉ trên. Nếu không, thử lại một lần nữa:

ping 80.244.178.151

Dãy số trên là địa chỉ IP của site www.linuxformat.co.uk. Nếu lệnh thứ hai làm việc mà lệnh thứ nhất không thì có nghĩa là bạn không phân giải được tên miền thành địa chỉ IP.

Kiểm tra file /etc/resolv.conf xem có chứa các địa chỉ máy chủ DNS của nhà cung cấp dịch vụ Internet không. Nếu trong mạng có router, nên kiểm tra xem địa chỉ IP của router trong file nói trên có đúng không.

Khi ping đến địa chỉ IP không được, hãy thử ping đến địa chỉ DNS server của nhà cung cấp dịch vụ Internet. Nếu ping được thì lỗi là từ chỗ nhà cung cấp thông ra mạng Internet. Một nguyên nhân khác là máy của bạn dùng IPv6, chuẩn IP mới nhưng router không hiểu.

Bước tiếp theo, thử mở giao diện web cấu hình của modem hoặc ping đến modem. Nếu được nghĩa là kết nối giữa modem và nhà cung cấp dịch vụ Internet bị ngắt. Kiểm tra dây cắm trong nhà hoặc báo cho nhà cung cấp.

Cũng có trường hợp, nếu card mạng dùng driver ngoài (không có trong Linux kernel) trước đây đã làm việc tốt, sau khi update kernel sẽ ngừng làm việc. Khi kernel được update, thường vẫn có thể khởi động bằng kernel cũ (các hàng menu dưới có chữ kernel trong menu khởi động), thử khởi động như vậy xem có phải nguyên nhân đó không.

Khắc phục lỗi IPv6

Cập nhật modem: kiểm tra website của nhà sản xuất, tìm firmware để cập nhật modem router cho phép xử lý IPv6. Xem kỹ hướng dẫn.

Thử bằng Firefox: tắt hỗ trợ IPv6 trong Firefox: gõ about:config vào thanh địa chỉ của Firefox rồi Enter. Trong thanh Filter xuất hiện, gõ IPv6. Tìm đến mục network.dns.disableipv6, nhấn phím phải chuột rồi chọn Toggle để chuyển giá trị từ false sang true. Sau đó thử truy cập lại website trước đây không vào được, nếu vào được tức là lỗi do IPv6.

Tắt IPv6 trong Linux: Có thể tắt hỗ trợ IPv6 trong Linux bằng cách sửa file cấu hình /etc/modprobe.conf hoặc /etc/modprobe.d/aliases tuỳ bản Linux. Mở các file đó bằng quyền root rồi bỏ các dòng có IPv6 và thêm hai dòng sau:

alias net-pf-10 off
alias ipv6 off

private:streamPage 3 of 3

Sửa một số lỗi chung trong Linux (phần 1)

Cách sửa các lỗi chung trong Linux (phần 1)

CHÚ Ý: các khuyến nghị dưới đây phần lớn là thực hiện bằng các lệnh. Đó là vì các lệnh thì bản Linux nào cũng cơ bản giống nhau. Cùng chức năng như các lệnh đó, mỗi bản Linux có thể có chương trình đồ hoạ dễ làm hơn, bạn phải tự tìm lấy.

Một số lệnh dưới đây phải thực hiện với quyền của root. Ubuntu và một số bản Linux có thể làm điều đó bằng cách thêm sudo vào trước lệnh. Với Mandriva, … thì trước tiên phải chạy lệnh su để chuyển sang root rồi mới chạy lệnh đã nêu (không cần sudo nữa).

Khôi phục boot menu (Distro fixes)

Các bản Linux khi cài đặt đều phát hiện được Windows đã cài và thiết lập boot menu có cả Win và Linux để chọn khi khởi động. Nhưng nếu phải cài lại Win bị lỗi thì sau khi cài, boot menu bị xóa, máy sẽ boot thẳng vào Win không thấy Linux đâu nữa!

Đừng sợ: Win đã viết đè trình Grub bootloader bằng trình khởi động riêng của nó. Bản Linux đã cài vẫn còn nguyên. Chỉ cần tải lại cấu hình bootloader vào Master Boot Record (MBR) của ổ cứng. Trước tiên khởi động máy boot từ một đĩa Linux Live CD, mở terminal và chạy lệnh:

sudo grub-install /dev/sda

Lệnh trên đúng khi các hệ điều hành cài trên ổ cứng thứ nhất (hoặc ổ cứng duy nhất – /dev/sda). Trình grub-install sẽ phát hiện ra Grub đã có và khôi phục lại mọi thứ. Nếu không được, bạn phải cài thủ công như sau:

Chạy lệnh sudo grub (với Ubuntu, hoặc với Mandriva chạy lệnh su rồi chạy tiếp grub) để vào grub shell (dấu nhắc lệnh chuyển thành grub>). Trong grub shell chạy lệnh:

find /boot/grub/stage1

… để xác định xem partition nào có file Grub. Nếu Win cài trên partition 1 thì Grub sẽ nằm trên partition 2 và lệnh trên trả lại kết quả (hd0,1). Sau đó chạy tiếp ba lệnh:

root (hd0,1)
setup (hd0)
quit

Lệnh thứ nhất xác định boot partition, lệnh thứ hai ghi bootloader vào MBR, lệnh thứ ba để thoát khỏi Grub shell.

Dùng lệnh để phát hiện lỗi

Giao diện đồ họa thân thiện, dễ dùng nhưng khó phát hiện lỗi. Giao diện dòng lệnh (màn hình terminal) là nơi hiện lên chi tiết quá trình thực hiện một lệnh và các thông báo lỗi nếu có.

Khi thực hiện một số việc trong màn hình đồ họa (cài một phần mềm, chạy một phần mềm, …) có thể không có kết quả mà không hề có thông báo lỗi.

Khi đó, nếu biết lệnh tương ứng, mở terminal và chạy lệnh đó trong terminal sẽ có các thông báo lỗi hiện trên màn hình. Thậm chí cả khi đã chạy được một phần mềm, nhấn vào một nút lệnh trong màn hình đồ họa bị lỗi cũng có thể làm như trên: mở terminal, chạy lệnh theo tên phần mềm, để nguyên terminal vẫn mở, nhấn vào nút lệnh bị lỗi, quay lại đọc trên màn hình terminal có thể có thông báo lỗi.

Dùng Live CD để chẩn đoán lỗi.

Khi không boot trực tiếp vào Linux đã cài trên ổ cứng, vẫn có thể chạy Linux từ đĩa Live CD (hoặc Live DVD) mà không cần cài bất kỳ thứ gì vào ổ cứng. Các hướng dẫn dưới đây dùng Live CD của bản Linux Knoppix.

Còn một phương án nữa là dùng bản Linux System Rescue CD. Bản này nhỏ (dưới 250MB), có thể cài lên ổ USB, có giao diện đồ hoạ và một số công cụ sửa chữa, khôi phục.

Khi khởi động ngưng lại giữa chừng.

Trước đây, khi khởi động các hệ Linux cho hiện lần lượt hàng loạt text trên màn hình. Phần lớn người dùng bình thường không hiểu nổi những text đó. Nhưng nếu quá trình khởi động có lỗi bị dừng lại thì những dòng text cuối cùng có thể cho biết nguyên nhân lỗi.

Hiện nay, các bản Linux khi khởi động đều có màn hình đồ hoạ (splash) đẹp nhưng nếu quá trình boot bị lỗi thì màn hình đó không cho biết nguyên nhân.

Khi đó có thể thêm option noapic vào quá trình boot hoặc sửa file /boot/grub/menu.lst hoặc /boot/grub/grub.conf để cho hiện các thông báo text khi khởi động.

Làm tương tự, nếu quá trình shutdown có lỗi.

Từng bước: phát hiện lỗi khi boot

Bỏ màn hình splash:

Knoppix: điểm sáng mục đầu trong boot menu, nhấn E để soạn thảo, chuyển con trỏ xuống dòng bắt đầu bằng từ “kernel” nhấn E lần nữa. Bỏ các option liên quan đến quiet và splash, làm xong nhấn Enter rồi B để boot lại.

Ubuntu, Mandriva, openSUSE: khi boot menu xuất hiện, dùng phím mũi tên chuyển thanh sáng xuống dòng Recovery Mode (với Ubuntu) hoặc Safe Mode (với Mandriva) hoặc Failsafe (với openSUSE) rồi Enter để khởi động tiếp.

(hoặc để thanh sáng ở hàng đầu tiên, nhấn F2, bên dưới màn hình xuất hiện Boot Options. Xoá các mục có từ quiet, splash rồi Enter để khởi động tiếp.)

Tìm vấn đề:

  • Theo dõi màn hình khởi động như trên để phát hiện lỗi khi quá trinh boot bị ngừng lại. Google thông báo lỗi để tìm cách giải quyết. Lỗi cũng có thể do không tương thích phần cứng: tháo các phần cứng không cần thiết rồi khởi động lại.
  • Nếu hệ thống khởi động được đến dấu  nhắc lệnh thì phần kernel không có lỗi. Gõ lệnh startx rồi Enter để vào chế độ đồ hoạ. Nếu đồ hoạ khởi động tốt thì lỗi thường nằm ở phần cấu hình của user (ở các chế độ recovery mode, … này đăng nhập theo user root). Xoá user đi tạo lại hoặc tạo user mới thường giải quyết được vấn đề.

Sửa các lỗi liên quan đến phần cứng.

Các driver cho phần lớn thiết bị phần cứng đã được cài khi cài Linux dưới dạng các kernel module. Hệ thống HAL/D-BUS sẽ nhận ra các thiết bị và tự động tải các driver module tương ứng vào bộ nhớ. Làm sao biết module nào đã được tải và nếu chưa thì giải quyết thế nào?

Phát hiện các phần cứng.

Để xem có các thiết bị nào kết nối vào các cổng PCI và USB, chạy các lệnh sau trong terminal:

sudo lspci
sudo lsusb

(lệnh trên dùng cho Ubuntu. Với Mandriva đầu tiên chạy lệnh su để chuyển sang user root, rồi chạy lệnh lspci và lsusb)

…lspci  sẽ cho ra kết quả tương tự như thế này:

00:1f.2 SATA controller: Intel Corporation 82801HR/HO/HH (ICH8R/DO/DH) 6 port SATA AHCI Controller (rev 02)

01:00.0 VGA compatible controller: nVidia Corporation GeForce 7100 GS (rev a1)

02:00.1 IDE interface: JMicron Technologies, Inc. JMicron 20360/20363 AHCI Controller (rev 03)

03:00.0 Ethernet controller: Attansic Technology Corp. L1 Gigabit Ethernet Adapter (rev b0)

…hoặc như thế này (với lệnh lsusb):

Bus 001 Device 004: ID 03f0:2c17 Hewlett-PackardBus 004 Device 002: ID 051d:0002 American Power Conversion Uninterruptible Power SupplyBus 002 Device 002: ID 067b:2303 Prolific Technology, Inc. PL2303 Serial Port

Muốn xem thêm thông tin về một thiết bị, thêm các option -s và -v như sau:

sudo lspci -s 03:00.0 -v
sudo lsusb -s 001:004 -v

Ví dụ lệnh sudo lspci -s 02:00.0 -v  với một card mạng LAN sẽ cho kết quả như sau:

02:00.0 Ethernet controller: Realtek Semiconductor Co., Ltd. RTL8111/8168B PCI Express Gigabit Ethernet controller (rev 02)
Subsystem: Giga-byte Technology Device e000
Flags: bus master, fast devsel, latency 0, IRQ 17
I/O ports at d000 [size=256]
Memory at e1110000 (64-bit, prefetchable) [size=4K]
Memory at e1100000 (64-bit, prefetchable) [size=64K]
[virtual] Expansion ROM at e1120000 [disabled] [size=64K]
Capabilities: [40] Power Management version 3
Capabilities: [50] Message Signalled Interrupts: Mask- 64bit+ Queue=0/1 Enable-
Capabilities: [70] Express Endpoint, MSI 01
Capabilities: [b0] MSI-X: Enable- Mask- TabSize=2
Capabilities: [d0] Vital Product Data <?>
Capabilities: [100] Advanced Error Reporting <?>
Capabilities: [140] Virtual Channel <?>
Capabilities: [160] Device Serial Number 78-56-34-12-78-56-34-12
Kernel driver in use: r8169
Kernel modules: r8169

Thông tin trên cho biết (2 dòng cuối) driver của card mạng này là r8169 và driver này có trong môđun r8169. Một kernel module có thể có nhiều driver nên tên driver và tên module có thể khác nhau.

Ngoài công cụ dòng lệnh, có thể dùng các chương trình đồ hoạ (tương tự như Device Manager của Windows) để xem thông tin về phần cứng. Một số hệ Linux cài sẵn chương trình này (Mandriva, openSUSE), một số hệ khác phải cài thêm. Một trong những chương trình đó là Hardinfo. Màn hình như sau:

Nếu một thiết bị nào không làm việc trong bộ Linux đã cài nhưng làm việc khi boot bằng Live CD thì vẫn trong chế độ Live CD, chạy lệnh lspci -k để xem thiết bị đó dùng module nào. Sau đó quay lại khởi động vào hệ Linux đã cài và thử tải module đó bằng lệnh:

modprobe -v modulename

Nếu lệnh trên không có thông báo lỗi nghĩa là module đã được tải vào bộ nhớ. Để kiểm tra, dùng lệnh lsmod (list module), trong danh sách hiện ra phải có module vừa tải bằng lệnh modprobe ở trên. Nếu có thông báo “device not present” nghĩa là thiết bị ứng với module đó không có, tức là trong lệnh modprobe trên ta chọn sai module.

Nếu thông báo là “module not found” nghĩa là trong nhân Linux không có module hỗ trợ thiết bị đang xét. Khi đó hoặc phải dịch lại kernel để kích hoạt module cần thiết hoặc chờ nâng cấp lên kernel mới hơn.

Kiểm tra version của linux kernel bản Live CD và bản Linux đã cài bằng lệnh sau:

uname -r

Nếu kernel của Live CD mới hơn, nâng cấp kernel của bản Linux đã cài lên (nếu có).

Một trường hợp nữa là thiết bị đang xét không có driver trong kernel mà phải dùng một driver bên ngoài cài thêm. Một số card wifi, máy in ở trường hợp này. Đầu tiên tìm các driver này trong các kho phần mềm của bản Linux, nếu không thấy phải tìm trên Internet.

Tải tự động các module.

Thông thường, Linux sẽ tự động nhận các thiết bị phần cứng và tải các module cần thiết khi khởi động. Trong trường hợp có một module cần thiết không tải tự động, ta có thể bắt nó tải như sau:

Trong Ubuntu, mở file /etc/modules rồi thêm tên module đó vào cuối file. Trong SUSE, mở file /etc/sysconfig/kernel đặt settings MODULES_LOADED_ON_BOOT:

MODULES_LOADED_ON_BOOT="module1 module2"

Trong Fedora, thêm một file script có đuôi là .modules vào thư mục /etc/sysconfig/modules/. Ví dụ cần tải module NdisWrapper, file /etc/sysconfig/modules/ndiswrapper.modules có nội dung như sau:

#!/bin/sh/sbin/modprobe ndiswrapper

Vì đó là file script nên cần phải gán cho nó thuộc tính chạy được (executable) bằng lệnh sau:

sudo chmod +x /etc/sysconfig/modules/ndiswrapper.modules

Đừng đổ mọi lỗi cho phần mềm.

Lỗi khó chẩn đoán nhất là những lỗi xảy ra ngẫu nhiên, nhất là khi nó gây treo máy hoặc tắt máy không có cảnh báo trước. Nếu lỗi xảy ra cùng vào một thời điểm hoặc khi dùng cùng một phần mềm thì còn có thể đoán được nguyên nhân, nhưng nếu nó xảy ra hoàn toàn ngẫu nhiên thì có thể là do phần cứng. Thông thường nhất là máy bị quá nóng, lỗi bộ nhớ hoặc bộ nguồn điện bị quá tải.

Cũng đừng có nghĩ rằng “lỗi này không xảy ra với hệ điều hành khác của tôi (ngụ ý Windows) vậy thì nó là lỗi của Linux rồi” vì các hệ điều hành làm việc với phần cứng theo những cách khác nhau. Ví dụ, Linux dùng bộ nhớ tích cực hơn do đó nếu bộ nhớ bị lỗi, Linux sẽ dễ mất ổn định hơn trước khi Windows để lộ ra triệu chứng. Quạt và các cánh tản nhiệt lâu ngày sẽ bị bụi và các chất bẩn khác bám làm giảm tác dụng, hãy định kỳ làm sạch. Cài gói phần mềm lm_sensors để theo dõi nhiệt độ CPU và case, cài những trình theo dõi hệ thống như GKrellM để hiện các thông số nhiệt độ trên desktop.

Laptop được thông gió tốt nhưng cũng nên kiểm tra các cửa thông gió tránh bị nghẽn. Nguồn của laptop tương đối an toàn vì có pin đảm bảo cung cấp điện ổn định. Nhưng nguồn của desktop thì không chắc như vậy nhất là các bộ nguồn rẻ tiền, no-name đi cùng với các case giá rẻ. Do giảm giá nên một số bộ nguồn đó chỉ đáp ứng đúng tính năng khi còn mới. Vì vậy nên thử các bộ nguồn khác nhau, bạn có thể sẽ ngạc nhiên. Nguồn không tốt có thể làm hỏng phần cứng và dữ liệu, vì vậy tiết kiệm có thể là không tiết kiệm trong khi một bộ nguồn tốt có thể dùng được nhiều năm. Nếu nguồn điện nơi bạn ở không ổn định, một bộ lưu điện là đáng đầu tư. Thiết bị chống sốc điện chỉ chống sốc không chống được giảm điện áp.

Test bộ nhớ rất dễ dàng chỉ tốn thời gian. Phần lớn các đĩa Linux Live CD đều có menu test bộ nhớ. Cần phải boot máy bằng Live CD để dùng ít bộ nhớ nhất vì chỉ test được vùng bộ nhớ không sử dụng. Nên test trong chế độ full test ít nhất hai lần và có thể để chạy qua đêm. Càng test kỹ càng chắc là bộ nhớ OK. Nếu đã có lỗi thì nên thay bộ nhớ khác.

Card màn hình.

Các cách làm nói trên không áp dụng cho card màn hình. Các driver card màn hình nằm trong phần mềm X.org, trừ các card ATI hoặc Nvidia vừa có driver nguồn mở vừa có driver nguồn đóng của chính hãng (tốt hơn). Nếu cần các hiệu ứng 3D để chơi game hay kích hoạt các hiệu ứng màn hình thì nên dùng driver chính hãng.

Nếu các driver chính hãng có trong kho phần mềm của bản Linux đang dùng thì cài từ đó dùng trình package manager là tốt nhất vì khi cài nó sẽ thay đổi cả file xorg.conf kiểm soát cấu hình đồ hoạ. Còn nếu phải tải driver từ site của hãng về thì cần đọc kỹ hướng dẫn cài đặt.

Mất màn hình đồ hoạ.

Sau khi đã cài đặt xong Linux, khởi động lại máy, thay vì màn hình đồ hoạ, bạn chỉ thấy màn hình đen xì với con trỏ nhấp nháy (hoặc màn hình đồ hoạ nhưng độ phân giải thấp, màu xấu, màn hình méo). Điều gì xảy ra? Thường nguyên nhân là vì chương trình cài đặt đã không tự phát hiện được đúng các thuộc tính của card màn hình và màn hình. Vì vậy phải cấu hình lại card màn hình, màn hình.

(Hiện tượng trên cũng xảy ra khi bạn chỉnh một số thông số của card màn hình, màn hình)

Dùng giao diện giòng lệnh.

Để cấu hình lại card màn hình, màn hình (và cả bàn phím, chuột), chạy các lệnh sau đây:

  • openSUSE – yast2
  • Debian – dpkg-reconfigure xserver-xorg
  • Ubuntu – sudo dpkg-reconfigure xserver-xorg
  • Mandriva – XFdrake

Các lệnh trên sẽ mở ra một giao diện text để cấu hình. Nếu bản Linux của bạn không có các lệnh trên thì dùng lệnh:

X -configure

Sau khi cấu hình xong, nếu vẫn còn ở giao diện dòng lệnh thì chạy lệnh sau để khởi động giao diện đồ hoạ:

startx

Nếu màn hình đồ hoạ vẫn không khởi động được thì tìm lỗi trong file:

/var/log/ Xorg.0.log

.trong đó những dòng có chứa cụm ký tự (EE) là thông báo lỗi. Có thể tìm nhanh thông báo lỗi bằng lệnh sau:

grep EE /var/log/Xorg.0.log


Posted in Linux. Thẻ: . 1 Comment »

LinuxLinks, cổng thông tin tổng hợp về Linux-phần mềm nguồn mở

Ngày 28/2 vừa qua, tạp chí tin học nổi tiếng PCWorld chính thức công bố site LinuxLinks (www.linuxlinks.com), một thứ cổng thông tin tổng hợp về phần mềm nguồn mở.

Một lượng rất lớn các nguồn thông tin khác nhau trên Internet về Linux-phần mềm nguồn mở được tập hợp và phân loại  (dành cho người mới bắt đầu, sách, tài liệu, phần mềm, v.v… )

Điểm qua thấy một số trang hay:

Posted in Linux. Thẻ: . Leave a Comment »

Một vài lỗi đọc file WinWord

1- Lỗi nhận font:

Thỉnh thoảng có file WinWord (ví dụ một vài file tải về từ website chinhphu.vn) khi mở trong OpenOffice bị lỗi nhận font. Ở nhiều nơi, cùng một từ hiển thị thành hai kiểu font khác nhau: Times New Roman và Times New Roman (Vietnamese). Đây là lỗi chứ không phải trên máy có font Times New Roman (Vietnamese) hay không vì trong cùng một từ không thể dùng hai font khác nhau được. Khi mở cũng file đó trong WinWord nhận thống nhất là font Times New Roman.

Dùng một chương trình đọc file text (KWrite) để mở file nói trên thì thấy trong mã file có khai báo font Times New Roman (Vietnamese). Như vậy là file đó hoặc template của nó có dùng font này nhưng đã xóa đi rồi. WinWord nhận đúng là trong các ký tự đã gõ không dùng font đó nên hiển thị đúng. OpenOffice có lẽ không hiểu đoạn mã đó nên hiển thị bị loạn.

Cách sửa cũng đơn giản: đổi tất cả về font Times New Roman. Tuy nhiên lỗi này cũng cảnh báo cho biết OpenOffice đọc file Microsoft cũng có lúc chưa thật chuẩn (mặc dù rất hiếm gặp).

2- Lỗi đánh số

Thực ra đây là lỗi người dùng thì đúng hơn. Trong WinWord cũng như Writer đều có sẵn định dạng các mức đề mục (Heading, Heading 1, Heading 2, …). Mỗi Heading đó đều có thể được đánh số tự động hoặc không đánh số tùy theo ý người dùng (1. Heading 1, 1.1 Heading 2, 1.1.1 Heading 3, v.v…).

Dùng Heading còn cho phép tạo mục lục tự động và tham chiếu chéo (cross-reference).

Tuy nhiên đã có trường hợp bị lỗi khi mở file WinWord có heading trong Writer: các số thứ tự của heading bị thay đổi loạn xạ không còn giống như khi mở trong WinWord. Nguyên nhân là do khi soạn trong WinWord, người soạn đã dùng heading không đánh số tự động, sau đó gõ số bằng tay tức là tự động hóa một nửa. WinWord hiểu được kiểu đánh số đó nên vẫn hiển thị đúng. Writer thì máy móc hơn: khi mở nó thấy có heading và số nên hiểu là tự động hoàn toàn và đánh số theo kiểu đó.

Nếu trong WinWord, dùng heading với số tự động thì mở trong Writer không gặp lỗi này.

Vụ triển khai Linux lớn nhất, tiết kiệm nhất, độc đáo nhất trong giáo dục.

Feb. 19, 2009- Userful, một công ty Canada chuyên về thiết bị ảo hoá máy trạm Linux vừa ra thông cáo báo chí về một vụ triển khai máy tính Linux được coi là lớn nhất thế giới hiện nay. Kết hợp với công ty bán thiết bị terminal ảo ThinNetworks, Userful vừa thắng một hợp đồng triển khai 356.800 máy trạm dùng thiết bị “Userful Multiplier” cho các trường học của Brazin.

(Click for larger view of Userful Multiplier kit)

Công nghệ của Userful Multiplier bắt nguồn từ sản phẩm DiscoverStation có giá dưới $50 một máy. Phần mềm ảo hoá cho phép 10 người dùng chung một máy tính, mỗi người có một màn hình, bàn phím và chuột riêng cắm vào một USB hub. Máy tính cũng cần có thêm card màn hình..

Khi ta đang đọc thư, lướt web, …. máy tính chạy không. Kết hợp 10 người dùng chung tận dụng được công suất máy, tiết kiệm chi phí đầu tư. điện. Nhất là trong giáo dục, cường độ sử dụng máy không cao.

Phần mềm ảo hoá Userful Multiplier có thể chạy trên bất cứ hệ điều hành Linux nào. Trong dự án này, các máy tính được cài hệ điều hành Linux Educacional 2.0 do bộ Giáo dục Brazin xây dựng. Năm ngoái, hệ điều hành này bắt đầu được cài trong các phòng máy tính của các trường phục vụ cho 52 triệu học sinh Brazin. Linux Educacional dựa trên nền hệ Linux Debian, dùng môi trường đồ họa KDE 3.5, các bộ phần mềm KDE-Edu, KDE-Games và một số công cụ do bộ Giáo dục phát triển.


Linux Educacional 2.0
(Click to enlarge)

Ngoài bộ Giáo dục, Userful kết hợp với các công ty Brazin khác như ThinNetwork, công ty máy tính Positivo, Daruma và Itaultec để triển khai dự án. Pha đầu của dự án bao gồm 18.750 máy cho các trường nông thôn đã hoàn thành và đang hoạt động tốt. Pha tiếp theo sẽ triển khai trên tất cả các trường của 5.560 thị trấn, thành phố của Brazin.

Userful có thiết bị đấu nối (USB hub) của riêng công ty (xem hình ở trên), nhưng ở đây dùng thiết bị của công ty ThinNetwork thiết kế riêng cho dự án. Sau dự án này, ThinNetwork tổng cộng đã triển khai trên 800.000 máy trạm đơn giản (thin clients) và terminal chạy Linux và Windows trên khắp Brazin.

Chi phí $50 gồm tiền phần mềm ảo hoá và USB hub, không tính tiền mua màn hình, bàn phím và chuột.

Tiết kiệm chi phí và giảm lượng khí thải cacbon

So với phương án dùng toàn bộ các máy tính riêng biệt, Brazin tiết kiệm được 60% chi phí ban đầu và 80% lượng điện tiêu thụ hàng năm, giảm đáng kể chi phí quản lý và hỗ trợ. Với lượng điện tiết kiệm được sẽ giảm 170.000 tấn khí CO2 thải ra khí quyển của các nhà máy nhiệt điện hoặc tương đương với bớt được 28.000 ôtô khỏi lưu thông, Userful cho biết.

Thông tin thêm

Toàn văn thông cáo báo chí của Userful xem tại đây.

Userful Multiplier có giá bán lẻ $70 một bộ cho các trường học, và $100 cho các cơ sở thương mại. Một bản Userful Multifier miễn phí cho hai người dùng có  tại đây. Thông tin thêm về ThinNetworks xem tại đây.

Điểm tin open source (18/2/2009)

Các tin điểm dưới đây không theo một thứ tự sắp xếp nào, đọc đến đâu thấy hay thì điểm vắn tắt. Bạn đọc quan tâm có thể nhấn vào tên mục tin để đến trang gốc (và có thể dùng chức năng dịch tự động từ Anh sang Việt của Google để xem cho nhanh).

Tăng tốc hệ thống bằng cách hạn chế dùng file swap.:Swap file dùng hỗ trợ cho RAM khi không đủ bộ nhớ nhưng cũng làm chậm hệ thống vì ổ cứng vốn chậm. Trong nhân Linux có một thông số điều khiển mức độ sử dụng swap file là swapiness. swapiness=0 nghĩa là swap file chỉ được dùng khi thật sự cần, swapiness=100 thì swap file luôn được dùng đến. Kiểm tra trị số đặt sẵn của swapiness bằng lệnh cat /proc/sys/vm/swappiness.

Mở System Monitor, xem tab System Load. Nếu Physical Memory còn dư thì có thể mở file /etc/sysctl.conf bằng quyền root rồi thêm dòng vm.swappiness = x vào (x tùy chọn từ 0 trở lên) rồi restart lại máy.

Cuba xây dựng hệ Linux riêng.: Cuba vừa công bố bản Linux riêng của mình có tên gọi là Nova dựa trên hệ Linux Gentoo. Nên nhớ rằng tại Cuba chỉ mới gần đây máy tính mới được bán rộng rãi.

Moonlight đưa Silverlight lên Linux.: Silverlight là công nghệ độc quyền của Microsoft dành để chạy multimedia (video, music, hoạt hình) trên Web tương tự như Adobe Flash. (mà ứng dụng điển hình là video You Tube). Vì thế Silverlight chỉ cài được vào các trình duyệt chạy trên Windows. Novell, công ty đối tác nguồn mở của Microsoft, mới đây đã công bố bản Moonlight 1.0 dùng cùng công nghệ như Silverlight 1.0 nhưng chạy trên Linux.

Site Media của báo Thanh niên dùng Silverlight 2.0. Vì vậy trước đây nó không xem được trên các máy Linux và hiện nay cũng vậy vì bản Moonlight mới có 1.0. Đợi thêm chút nữa.

Các ứng dụng nguồn mở gần đây dược đưa vào osalt.com: osalt.com là site cho phép tìm kiếm các phần mềm nguồn mở thay thế cho các phần mềm nguồn đóng (osalt – open source as alternative). Mới đây, các phần mềm nguồn mở sau được bổ xung vào danh sách phần mềm nguồn mở của site:

PostBooks: PostBooks là một gói phần mềm quản lý doanh nghiệp nguồn mở đầy đủ gồm các mođun kế toán, quản lý quan hệ khách hàng (CRM) và quản lý nguồn lực doanh nghiệp (ERP).

Typo3: đây là một phần mềm quản lý nội dung (content management system – CMS) cùng loại như Joomla!, Drupal, Mambo,…(search “linux content management system” để tìm thêm). Thường các hệ CMS nhiều tính năng thì khó sử dụng, Typo3 được nhận xét là cạnh tranh được với các hệ CMS thương mại và dễ dùng.

Ứng dụng PMNM trong các tổ chức.: Tóm tắt một báo cáo nghiên cứu gần đây về tình hình ứng dụng PMNM trong các tổ chức.

Khả năng của Zimbra: trường đại học tổng hợp Pensylvania đã chuyển 13.000 user từ hệ thống email nguồn mở cũ sang Zimbra trong vòng 2 ngày. Zimbra là một hệ thống email nguồn mở tương đương với Exchange-Outlook mới đây được Yahoo mua lại. Tin này cho biết về khả năng áp dụng Zimbra, còn báo cáo chi tiết về việc này do công ty tư vấn Gartner lập thì phải mua (95$).

375.000 máy tính dùng chung bằng PMNM: Userful Corp., một công ty Linux Canađa vừa ký được một hợp đồng cung cấp Multiplier, một PMNM chia sẻ máy tính, cho 375.000 máy tính trong các trường học trên khắp đất nước Brazin. Multiplier là phần mềm điều khiển cài trên một máy tính dùng hệ điều hành nguồn mở cho phép 10 user dùng chung máy tính đó, mỗi user có màn hình, bàn phím, chuột riêng (Rất tiết kiệm và hiệu quả! Ngành giáo dục Việt nam nên quan tâm đến vấn đề này).

PMNM trong luật kích thích kinh tế Mỹ 787 tỷ USD: sau khi được hai viện Quốc hội Mỹ thông qua, tổng thống Obama đã ký ban hành chính thức luật kích thích kinh tế Mỹ 787 tỷ USD. Đáng chú ý là trong văn bản luật hơn 1000 trang rất chi tiết đó có một điều khoản liên quan đến PMNM:

Mục 4104(b), trang 488 chỉ thị cho bộ trưởng Y tế nghiên cứu về khả năng, chi phí, công cụ và tính tương thích của công nghệ thông tin y tế nguồn mở báo cáo lại cho Quốc hội trước ngày 1/10/2010. Quốc hội Mỹ sẽ lập một tiểu ban chuyên trách về vấn đề này bao gồm đại diện của một loạt cơ quan có liên quan.

Tiếp theo một thông tin trước đây về việc chính quyền Obama yêu cầu một chuyên gia PMNM kỳ cựu lập báo cáo về khả năng của PMNM, đây là lần đầu tiên, Quốc hội Mỹ chính thức quan tâm đến vấn đề này. Gần đây, cộng đồng nguồn mở có gửi một bức thư ngỏ cho tổng thống Obama kêu gọi chính quyền Mỹ tăng cường ứng dụng PMNM.

Kết quả của những hoạt động nói trên thì còn phải chờ. Nhưng ngay việc có những hoạt động đó cũng chứng tỏ PMNM đã có một độ chín nhất định.

Suy thoái kinh tế, tiền nong eo hẹp là lúc buộc người ta phải đi tìm các giải pháp hiệu quả, chi phí thấp. Đó là thời cơ cho PMNM.

Máy tính đeo vào chùm chìa khoá: trước đây đã có một post trên blog này giới thiệu cách cài Linux vào USB nhưng cón khá phức tạp. Hiện nay, ổ USB rẻ, dùng công cụ UNetbootin có thể cài dễ hơn một lô hệ Linux tự chọn lên USB. (Ubuntu có sẵn tool để cài kiểu này trong menu).

Máy tính cũ mà giao diện vẫn đẹp: theo quan niệm thông thường, máy tính cũ, cấu hình thấp thì không chạy được KDE4, thậm chí GNOME và phải dùng Xfce, IceVm giao diện xấu.

Elive là một bản Linux dựa trên nền Debian (như Ubuntu – do đó kho phần mềm rất lớn) dùng phần cứng tối thiểu nhưng các hiệu ứng đồ hoạ khá đẹp. Thậm chí có cả các hiệu ứng Compiz (xem link trên).

Một lỗi dịch thuật của VietnamNet gây chấn động.

Tôi phải viết bài này vì cho đến hôm nay khi điểm tin về Linux-open source vẫn còn những tin thế này:

” Linux in Vietnam

….. While you can probably guess even with no Spanish knowledge, it says by June 30 2009, 100% of the servers in the government will run Linux and by the end of the year, 70% of the agencies should use OpenOffice, …

Here in Nicaragua, the government is quickly moving to Linux which is cool but we are less than six million. Viet Nam is a bit more significant. Linus said it first: World Domination.

Nguồn: http://www.linuxjournal.com/content/linux-viet-nam

Đầu đuôi câu chuyện là như sau:

Như đã nói trong một post trước (Đòn quyết định của Chính phủ về PMNM), ngày 30/12/2008 bộ Thông tin và Truyền thông ban hành chỉ thị “Về đẩy mạnh sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước” trong đó có ba đoạn nguyên văn là:

“Chậm nhất đến ngày 30/6/2009, đảm bảo 100% máy trạm của đơn vị chuyên trách về CNTT và Sở TT&TT được cài đặt…..

….Chậm nhất đến ngày 31/12/2009, đảm bảo 70% máy trạm trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố được cài đặt….

…..đảm bảo đến ngày 31/12/2010 hầu hết cán bộ, nhân viên trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố sử dụng các phần mềm nêu trên trong công việc.”

“Phần mềm nêu trên” ở phần đầu chỉ thị là “…các phần mềm: văn phòng OpenOffice, thư điện tử trên máy trạm Mozilla ThunderBird, trình duyệt web Mozilla FireFox và bộ gõ tiếng Việt Unikey”.

Trong bản tin tiếng Anh ngày 6/1/2009 của VietnamNet (http://english.vietnamnet.vn/tech/2009/01/822425/) ba đoạn trên được dịch là:

“…Accordingly, by June 30, 2009, 100% of servers of IT divisions of government agencies must be installed with open source software..

….The instruction also said that by December 31, 2009, 70% of servers of ministries’ agencies and local state agencies…

….By December 31, 2010, all staff at these agencies must be able to use open source software in their jobs.”

Còn đoạn đầu về phần mềm thì dịch như thế này: “Open source software products are OpenOffice, email software for servers of Mozilla ThunderBird, Mozilla FireFox web browser and the Vietnamese typing software Unikey.”

Tin này lập tức gây xôn xao trong cộng đồng nguồn mở thế giới. Nhiều báo và tạp chí chuyên ngành trích nguyên văn đoạn dịch trên. (Ví dụ, bạn có thể gúc tên bài báo trên (nhớ để trong ngoặc kép) “Vietnam to widely use open source software” sẽ ra 65.000 kết quả!.) Cũng đáng xôn xao thật vì hiểu theo đúng bản dịch “70% máy chủ của các cơ quan chính phủ cài phần mềm nguồn mở” và “đến 31/12/2010 toàn bộ công chức phải sử dụng phần mềm nguồn mở trong công việc”  thì Việt nam tiến nhanh nhất thế giới!

Một số báo nghi ngờ thông tin nói trên nên viết về nó thế này:

Did Vietnam take open source too far? (http://blogs.zdnet.com/open-source/?p=3268)

Vietnam: 100 percent open source by 2010? (http://news.cnet.com/8301-13505_3-10136660-16.html)

Tôi nhớ là hồi đó hình như có site Yahoo NewsPCWorld là dịch đúng, có lẽ họ dịch từ nguyên bản tiếng Việt chứ không trích lại, từ “máy trạm” được dịch đúng là “workstation”. Tôi có nhấn vào Send your feedback bên dưới bài báo của VietnamNet để thông báo cho ban biên tập biết lỗi trên. Mấy hôm sau thì thấy các từ “server” được sửa thành “client”, vẫn sai (và đoạn sai email software for servers vẫn nguyên, chú thích ảnh sai vẫn chưa sửa!). Tôi nhấn tiếp Send your feedback, lần này thì cái link đấy lại dẫn đến gửi mail cho evnn@vasc.com.vn, mà hòm thư đấy lại đầy không nhận thư mới nữa!

Cuối năm 2007, trên báo điện tử VnMedia (cũng thuộc tập đoàn Bưu chính Viễn thông) có bài viết “Linux đang dần chiếm lĩnh thị trường PC” (http://www.vnmedia.vn/newsdetail.asp?NewsId=111165&CatId=35) trong đó câu cuối là: ” Ứng dụng được sử dụng nhiều nhất trên Linux là Adobe Photoshop và Dreamweaver. Đứng ở vị trí tiếp theo là AutoCAD.”

Những ai hiểu biết về PMNM đều phải mỉm cười trước câu này. Đây cũng là lỗi dịch sai, lần này từ Anh sang Việt. Nguyên văn câu đó tổng kết kết quả một cuộc điều tra ý kiến của Linux Foundation “The applications users would most like to get their hands on are Adobe’s Photoshop and Dreamweaver – second place is held by AutoCAD.”(http://www.channelregister.co.uk/2007/11/23/linux_desktop_survey/)

Câu kể trên tương ứng với câu hỏi điều tra là:”Which Windows applications would you like to see ported to a Linux environment to enable Linux desktop/client deployments?” (http://www.surveymonkey.com/sr.aspx?sm=WE9PoU_2bO_2b9Incc1aPjQTMvqIHQ7sZ6Y5sA1yP920aDE_3d)

Dịch chính xác phải là: ” Những ứng dụng mà người dùng mong có nhất (nhưng hiện không có trên Linux – nd) là Photoshop và Dreamweaver của hãng Adobe, sau đó là AutoCAD“.

Tôi nhớ là cũng có góp ý cho báo, lần đầu viết vội không rõ ý nhưng lần sau thì hòm thư cũng đầy! (User quota exceeded: SMTP <tintuc@vdc.com.vn>).

Trong hai lỗi trên, lỗi đầu do người dịch không hiểu rõ khái niệm “máy trạm”, lỗi sau do không hiểu tình hình open source.

Dịch kỹ thuật đương nhiên là phải thạo nghề. Nhưng trong những trường hợp trên, người dịch chỉ thạo Windows mà lấn sang sân open source thì quả thật hơi liều lĩnh.

Ban biên tập các báo nên biết điều này và cũng nên thường xuyên xóa bớt thư trong hòm thư của mình.



UNISON – phần mềm truyền thông hợp nhất nguồn mở

1- UNISON là gì?

Unison là bộ phần mềm client – server nguồn mở và miễn phí quản lý thống nhất các công cụ truyền thông trong văn phòng (email, điện thoại, tin nhắn, danh bạ, …)còn gọi là phần mềm truyền thông hợp nhất (unified communication software).

Unison gồm Unison Server và Unison Desktop.

Unison Server chạy trên máy chủ Linux, thực hiện các chức năng sau:

  1. Máy chủ email (gồm cả antivirus và antispam).
  2. Máy chủ dịch vụ thư mục (LDAP, danh bạ cá nhân và tập thể)
  3. Máy chủ tổng đài điện thoại PBX (VoIP và điện thoại thường có SIP adapter).
  4. Máy chủ lịch công tác (lịch cá nhân và lịch tập thể)
  5. Máy chủ tin nhắn (instant messaging, tin nhắn nội bộ và ra ngoài mạng với ICQ, Google Talk, MSN và Jabber).

unison-serverUnison Desktop chạy trên các máy trạm Windows hoặc Linux, thực hiện các chức năng sau:

  1. Gửi, nhận email (email client)
  2. Lập lịch cá nhân và lịch nhóm (Calendars and group scheduling)
  3. Danh bạ cá nhân và các nhóm gửi thư (Contacts and distribution lists)
  4. Chat (Instant Messaging)
  5. Điện thoại.
  6. Hiển thị trạng thái user đang rỗi hay bận (User presence)

2- Các đặc điểm chính:

1- Unison Server và Desktop thay cho  MS Exchange + Outlook + tổng đài điện thoại (hoặc  Domino + Lotus Note + tổng đài điện thoại)

2- Một bộ Unison Server thay cho các thứ sau (ví dụ cho 100 user):

Unison Microsoft ‘semi-unified’ communications
Hardware
  • 1 server for Unison Server™
  • 1 server for Exchange Server 2007
  • 1 server for Office Communications Server (OCS) 2007
  • 1 server for Active Directory®
  • 1 tổng đài PBX (eg Nortel/Avaya)
IP telephone 100 telephones 100 telephones
Software
  • Linux server (RedHat or CentOS)
  • Unison Server™ license
  • 100 copies of Unison Desktop™
  • 3 copies Windows Server 2003
  • Exchange Server license
  • OCS 2007 license
  • 100 Exchange client access licenses (CALs)
  • 100 OCS CALs
  • 100 copies of Office Communicator
  • 100 copies of Microsoft Outlook 2007(Optional, if not owned)
Thời gian khai triển 46 hours 155 hours

Dùng Unison chỉ mất tiền mua 01 máy chủ (loại thông thường), điện thoại thì hai bên ngang nhau, còn lại miễn phí hết. Bên Microsoft mọi người tự tính giá (trong bảng trên còn thiếu phần mềm antivirus và antispam)

Đã có công ty nghiên cứu thị trường thử tính chi phí cho phương án Microsoft: 60USD/tháng với 500 user (xem chi tiết tại đây )

3- Unison Desktop tương tự Microsoft Outlook, giao diện như sau:

1

So sánh tính năng:

Unison Microsoft Outlook 2007
E-mail Yes Yes
Calendars and group scheduling Yes Yes
Contacts and distribution lists Yes Yes
Instant messaging Yes Separate client
User presence Yes Separate client
Telephony Yes X
Tasks X Yes

4- Quản trị:

Unison được quản trị thống nhất qua giao diện web (không phải gõ lệnh). Ví dụ:

10-1-new-user-general1

3- Kết luận:

Phần mềm Mail Server nguồn mở đã có từ lâu với những tên tuổi như Postfix, Dovecot, … (cấu hình và quản trị khá phức tạp). Một nghiên cứu gần đây cho thấy Mail Server nguồn mở vẫn chiếm vị trí thống trị trên thị trường. Ngoài các Mail Server thuần túy, cũng đã có những phần mềm cộng tác (còn gọi là phần mềm nhóm, tương tự như MS Exchange): Zimbra, Open-Xchange, Scalix …Các tổng đài PBX nguồn mở có Asterik, Pingtel, …

Các phần mềm cộng tác nguồn đóng nổi tiếng có Exchange – Outlook của Microsoft, Domino – Lotus Notes của IBM. Microsoft cũng mới công bố phần mềm truyền thông hợp nhất Office Communication Server 2007.

Unison có lẽ là bộ phần mềm truyền thông hợp nhất nguồn mở duy nhất cho đến nay. Ngoài phần lược trích ở trên, trên site của hãng còn rất nhiều phân tích về ưu điểm của sản phẩm này.

Một trong những nhược điểm của các phần mềm máy chủ nguồn mở tiền bối là việc tích hợp, cấu hình và quản trị khá phức tạp. Theo như giới thiệu ở đây thì Unison đã tích hợp sẵn, cấu hình và quản trị cũng có vẻ dễ hơn. Tôi sẽ thử bộ phần mềm này và có báo cáo chi tiết sau.

Trộn Windows vào nhân Linux!

Trước đây, tôi đã có một post giới thiệu ReactOS, một hệ điều hành:

  • Tự do, nguồn mở, viết từ đầu, không dựa vào Linux, cũng không dùng thiết kế của Unix.
  • Theo thiết kế của Windows NT từ mức phần cứng đến mức ứng dụng (thiết kế Windows NT là thiết kế bắt đầu từ Windows NT,  2000, qua XP, 2003 và đến nay là Vista vẫn dùng, với các phiên bản nâng cấp, dĩ nhiên).
  • Chạy được các ứng dụng và driver của Windows, nhằm cung cấp một giải pháp thay thế Windows cả trên máy trạm và máy chủ (tham vọng hơi lớn!).

Tóm lại đó là một bản Windows nguồn mở, không phải của Microsoft, dùng lại được các driver và ứng dụng Windows hiện có. Nghe rất hấp dẫn!

Dự án này bắt đầu năm 1996, hiện nay vẫn đang phát triển mạnh nhưng cũng mới đến version 0.3.7 và đang là bản alpha (khoảng 30MB) chỉ dùng thử chưa dùng thật được. Trên các ảnh màn hình thấy cũng khá đẹp, chạy được OpenOffice, trò chơi Quake, Firefox, Thunderbird, Visual Basic, …

Ngoài ra, người dùng Linux đều biết đến wine, một phần mềm dùng để chạy các chương trình Windows trên Linux. Wine không tiêu tốn thêm cpu hay bộ nhớ như máy ảo. Dự án này bắt đầu năm 1993, đến nay vừa chính thức ra đời phiên bản 1.0.1, đã chạy được khá nhiều phần mềm Windows (danh sách), nhưng chưa phải tất cả. Ví dụ: MS Office 2007, Photoshop CS3, World of Warcraft 3.0, … Cũng còn một vài phần mềm nữa tương tự wine, nhưng thu phí (CrossOver, Cedega,…)

Kết hợp hai dự án trên (có dùng mã nguồn của hai dự án đó) nhưng phát triển theo một hướng khác là dự án Linux Unified Kernel – LUK ( Nhân Linux thống nhất- hiện nay tên gọi chính thức là dự án Longene), website. Mục tiêu: xây dựng một nhân hệ điều hành máy tính chạy được các phần mềm ứng dụng và driver phần cứng của cả Windows và Linux. Cách làm: bổ xung các tính năng cơ bản của nhân Windows (lấy từ ReactOS) vào nhân Linux. Sản phẩm cụ thể là các bản patch vào nhân Linux hiện có của một bản Linux.

Các phần mềm Windows chạy trên LUK sẽ nhanh bằng chạy trên Windows và nhanh hơn là chạy bằng wine (thay cơ chế truy cập file kiểu client-server của wine bằng hệ thống file tích hợp).

Dự án bắt đầu năm 2006 và đến tháng 2/2009 sẽ ra đời phiên bản 0.2.3. Nếu căn cứ theo ảnh chụp màn hình thì có thể chạy được Starcraft, Photoshop, IE, … Dự án này sử dụng rất nhiều mã nguồn của hai dự án trước vì vậy tiến triển của nó phụ thuộc vào hai dự án đó. Tuy nhiên có thể thấy đây là một hướng rất hay.

Cả ba dự án trên đều thuộc loại dự án khó (có lẽ do Microsoft giữ kín nguồn), tiến triển khá chậm.

KDE chạy trên Windows!

Với một hệ Linux, cùng một lúc cài vài ba môi trường đồ họa (KDE, GNOME, Xfce, IceWM, Fluxbox, …) chẳng có gì là khó. Hiện có khoảng hơn một tá môi trường đồ họa như thế. Mỗi môi trường có cái hay cái dở riêng: KDE4 đẹp lộng lẫy nhưng yêu cầu cấu hình cao và cũng chưa đủ độ chín, GNOME khá phổ biến, rất nhiều bản Linux lấy nó làm môi trường mặc định, Xfce là môi trường nhẹ, dành cho máy cấu hình thấp hoặc những người thích nhanh, không cầu kỳ về hình thức, v.v…Ứng dụng viết cho môi trường này, nói chung có thể chạy tốt trong môi trường khác. Lúc log in, có thể chọn môi trường nào tùy thích. Do đó:

  • Cùng một bản Linux có thể cài trên máy có cấu hình mạnh yếu khác nhau. Vd: máy mạnh chạy KDE4, máy yếu: Xfce. Các ứng dụng khác như OpenOffice vẫn giống nhau. Do đó với máy yếu vẫn dùng được hệ điều hành mới nhất, chỉ kém đẹp hơn máy mạnh.
  • Cùng trên một máy có thể log in vào các môi trường khác nhau. Vd: lúc cần làm việc nhanh dùng GNOME hoặc Xfce, lúc thong thả dùng KDE4 cho đẹp. Trong màn hình log in, nhấn vào icon dưới đáy màn hình đó để chọn.

Trước đây, thực hiện điều sau hơi khó vì mỗi môi trường lại có một bộ gõ tiếng Việt khác nhau: KDE dùng x-unikey, GNOME dùng xvnkb. Nay thống nhất được bộ gõ scim thì không còn là vấn đề nữa.

Nguyên một việc này cũng cho thấy cái tự do phóng khoáng của PMNM hơn hẳn Windows như thế nào.

(Ví dụ cách cài: với Mandriva 2009, mở Software Management, chọn Meta package, bên dưới mục Graphic Desktop chọn môi trường nào cài thêm tùy ý, sau đó cài gói ví dụ task-gnome-minimal. Các bản Linux khác, tên gói có thể khác: gnome-desktop, …).

Cài máy ảo lên Windows rồi cài Linux lên máy ảo cũng không còn là cái gì mới nữa. Điều dưới đây mới là mới:

Phiên bản KDE 4.2 mới nhất vừa ra đời 27/1/2009 có thể cài và chạy được trên Windows, MacOS (bản thử nghiệm) và sắp tới sẽ chạy trên OpenSolaris, FreeBSD.

Trong Windows (từ 2000 đến Vista), tải chương trình Installer (kdewin-installer-gui-latest.exe) tại đây. Sau đó cho chạy file nói trên và theo các màn hình hướng dẫn tùy chọn các chương trình để tải về tự động cài (khoảng vài chục MB). Sau khi cài xong, các chương trình KDE sẽ xuất hiện trong menu Start, nhấn vào chạy trực tiếp trên Windows (không phải qua máy ảo) như chương trình Windows thông thường (tuy hơi chậm), .

Màn hình ví dụ:

kdewin42_plasma-tasks-thumb-640xauto-3401

Chú ý là trên màn hình này chỉ có Windows Task Manager là của Windows. Còn lại panel, desktop, trình quản lý file Dolphin, các widget (đồng hồ, lịch, folder view…) đều của KDE. Bên dưới nó là Windows!

Hướng dẫn chi tiết xem thêm tại đây.

Tôi đã thử, gõ được tiếng Việt bằng unikey for Windows trong KWrite.

Linux Mint 6 (Felicia)

Năm kia, nếu tôi nhớ không nhầm thì Linux Mint luôn đứng trong TOP 5 trên DistroWatch. Trong 12 tháng qua, luôn đứng thứ 3 chỉ sau có Ubuntu và OpenSUSE. Vì vậy cũng đáng để tìm hiểu.

Theo DistroWatch.com:

“Linux Mint… ban đầu được công bố như một phiên bản của Ubuntu với media codecs cài sẵn, nay nó đã phát triển thành một trong những bản Linux thân thiện nhất với người dùng… Điều quan trọng nhất là đây là một dự án mà các nhà phát triển và người dùng tương tác với nhau thường xuyên…”

Các nguyên nhân thành công theo chính Linux Mint:

  • Một trong những bản Linux hướng người dùng nhất. Bạn có thể post ý kiến lên diễn đàn và tuần sau đã thấy nó được thực hiện trong phiên bản hiện hành.
  • Mint dựa trên nền Debian, một bản Linux ổn định nhất và có kho phần mềm lớn nhất.
  • Tương thích và sử dụng được các kho phần mềm của Ubuntu. Do đó số lượng phần mềm có sẵn rất lớn.
  • Có nhiều cải tiến trong cấu hình nên user dễ thực hiện.
  • Tập trung làm sẵn mọi việc đến mức tối đa có thể nên dễ sử dụng.

Một vài nhận xét sơ bộ: (bản Mint 6 dựa trên Ubuntu 8.10)

  • Nhóm phát triển khoảng 20 người, có bán dịch vụ support (30USD/tháng với người dùng ở nhà) và dựa vào tiền quyên góp, quảng cáo trên site. Mô hình kinh doanh kiểu này yếu và dễ suy thoái như PCLinuxOS. Hiện tại thì cập nhật nhanh: chỉ ít lâu sau khi có Ubuntu 8.10 đã có Mint 6.
  • Tiếng Việt trong Mint dùng scim-unikey gõ tốt. Khi cài nhớ cài scim-brige và vào Language Support để enable support to enter complex characters.
  • Có Control Center tập trung giống PCLinuxOS. Trong đó, ngoài những cái của GNOME, có thêm một số cái riêng của Mint (mintInstall, mintBackup, mintNany, …). Tuy thua Mandriva và PCLinuxOS ở các wizard, nhưng khá hơn Ubuntu. Riêng mintInstall là một trình quản lý các phần mềm khá, có nhiều thông tin xem trước khi cài: ý kiến nhận xét, điểm số, trang chủ, ….
  • Các multimedia codecs như gstreamer được cài sẵn nên dùng được ngay (nghe nhạc, xem video với khá nhiều format).
  • Dùng được các kho phần mềm của Ubuntu là một ưu điểm lớn: số lượng phần mềm nhiều và có thể search trong Synaptic theo cả các keyword có trong Description. Riêng mặt này Mandriva thua.
  • Giao diện được, tất nhiên là không bằng Mandriva.
  • Thừa kế luôn cả những nhược điểm của Ubuntu: vẫn dùng OpenOffice 2.4.
  • Bản chính thức dùng GNOME. Chỉ có hai phiên bản: Main Edition và Universal Edition. Bản Universal giống bản Mandriva Free: chỉ gồm các gói phần mềm nguồn mở. Cũng có những bản gọi là Community Edition dùng KDE, Xfce, Fluxbox.

Thử khả năng tương thích phần cứng:

Trên máy notebook Dell Inspiron 700m có cài 4 hệ điều hành: WinXP, Mandriva 2009, PCLinuxOS GNOME 2007 và Linux Mint 6. Nối thêm một màn hình ngoài LCD LG FLATRON L1718S. Lần lượt khởi động từng hệ điều hành nói trên để xem khả năng nhận biết màn hình ngoài. Kết quả:

  • Mandriva 2009 tốt nhất: nhận đúng cả hai màn hình với độ phân giải 1280×800, 65,3Hz (màn hình của notebook) và 1280×1024, 60Hz (màn hình ngoài LG). Trong System Settings, mục Display (cũng chính là công cụ KRandR Tray trong Tools – System Tools) cho phép chỉnh độ phân giải, xoay hướng màn hình, bố trí vị trí từng màn hình được. Tóm lại là đầy đủ.
  • WinXP: màn hình ngoài hiển thị đầy đủ nhưng lại theo tỷ lệ của màn hình notebook do đó bị co chiều thẳng đứng. Lâu không dùng Windows nên cũng không nhớ chỉnh ở đâu và có chỉnh được như Mandriva không.
  • Linux Mint 6: màn hình ngoài bị đặt ở độ phân giải 1024×768, đã chỉnh lại thành 1280×1024 nhưng không nhận.
  • PCLinuxOS: màn hình ngoài bị phóng to mất các mép màn hình. Thử chỉnh lại không được.

Tóm lại như đã nhận xét trong một post trước đây khi so sánh vài hệ Linux, Mandriva có vẻ tương thích phần cứng khá nhất và có các công cụ cấu hình đầy đủ nhất. Để khi nào có dịp sẽ thử với Ubuntu xem sao.

Kết luận: Nếu thích Ubuntu thì nên dùng Mint vì dễ dùng hơn.

Các kho phần mềm nguồn mở tại Việt nam

Một số công ty, tổ chức tại Việt nam hiện đã cung cấp các server lưu trữ phần mềm nguồn mở. Tìm kiếm, tải về và cập nhật từ các kho này đương nhiên là nhanh hơn nhiều so với các kho ở nước ngoài.

1- FPT

Địa chỉ server của FPT là http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/

Tại đây có các bản Linux Fedora, Ubuntu, CentOS, Mandriva, Debian, OpenSUSE, Slackware và một số phần mềm: OpenOffice, KDE, GNOME, Apache, ….

Trong các bản Linux, Ubuntu có vẻ đầy đủ hơn cả gồm các file iso cho desktop và server từ 6.04 đến bản mới nhất là 8.10. Ngoài ra còn có các kho phần mềm (repository) để cài đặt và cập nhật. Thay cho các repo của Ubuntu có thể add các địa chỉ sau:

deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-security main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-updates main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-proposed main restricted universe multiverse

(Bỏ chọn các kho tương ứng của Ubuntu).

OpenSUSE cũng có chất lượng kho tương đương Ubuntu (gồm cả bản iso 11.1 và các repo). CentOS có bản mới nhất là 5.2.

Mandriva trên server này quá cũ (chỉ có bản 2009.1 alpha và không cập nhật, chắc là không được đăng ký trong mirror list của Mandriva). Các phần mềm khá hơn: KDE có bản mới nhất 4.2, OpenOffice có bản 3.0 hoàn toàn Việt hóa, Firefox có bản 3.1 beta2.

Nhìn chung, server của FPT có nhiều PMNM, tốc độ khá nhanh (khoảng 250 – 300KB/s) xứng đáng là cty Tin học số 1 Việt nam. Việt nam thôi vì cách quản lý còn tùy hứng, cái nào không quan tâm thì bỏ. Hy vọng là FPT sẽ cải tiến.

2- OpenLAB:

Tên thì hoành tráng nhưng kho phần mềm có mỗi Ubuntu 8.10 và Moblin. Với Ubuntu 8.10 có thể add các repository này:

deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-security main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-updates main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-proposed main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-backports main restricted universe multiverse

Tôi không dùng cái này bao giờ nên không rõ chất lượng ra sao.

Hướng dẫn sử dụng Mandriva 2009

Tài liệu Hướng dẫn sử dụng Mandriva 2009 đã up lên site Mediafire (link ở góc trên bên phải màn hình blog). Đây là tài liệu cơ bản, dành cho người sử dụng bình thường, tiếp theo Hướng dẫn cài đặt Mandriva 2009 đã up lên trước đây.

Linux hay GNU/Linux và cấu trúc nhân Linux

CẤU TRÚC NHÂN LINUX

Lược dịch: zxc232

Nguyên bản: Anatomy of the Linux kernel

M. Tim Jones (mtj@mtjones.com), Consultant Engineer, Emulex Corp. 06 Jun 2007

I.Tóm tắt lịch sử Linux

Linux hay GNU/Linux?

Khi thì người ta gọi “hệ điều hành Linux”, lúc lại gọi là “hệ điều hành GNU/Linux”. Lí do là vì Linux thực ra là phần nhân của hệ điều hành. Nhiều các ứng dụng khác bổ xung kết hợp với nhân Linux làm thành một hệ điều hành sử dụng được, các ứng dụng đó phần lớn là phần mềm GNU. Vì vậy nhiều người coi gọi “hệ điều hành GNU/Linux” là đúng, còn tên Linux dùng để chỉ phần nhân của hệ điều hành đó.

GNU là các phần mềm của GNU Project, được gọi là GNU packages or GNU programs. Các thành phần chính gồm: bộ dịch GNU Compiler Collection (GCC), các công cụ mã nhị phân GNU Binary Utilities (binutils), lớp vỏ bash shell, thư viện C GNU C library (glibc), và các công cụ lõi GNU Core Utilities (coreutils).

(GNU Project cũng có dự án làm phần nhân hệ điều hành nhưng chưa xong. Vì vậy hiện nay các hệ điều hành mà ta vẫn gọi là Linux dùng nhân Linux của Linus Tovarlds kết hợp với các gói phần mềm nói trên của GNU Project. Do đó gọi hệ điều hành GNU/Linux thì hợp lý hơn – lời ND)

GNU là tên tắt đệ quy của GNU’s Not Unix: thiết kế phần mềm giống Unix nhưng là phần mềm tự do (free software) và không chứa mã Unix.

Tóm tắt lịch sử

Trong khi hiện nay Linux khá phổ biến thì lịch sử của nó lại khá mới. Thời kỳ bình minh của máy tính, các nhà lập trình viết chương trình cho phần cứng bằng ngôn ngữ của phần cứng đó. Do chưa có hệ điều hành nên chỉ một ứng dụng (và một user) có thể dùng một phần cứng lớn và đắt tiền tại một thời điểm. Đến 1950 mới bắt đầu có những hệ điều hành sơ khai.

Trong những năm 60, học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) và một số công ty kết hợp xây dựng một hệ điều hành thí nghiệm gọi là Multics (Multiplexed Information and Computing Service) cho máy tính GE-645. Một trong những công ty đó, AT&T, bỏ Multics và xây dựng hệ điều hành riêng của mình vào năm 1970 gọi là hệ Unics. Cùng với Unics, ngôn ngữ lập trình C cũng được phát triển và được dùng để viết hệ điều hành sao cho nó không phụ thuộc vào kiến trúc phần cứng.

Hai mươi năm sau, Andrew Tanenbaum tạo nên một phiên bản vi nhân (microkernel) của Unix dùng để chạy trên các máy tính cá nhân nhỏ gọi là hệ MINIX (minimal UNIX). Đó là hệ điều hành nguồn mở đầu tiên tạo cảm hứng cho Linus Torvalds xây dựng nên Linux vào đầu những năm 90.

Hình 1: Lịch sử các phiên bản nhân Linux

Trục đứng là số dòng lệnh, trục ngang là thời điểm công bố. Phiên bản đầu 0.11 (tháng12/1991) có 10.239 dòng lệnh. Phiên bản 2.6.0 (tháng12/2003) có gần 6 triệu dòng lệnh.

Linux phát triển nhanh từ dự án của một người thành một dự án lập trình toàn cầu gồm hàng nghìn nhà lập trình. Một trong những quyết định quan trọng nhất của Linux là nó chấp nhận tuân theo giấy phép phần mềm nguồn mở GPL (GNU General Public License). Giấy phép đó tránh cho nhân Linux không bị khai thác thương mại và cũng cho phép nó kết hợp được với các ứng dụng của GNU Project.

II.Giới thiệu nhân Linux

Một hệ điều hành GNU/Linux có thể phân thành hai vùng: vùng người dùng (User Space) gồm các thư viện C và các phần mềm ứng dụng (soạn văn bản, …); vùng nhân (Kernel Space) gồm ba thành phần chính như hình 2.

Trên cùng là lớp các ứng dụng của người dùng (User Applications). Bên dưới là lớp các thư viện C (GNU C Library). Lớp thư viện phục vụ cho giao diện các lời gọi hệ thống tạo liên kết giữa các ứng dụng và nhân Linux. Giao diện này quan trọng vì nhân Linux và các ứng dụng chiếm các vùng địa chỉ bộ nhớ được bảo vệ khác nhau. Mỗi ứng dụng có vùng địa chỉ ảo riêng còn nhân có một vùng địa chỉ duy nhất.

Nhân Linux có thể chia thành ba lớp. Trên cùng là giao diện các lời gọi hệ thống thực hiện các chức năng cơ bản như đọc, ghi. Bên dưới là phần mã nhân hệ điều hành (kernel code) hoặc chính xác hơn là mã nhân độc lập với kiến trúc vi xử lý (processor). Các mã lệnh trong lớp này dùng chung cho mọi loại processor mà Linux hỗ trợ. Lớp dưới cùng là các mã lệnh phụ thuộc vào kiến trúc từng loại processor (x86, x86-64, …).

III. Các hệ thống con chính của nhân Linux

Hình 3 dưới đây mô tả các hệ thống con chính của nhân Linux.

Hình 3: Các hệ thống con chính của nhân Linux

III.1Nhân là gì?

Như hình 3, nhân Linux thực ra là bộ quản lý các tài nguyên. Các tài nguyên gồm: các tiến trình (process), bộ nhớ (memory) và thiết bị phần cứng. Nhân Linux quản lý các tài nguyên đó và là người điều hành việc truy cập tài nguyên đồng thời của nhiều user. (User trong bài này được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những gì có nhu cầu sử dụng tài nguyên hệ thống: các tiến trình, các phần mềm, v.v….)

Updated (8/2009): bản đồ nhân linux có ở đây. Nhấn vào từng mục để xem chi tiết.

III.2Giao diện lời gọi hệ thống (System call interface – SCI)

SCI thực hiện các lời gọi hệ thống từ vùng ứng dụng vào nhân Linux. Giao diện này độc lập với kiến trúc bộ vi xử lý ngay cả trong cùng một họ vi xử lý. SCI có thể thực hiện các dịch vụ gọi hàm dồn kênh và tách kênh. Các gói liên quan được cài trong thư mục ẩn ./linux/kernel và phần độc lập với kiến trúc vi xử lý nằm trong ./linux/arch.

III.3 Quản lý các tiến trình (Process management)

Quản lý tiến trình đảm bảo việc thực hiện các tiến trình. Trong vùng nhân Linux, mỗi tiến trình được gọi là một mạch lệnh (thread) và được thể hiện thành một vi xử lý ảo (gồm mã lệnh, dữ liệu, các ngăn xếp và các thanh ghi của CPU). Trong vùng ứng dụng thì chỉ dùng từ tiến trình mặc dù Linux không phân biệt hai khái niệm này (threads và processes). Nhân cung cấp một giao diện lập trình ứng dụng (API) để: tạo tiến trình mới (fork, exec hoặc các hàm POSIX), ngừng tiến trình (kill, exit) và thông tin, đồng bộ giữa các tiến trình (signal hoặc các cơ cấu POSIX).

Quản lý tiến trình còn dùng để chia sẻ CPU giữa các mạch lệnh đang hoạt động. Nhân thực hiện một thuật toán lập lịch cố định bất kể đến các mạch lệnh đang tranh chấp quyền sử dụng CPU. Lịch này cũng hỗ trợ cả chế độ đa xử lý đối xứng (Symmetric MultiProcessing – SMP). Các gói liên quan được cài trong thư mục ẩn ./linux/kernel và phần độc lập với kiến trúc vi xử lý nằm trong ./linux/arch.

III.4 Quản lý bộ nhớ (Memory management).

Một tài nguyên quan trọng khác mà nhân Linux quản lý là bộ nhớ. Để sử dụng bộ nhớ hiệu quả theo cách mà phần cứng quản lý bộ nhớ ảo, bộ nhớ được chia thành các trang (mỗi trang là 4KB đối với phần lớn loại vi xử lý). Linux có các cơ cấu quản lý lượng bộ nhớ khả dụng và các cơ cấu phần cứng để mapping giữa bộ nhớ vật lý và bộ nhớ ảo.

Việc quản lý bộ nhớ còn làm nhiều hơn là chỉ quản lý các trang 4KB. Linux dùng một sơ đồ định vị lát (slab allocator) lên trên mỗi trang. Sơ đồ này dùng trang 4KB làm cơ sở nhưng tạo một cấu trúc bên trong, theo dõi trang nào đầy, trang nào mới dùng một phần, trang nào còn trống.

Khi nhiều user sử dụng bộ nhớ, dung lượng có thể không đủ. Khi đó các trang nhớ được chuyển sang ổ cứng. Quá trình này được gọi là trao đổi (swapping) giữa bộ nhớ và ổ cứng. Các gói phần mềm liên quan đến quản lý bộ nhớ đặt trong thư mục ./linux/mm.

III.5 Hệ thống file ảo (Virtual file system)

Hệ thống file ảo (VFS) là một khía cạnh hay của nhân Linux, cung cấp một giao diện trừu tượng hoá chung cho hệ thống file. VFS tạo nên một lớp chuyển đổi giữa SCI và các hệ thống file của Linux.

Hình 4: VFS tạo nên một lớp chuyển đổi giữa user và các hệ thống file.

Nằm trên cùng của VFS là lớp các API các chức năng như mở, đóng, đọc, viết file. Dưới cùng của VFS là lớp trừu tượng hệ thống file xác định các chức năng lớp trên thực hiện như thế nào. Đó là các plug-in đối với một hệ thống file cho trước (có trên 50 plug-in như vậy). Các phần mềm liên quan đến VFS nằm trong thư mục ./linux/fs.

Bên dưới lớp file hệ thống là bộ đệm cache (buffer cache) gồm các chức năng chung cho mọi hệ thống file (không phụ thuộc vào một kiểu hệ thống file riêng biệt nào). Lớp cache này tối ưu hoá việc truy cập vào các thiết bị vật lý bằng cách giữ dữ liệu trong một thời gian ngắn (hoặc đọc trước sao cho dữ liệu luôn có khi cần). Dưới bộ đệm cache là các driver thiết bị là giao diện của các thiết bị vật lý cụ thể.

III.6 Các ngăn xếp mạng (Network stack)

Các ngăn xếp mạng được thiết kế theo một kiến trúc lớp mô phỏng theo đúng kiến trúc lớp của các giao thức. Nhắc lại rằng IP là giao thức lớp mạng lõi nằm bên dưới giao thức vận chuyển (thường là TCP). Bên trên TCP là lớp socket được gọi đến qua SCI.

Lớp socket là API chuẩn của hệ thống con network, tạo nên một giao diện cho các giao thức mạng khác nhau. Lớp socket quy định một cách quản lý kết nối và di chuyển dữ liệu chuẩn hoá giữa các điểm đầu cuối. Tài nguyên mạng nằm ở thư mục ./linux/net.

III.7 Các driver thiết bị (Device drivers)

Phần lớn mã nguồn của nhân Linux là các driver để điều khiển các thiết bị phần cứng. Cây thư mục của mã nguồn nhân Linux có một thư mục con driver trong đó có các thư mục con ứng với các thiêt bị khác nhau. Mã nguồn driver nằm ở ./linux/drivers.

III.8 Mã lệnh phụ thuộc kiến trúc vi xử lý (Architecture-dependent code)

Phần lớn Linux độc lập với kiến trúc vi xử lý, nhưng cũng có những bộ phận cần phải theo đúng từng kiến trúc cụ thể để hoạt động được và hiệu quả. Thư mục con ./linux/arch chứa các mã nguồn phụ thuộc kiến trúc đó. Ví dụ với một máy trạm tiêu biểu, thư mục đó là i386,

IV.Các đặc điểm đáng chú ý của nhân Linux

Cùng với thời gian, nhân Linux đã sử dụng bộ nhớ và CPU ngày càng hiệu quả hơn và đặc biệt ổn định. Nhưng khía cạnh thú vị nhất của Linux là tính khả chuyển (portability) mặc dù kích cỡ lớn và độ phức tạp của nó. Linux có thể dịch để chạy trên rất nhiều loại processor và nền tảng phần cứng khác nhau đáp ứng các ràng buộc kiến trúc và nhu cầu khác nhau. Một trong những ví dụ là Linux có thể chạy trên một processor có bộ phận quản lý bộ nhớ hoặc không có bộ phận đó. Cổng uClinux của Linux hỗ trợ việc không có bộ phận quản lý bộ nhớ.

Ngoài tính khả chuyển và hiệu quả, dưới đây là một vài đặc tính đáng chú ý khác của nhân Linux.

Linux, với tư cách là một hệ điều hành nguồn mở, là nơi dùng để test các giao thức mới và những đặc điểm tiên phong của các giao thức đó. Linux hỗ trợ một số lớn giao thức mạng từ TCP/IP cho đến các giao thức mạng cao tốc (trên 1 Gigabit Ethernet – 1GbE – cho đến 10GbE). Linux cũng hỗ trợ các giao thức như SCTP (Stream Control Transmission Protocol) có nhiều đặc tính tiên tiến hơn TCP.

Linux cũng là một kernel động, cho phép thêm bớt các thành phần phần mềm trong khi đang chạy. Các thành phần đó gọi là các module tải động được (dinamically loadable kernel modules) có thể được tải vào bộ nhớ khi boot (khi tìm thấy một phần cứng mới cần đến nó) hoặc tải và rút ra khỏi bộ nhớ bất kỳ lúc nào bởi user.

(Một ổ cứng đã cài Windows trên một máy, khi mang ổ cứng sang máy khác phải cài lại Windows. Ngược lại, một ổ cứng cài Linux có thể mang sang máy khác vẫn chạy tốt. Một ví dụ khác: các hệ Linux cài trên ổ USB boot được có thể cắm vào bất kỳ máy nào để chạy.).

Một đặc tính mới của Linux gần đây là nó có thể dùng làm hệ điều hành cho các hệ điều hành khác (hypervisor). Kernel Linux gần đây đã được bổ xung tính năng máy ảo từ nhân (Kernel-based Virtual Machine – KVM). Tính năng này tạo ra một giao diện mới cho vùng người dùng, cho phép các hệ điều hành khác (Linux hoặc Windows) chạy trên KVM. Yêu cầu duy nhất là processor phải hỗ trợ tập lệnh ảo hoá mới.

V.Tìm hiểu tiếp

Trên đây ta mới chỉ lướt qua các nét chính của nhân Linux. Bạn đọc có nhu cầu nên tìm hiểu thêm chi tiết hơn trong danh sách các tài liệu tham khảo cho dưới đây.

Learn:

  • The GNU site describes the GNU GPL that covers the Linux kernel and most of the useful applications provided with it. Also described is a less restrictive form of the GPL called the Lesser GPL (LGPL).

  • UNIX, MINIX and Linux are covered in Wikipedia, along with a detailed family tree of the operating systems.

  • The GNU C Library, or glibc, is the implementation of the standard C library. It’s used in the GNU/Linux operating system, as well as the GNU/Hurd microkernel operating system.

  • uClinux is a port of the Linux kernel that can execute on systems that lack an MMU. This allows the Linux kernel to run on very small embedded platforms, such as the Motorola DragonBall processor used in the PalmPilot Personal Digital Assistants (PDAs).

  • Kernel command using Linux system calls” (developerWorks, March 2007) covers the SCI, which is an important layer in the Linux kernel, with user-space support from glibc that enables function calls between user space and the kernel.

  • Inside the Linux scheduler” (developerWorks, June 2006) explores the new O(1) scheduler introduced in Linux 2.6 that is efficient, scales with a large number of processes (threads), and takes advantage of SMP systems.

  • Access the Linux kernel using the /proc filesystem” (developerWorks, March 2006) looks at the /proc file system, which is a virtual file system that provides a novel way for user-space applications to communicate with the kernel. This article demonstrates /proc, as well as loadable kernel modules.

  • Server clinic: Put virtual filesystems to work” (developerWorks, April 2003) delves into the VFS layer that allows Linux to support a variety of different file systems through a common interface. This same interface is also used for other types of devices, such as sockets.

  • Inside the Linux boot process” (developerWorks, May 2006) examines the Linux boot process, which takes care of bringing up a Linux system and is the same basic process whether you’re booting from a hard disk, floppy, USB memory stick, or over the network.

  • Linux initial RAM disk (initrd) overview” (developerWorks, July 2006) inspects the initial RAM disk, which isolates the boot process from the physical medium from which it’s booting.

  • Better networking with SCTP” (developerWorks, February 2006) covers one of the most interesting networking protocols, Stream Control Transmission Protocol, which operates like TCP but adds a number of useful features such as messaging, multi-homing, and multi-streaming. Linux, like BSD, is a great operating system if you’re interested in networking protocols.

  • Anatomy of the Linux slab allocator” (developerWorks, May 2007) covers one of the most interesting aspects of memory management in Linux, the slab allocator. This mechanism originated in SunOS, but it’s found a friendly home inside the Linux kernel.

  • Virtual Linux” (developerWorks, December 2006) shows how Linux can take advantage of processors with virtualization capabilities.

  • Linux and symmetric multiprocessing” (developerWorks, March 2007) discusses how Linux can also take advantage of processors that offer chip-level multiprocessing.

  • Discover the Linux Kernel Virtual Machine” (developerWorks, April 2007) covers the recent introduction of virtualization into the kernel, which turns the Linux kernel into a hypervisor for other virtualized operating systems.

  • Check out Tim’s book GNU/Linux Application Programming for more information on programming Linux in user space.

  • In the developerWorks Linux zone, find more resources for Linux developers, including Linux tutorials, as well as our readers’ favorite Linux articles and tutorials over the last month.

  • Stay current with developerWorks technical events and Webcasts.

Get products and technologies

  • Order the SEK for Linux, a two-DVD set containing the latest IBM trial software for Linux from DB2®, Lotus®, Rational®, Tivoli®, and WebSphere®.

  • With IBM trial software, available for download directly from developerWorks, build your next development project on Linux.

Discuss

Posted in Linux. Thẻ: . 1 Comment »

Đòn quyết định của Chính phủ về phần mềm nguồn mở.

Kết thúc năm 2008 đầy khó khăn và chào đón năm 2009 đầy bất trắc, Chính phủ đã có một đòn quyết định về phần mềm nguồn mở bằng chỉ thị số  07 /2008/CT-BTTTT ngày 30/12/2008 của bộ Thông tin – Truyền thông với thái độ kiên quyết và chỉ tiêu định lượng rõ ràng:

1- Chỉ thị này liên quan đến việc ứng dụng các phần mềm nguồn mở đã có trong Danh mục các sản phẩm phần mềm mã nguồn mở đáp ứng được yêu cầu sử dụng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước (gồm các phần mềm: văn phòng OpenOffice, thư điện tử trên máy trạm Mozilla ThunderBird, trình duyệt web Mozilla FireFox và bộ gõ tiếng Việt Unikey). Danh mục này mở và sẽ còn tiếp tục bổ xung.

2- Chỉ thị bao trùm toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước dưới hình thức hơi vòng vo một chút: “…. chỉ thị cho: Các đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin (CNTT) của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi là Bộ, ngành) và các Sở Thông tin và Truyền thông (Sở TT&TT) của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là tỉnh, thành phố). (tất nhiên, bộ TT-TT chỉ có thể ra lệnh cho các đơn vị thuộc ngành dọc)

tuy nhiên yêu cầu cụ thể và định lượng thì bao gồm tất cả hệ thống quản lý nhà nước:

” Chậm nhất đến ngày 31/12/2009, đảm bảo 70% máy trạm trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố được cài đặt, 70% cán bộ, nhân viên được tập huân, hướng dẫn sử dụng, trong đó tối thiểu 40% cán bộ, nhân viên sử dụng các phần mềm nêu trên trong công việc.

Có kế hoạch để từng bước nâng dần số văn bản, tài liệu, thông tin trao đổi trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố được soạn thảo, xử lý bằng các phần mềm nêu trên; đảm bảo đến ngày 31/12/2010 hầu hết cán bộ, nhân viên trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố sử dụng các phần mềm nêu trên trong công việc.”

Chỉ thị này có lẽ là chỉ thị thứ hai của Chính phủ dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (sau chỉ thị về đội mũ bảo hiểm) có tính cách đột phá, phạm vi rộng. Có đạt được hiệu quả như việc đội mũ bảo hiểm không thì còn phải chờ hồi sau sẽ rõ. Tuy nhiên, có mấy điểm thấy ngay:

1- Giọng điệu kiên quyết, rõ ràng, có chỉ tiêu định lượng, có thời hạn hoàn thành, có cá nhân chịu trách nhiệm.
Chỉ thị này không đột ngột. Nó là một cột mốc của một quá trình bắt đầu từ:

  • Quyết định số 235/2004/QĐ-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án tổng thể về Ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008,
  • Quyết định số 169/2006/QĐ-TTg quy định phải ” Ưu tiên đầu tư, mua sắm sử dụng các sản phẩm phần mềm mã nguồn mở”,
  • Quyết định số 08/2007 của Bộ TT-TT ban hành ngày 24/12/2007, những cơ quan, tổ chức khi sử dụng vốn ngân sách nhà nước hoặc vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước sẽ phải ưu tiên ứng dụng các sản phẩm phần mềm nguồn mở
  • và một quy định sắp ban hành của bộ TT-TT yêu cầu phải dành tối thiểu 10% ngân sách IT cho phần mềm nguồn mở.

2- Việc lựa chọn 4 phần mềm nói trên là đúng và khôn khéo, đảm bảo thành công, đặc biệt là OpenOffice. Những ai đã từng dùng OpenOffice đều thấy rằng trong lĩnh vực quản lý nhà nước (chủ yếu là soạn văn bản, bảng tính đơn giản) thì mang tiền đi mua Microsoft Office là một việc làm lãng phí và vô trách nhiệm đến chừng nào. Thà mua Windows nghe còn có lý hơn, mặc dù trong hệ thống hành chính văn phòng, dùng Windows cũng là lãng phí.

3- Trong năm 2008, các hoạt động bảo vệ bản quyền tại Việt nam diễn ra khá nhộn nhịp. Hoạt động thanh tra bản quyền diễn ra suôt năm với nhịp độ chưa từng có, lần đầu tiên các cơ quan chính phủ ký hợp tác bảo vệ bản quyền với BSA, tổ chức chuyên về bảo vệ bản quyền nước ngoài, Chủ tịch Ủy ban Tài chính Thượng viện Mỹ thăm Việt nam cũng bày tỏ quan ngại về vi phạm bản quyền,…Tính “tự giác” của chúng ta tôn trọng các cam kết quốc tế lúc gia nhập WTO cộng với sức ép bên ngoài có lẽ là một trong những nguyên nhân ra đời chỉ thị này. Chủ trương này giúp chúng ta có thế mạnh “đối trọng” để thương thuyết trong những phi vụ mua bản quyền phần mềm, không để cho bất cứ nhà cung cấp độc quyền nào áp đặt.

Trước đây, với hệ thống Viễn thông – Internet, Việt nam đã là một trong những nước đi đầu trên thế giới tiến vào công nghệ mũi nhọn mà kết quả thì ngày nay chị quét rác cũng có mobile phone, Internet lan khắp hang cùng ngõ hẻm.

Trong lĩnh vực Công nghệ Thông tin, Đảng là người đi đầu trong việc ứng dụng phần mềm nguồn mở với chủ trương dùng Linux trên cả máy trạm và máy chủ. Với chỉ thị này, sau Hà lan có lẽ Việt nam là nước thứ hai quyết định dùng phần mềm nguồn mở trong hệ thống quản lý nhà nước.

Chúng ta có quyền tự hào về điều đó!

Khi mà ứng dụng Công nghệ Thông tin còn yếu, chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở càng sớm càng tốt, tránh được những hậu quả phải khắc phục khi căn bệnh “nghiện Windows” đã tràn lan. Chung sống hài hoà giữa phần mềm nguồn mở và nguồn đóng, sử dụng chúng một cách hợp lý, tiết kiệm là chủ trương đúng đắn nhất hiện nay.

Bước tiếp theo rất nên làm và hoàn toàn khả thi là dùng Linux trong toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước (phối hợp với một hàm lượng nhỏ Windows trong thời kỳ chuyển tiếp).

Đối với các cán bộ triển khai, các fan của phần mềm nguồn mở, chỉ thị này đúng là cây gậy họ đang cần. Cám ơn Mr. Lê Doãn Hợp!

Ở trên toàn là mầu hồng, pha thêm tý xám vào cho nó cân bằng:

1- Bắt dân đội mũ bảo hiểm thì dễ, bắt chính đội ngũ công chức của mình tuân theo một chủ trương thống nhất, thay đổi thói quen thì ??? Liệu bộ TT-TT có thể “chỉ thị” cho các bộ, ngành, tỉnh, thành phố khác không? Đây là chủ trương chung của Chính phủ hay sáng kiến riêng của bộ TT-TT?

2- Trích: ” d) Các doanh nghiệp phần mềm, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ CNTT: Nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ phần mềm nói chung và PMNM nói riêng cho các cơ quan nhà nước theo hướng coi phần mềm như là dịch vụ (SaaS)”. Tay chuyên viên nào chấp bút đoạn này chắc không hiểu điều mình viết!

3- Có ý kiến nói unikey không thực sự mở?

Biên tập file pdf trong Linux.

Từ năm 2006 đến nay, Linux đã có bước tiến dài về biên tập file pdf.

1- Tạo file pdf: ở các version trước, OpenOffice đã có khả năng xuất các file đang soạn thành file pdf. Nhưng đến OpenOffice 3.0, khi Export as PDF ta có cả một màn hình với nhiều options để lựa chọn.

2- Sửa file pdf: OpenOffice Draw 3.0 mở được file pdf. Sau đó có thể sửa ảnh, sửa text trong file, thêm thắt nhiều thứ và xuất ra khá nhiều định dạng khác nhau. KWord, trình soạn văn bản trong bộ KOffice, có thể import file pdf để sửa rồi save as lại thành file doc hoặc odt.

3- Xem file pdf: Okular là chương trình xem nhiều loại file (PDF, Postscript, DjVu, CHM,…). Đặc biệt, Okular có chức năng Review, cho phép chèn hai dạng note, khoang vùng, tô màu các đoạn text và thêm được ghi chú vào các đường khoanh vùng, tô màu đó.

okular

Tuy nhiên chỉ có chương trình Okular mới xem được các đánh dấu và ghi chú đó. Các chương trình xem file pdf khác như KPDF, Adobe Reader không xem được.

Ngoài ra, Okular có thể tách các text trong file pdf, xuất ra thành file text (không có định dạng). Điều này rất tiện nếu ta muốn tận dụng text đã có.

Tất nhiên Adobe Reader for Linux cũng dùng xem file pdf, nhưng không có các tính năng Review như Okular.

Thử bộ gõ tiếng Việt scim-unikey trên Mandriva 2009 KDE (update 29/12/08)

Đã có một ý tưởng rất hay là tích hợp unikey vào scim. Cộng đồng Ubuntu Việt đang thử nó tại đây.

Tôi đã thử bản scim-unikey-0.1.2a-manual-install.tar.gz tải về từ đây trên Mandriva 2009 KDE.

Cách cài đơn giản: sau khi đã cài scim-m17n như đã nêu trong vài post trước, giải nén file trên. Dùng quyền root copy file unikey.so trong thư mục x86 (hoặc x64 cho máy 64bit) vào thư mục /usr/lib/scim-1.0/1.4.0/IMEngine/, copy file scim-unikey.png vào thư mục /usr/share/scim/icons/. Logout ra rồi Login lại.

(UPDATE: tại site nói trên đã có bản cài đặt rpm cho Fedora và cũng cài tốt trên Mandriva 2009: tải về, nhấn chuột vào file, nhập password của root là xong).

Trong Scim Setup, bộ gõ mới này có khá nhiều kiểu gõ tiếng Việt, chọn Telex – Unicode có icon màu da cam để thử. Dưới đây là bài tôi đã post trên diễn đàn Ubuntu Việt:

“Xin chia sẻ vài kết quả thử các bộ gõ tiếng Việt trên Mandriva 2009 KDE4, Kubuntu 8.10 (telex – unicode)
1- x-unikey: x-unikey-1.0.4 gõ được trong Man2009, nhưng có các lỗi sau:

    a/ thỉnh thoảng bị mất tiếng Việt (phải Ctrl+Shift hai lần tắt bật tiếng Việt thì lại gõ tiếp được),
    b/ thỉnh thoảng bị treo bàn phím khi chuyển ứng dụng,
    c/ phải nhấn F2 trước khi gõ trong ô của Calc, nếu không khi nhấn Shift để gõ chữ Việt hoa bị xoá hết các chữ đã gõ trước.

Bản 0.9.2 không gõ được trong Man2009. Đã thử cài từ source nhưng báo lỗi tùm lum.
Kubuntu: Lỗi a/ và c/ cũng gặp trong Kubuntu. Bản 0.9.2 thì không bị hai lỗi đầu và nếu chấp nhận nhấn F2 thì dùng được.
2- scim:
Bản scim có sẵn (scim-m17n) gõ tốt trong cả Man2009 KDE, GNOME và K/Ubuntu nhưng có các nhược điểm:

    a/các từ nhận dấu bị đánh dấu bằng ô chữ nhật màu xanh không quen mắt, rất khó chịu.
    b/ phải có phím báo kết thúc từ (space, dấu chấm, phảy, … hoặc phím mũi tên phải), nếu không báo, khi di con trỏ đi nơi khác bị mất ký tự và
    c/ khi gõ vài từ đầu của địa chỉ mail trong Gmail, danh sách địa chỉ đã có hiện lên, nếu chọn bằng chuột không điền được.

Copy file vi-telex-locdt.mim vào /usr/share/m17n và chọn cách gõ này thì không bị đánh dấu từ nhận dấu bằng ô mà chỉ có dấu gạch chân, đầu mút bên trái dấu là từ nhận dấu. Hai nhược điểm b/, c/ vẫn còn.
Một lỗi nữa: scim không gõ được tiếng Việt trong Quick Search Box của Google Desktop, một search engine theo tôi là hay nhất bây giờ trong Linux (search được tiếng Việt unicode trong file, index sẵn nên search rất nhanh). x-unikey thì gõ được.
3-scim-unikey-0.1.1a-manual-install:
Thử trong Man2009 KDE4. Gõ tốt trong KMail, Writer và Calc, không còn bị cơ chế đánh dấu từ nhận dấu và phải báo kết thúc từ (rất hay). Trong Impress và Firefox (Gmail, Zoho, forum) không gõ được (khi gõ dấu, nháy nhẹ nhưng không ra tiếng Việt).
Ba nhược điểm nêu trên của scim không lớn với người ham Linux và chịu tập thói quen mới, nhưng là cản trở lớn nếu định phổ biến Linux cho người dùng bình thường. Vì vậy rất hy vọng vào scim-unikey.
Thêm một đề nghị nữa: font TCVN bị lỗi chữ “ư” trong OpenOffice. Cài unikey for Windows vào Linux bằng wine rồi dùng cơ chế chuyển mã clipboard, sau đó chọn các ký tự – thay cho chữ “ư’ trong văn bản, dùng Find & Replace để thay bằng “ư” unicode thì có thể chuyển mã TCVN sang unicode nhưng cách làm này hơi phức tạp với người bình thường.
Nếu có thể tích hợp chuyển mã clipboard vào scim-unikey nữa thì tuyệt vời.

Kết luận: Trước mắt có thể dùng như thế này:

1- Trong Scim Setup chọn cả hai kiểu gõ vi-telex-locdt và Telex – Unicode (của scim-unikey). Với Telex – Unicode khai báo thêm cặp phím nóng là Ctrl+Shift.

2- Khi gõ trong Writer và Calc thì dùng Telex – Unicode. Gõ được hoàn toàn như x-unikey, không phải báo kết thúc từ.

3- Khi gõ trong Impress và Firefox, nhấn Ctrl+Shift để chuyển sang vi-telex-locdt. Ctrl+Shift sẽ chuyển qua lại giữa hai kiểu gõ tiếng Việt nói trên. Chuyển sang bàn phím tiếng Anh dùng Ctrl+Space.

Đây là một hướng rất có triển vọng. Hy vọng tác giả sẽ tiếp tục cải tiến. Thank!”

UPDATE (29/12/08): khi gõ trong Writer, scim-unikey bị xung đột với chức năng Word Completion trong AutoCorrect. Nếu gõ một từ có phần đầu trùng với từ tiếng Anh trong Word Completion thì dấu tiếng Việt hiển thị không đúng nữa. Phải tắt Word Completion đi (bỏ chọn Enable), nhưng như thế lại mất một tính năng hay của Writer.

UPDATE (23/1/2009): ổn rồi, xem bài SCIM-UNIKEY trên Mandriva 2009 và Linux Mint 6

Điểm qua vài bản Linux mới công bố 10-2008

Hai ba năm nay, tôi đã thử qua những hệ Linux hàng đầu theo xếp hạng của site Distrowach. Có thể nhận xét vắn tắt như sau (theo quan điểm của một người dùng văn phòng bình thường):

  1. Mandriva: là hệ dễ dùng nhất, thân thiện với người dùng nhất. Hệ này nổi bật ở Control Center có hướng dẫn từng bước (wizard) cho nhiều động tác cấu hình. Do dùng chung Control Center nên có thể chuyển đổi qua lại giữa Mandriva KDE và Mandriva Gnome tương đối dễ dàng. Quá trình cài đặt cũng đơn giản và dễ thực hiện. Giao diện đẹp, font màn hình sắc nét. Thậm chí các màn hình khởi động, màn hình desktop và screensaver cũng được liên tục cải tiến qua từng version. Không phải ngẫu nhiên mà gần đây tất cả các trường học của Nga đã quyết định dùng các bản Linux Nga hóa trên nền Mandriva.

  2. K/Ubuntu: hệ này được quảng cáo tốt và luôn đứng đầu trong bảng xếp hạng cũng như tin tức trên báo chí. Tuy nhiên, mức độ thân thiện với người dùng kém Mandriva. Nhiều động tác cấu hình, cài đặt phải tìm kiếm hướng dẫn, hỗ trợ từ Internet và khó làm. Bù lại, do được đầu tư tốt, quảng cáo tốt nên hệ có những ưu điểm như các server phần mềm nhanh, site hỗ trợ tốt, đội ngũ người dùng đông. Giá như Ubuntu có được những ưu điểm nói trên của Mandriva thì thật là hoàn hảo.

  3. OpenSUSE: đây là sản phẩm của một công ty lâu đời, rất mạnh trên thị trường khách hàng doanh nghiệp hiện nay. Tuy nhiên cách cài đặt, cấu hình phức tạp, đòi hỏi có hiểu biết khá về chuyên môn. Nếu định nghiên cứu tìm hiểu kỹ về Linux thì hệ này là một công cụ tốt: chỉ cần tìm hiểu hết các mục trong các huớng dẫn cấu hình. Màn hình xấu.

  4. PCLinuxOS: đây là hệ phát triển trên nền Mandriva theo hướng thân thiện người dùng hơn nữa. Nhược điểm lớn nhất là không có công ty kinh doanh hậu thuẫn mà dựa hoàn toàn vào lao động tình nguyện. Do đó tiến độ xây dựng các phiên bản mới và cập nhật các phiên bản cũ rất chậm. Mặc dù vậy, do tính dễ dùng nên PCLinuxOS vẫn luôn nằm trong topten của Distrowach trong khoảng vài năm nay.

Gần đây, các phiên bản mới của các hệ Linux nói trên liên tiếp ra đời: Mandriva 2009.0 ngày 9/10/2008, Ubuntu 8.10 ngày 30/10/2008. Định kỳ 6 tháng một phiên bản do Ubuntu khởi xướng đã trở thành chuẩn. Dưới đây nêu vài nhận xét ban đầu về các phiên bản mới đó:

  1. Tích hợp các bộ phần mềm nguồn mở:

Mandriva tích hợp các bộ phần mềm nguồn mở mới nhất: KDE 4.1, GNOME 2.24, OpenOffice 3, Firefox 3, nhân Linux 2.6.27, X.Org 7.4, …. Riêng K/Ubuntu không hiểu vì sao vẫn dùng OpenOffice 2.4.

Một số phần mềm đã có trong KDE3, nay đã được chuyển đầy đủ sang KDE4 với nhiều tính năng bổ xung rất tốt (vd: Kontact). Đặc biệt, phần mềm Okular xem được các dạng file pdf, CHM, ps, odt dưới dạng chỉ đọc nhưng có các chức năng review: ghi chú, đánh dấu, khoanh tròn và tô màu được. Đây là những tính năng rất cần mà trước đây KPDF không có. Ngoài ra, Okular cho phép copy được một phần hay toàn bộ text của file PDF dán sang trình soạn thảo khác để soạn.

OpenOffice 3.0 khởi động nhanh hơn bản 2.4 nhiều. Những tính năng mới được đánh giá cao là: hiển thị các note sang bên lề trang (như Word), có thể cross-reference các heading của văn bản, mở và soạn được các file của Microsoft Office 2007 (docx, xlsx, pptx), đã có solver trong bảng tính, hỗ trợ thêm nhiều VBA macro, thêm nhiều option cho việc xuất file PDF. Đặc biệt, OpenOffice hiện cũng theo mô hình của Firefox: có một kho các extension các tính năng bổ xung để người dùng có thể chọn và cài đặt. OpenOffice 3.0 cũng đã được Việt hóa toàn bộ, kể cả một phần trợ giúp, có thể download về tại đây.

Một số trình tiện ích hệ thống được cải tiến, bổ xung khá hay. Ví dụ trình System Activity (mở bằng Ctrl+Esc) giờ cho phép tắt (kill) cả các processe thuộc quyền root bằng giao diện đồ họa. Trình Sweepper dùng xóa các thông tin cá nhân trong hệ thống và trong trình duyệt.

Tuy nhiên vì KDE4 là môi trường đồ họa mới nên một số phần mềm (Amarok, …) chưa hoàn thiện được như Amarok chạy trên KDE3. Một số phần mềm (ghi đĩa K3b, …) thậm chí còn chưa có phiên bản chạy trên KDE4 nhưng khi cài K3b cũ vẫn chạy tốt.

  1. Tiếng Việt:

Mandriva KDE cài bộ x-unikey-0.92 gõ được tiếng Việt trong web nhưng không gõ được trong OpenOffice 3 (một số ký tự có dấu bị mất, paragraph bị tự động đánh số).

Rất may là Mandriva KDE và GNOME đều dùng được bộ gõ scim. Chế độ gõ vi-telex đã được cải tiến: bỏ dấu cuối từ, xóa dấu bằng phím z, nhận biết được từ tiếng Anh, gõ tiếng Việt hoa trong OpenOffice Calc không bị lỗi xóa ngược sang trái. Nhìn chung, gõ tiếng Việt trong Mandriva bằng scim rất ổn trừ một điều hơi không quen là khi đang gõ các từ có dấu bị bôi đen và điền các địa chỉ có sẵn trong Gmail vào các trường To, Cc hơi khó (gõ vài từ đầu, địa chỉ hiện lên nhưng kích chuột vào thì không điền được địa chỉ, dùng phím mũi tên chọn địa chỉ rồi Enter thì OK).

Cách cài vắn tắt: mở Control Center, vào mục System, nhấn tiếp vào Manage localization for your system. Trong bảng hiện lên, chọn language là English (American) rồi nhấn Next. Trong màn hình tiếp theo nhấn Other Countries rồi chọn Input Method là SCIM. Chương trình sẽ tự cài một số phần mềm.

Sau đó nhấn tổ hợp phím Alt + F2, gõ từ scim vào ô trắng rồi Enter để chạy scim lần đầu. Nhấn phím phải chuột vào biểu tượng scim trên panel, chọn SCIM Setup. Trong màn hình Setup, chọn các mục Share the same input method và vi-telex (trước đó nhấn Disable All).

Khởi động lại máy, scim sẽ tự chạy. Chuyển đổi giữa bàn phím tiếng Anh và tiếng Việt bằng tổ hợp phím Ctrl + Space. Chú ý là chỉ chuyển đổi được khi con trỏ chuột đang nằm trong một trường nhập liệu (OpenOffice, thanh địa chỉ, thanh tìm kiếm của Firefox, v.v…).

Kubuntu 8.10 cài x-unikey-0.92 gõ tốt tiếng Việt trên web và trong OpenOffice 2.4. Khi cài bản OpenOffice 3 vẫn gõ được tiếng Việt không bị lỗi như ở Mandriva KDE. Kubuntu 8.10 không dùng được scim (hoặc phải chỉnh thế nào đó tôi không rõ).

Ubuntu 8.10 cài bộ gõ xvnkb-0.3-4ubuntu810 giới thiệu ở đây không gõ được. Cài scim theo hướng dẫn ở đây thì gõ tốt như với Mandriva.

  1. Giao diện:

Mandriva là hệ chăm chút đến giao diện nhất, kể cả các chi tiết nhỏ. Mỗi bản Mandriva mới đều được thay màn hình khởi động (splash screen), màn hình nền (desktop) và theme riêng. Mandriva KDE có một bộ ảnh màn hình nền khá đẹp, phù hợp cho nhiều cỡ màn hình. KDE4 có chế độ tự động thay màn hình nền theo kiểu slide.

K/Ubuntu có màn hình khởi động xấu, không thay đổi từ trước đến nay. Màn hình nền của Ubuntu 8.10 xấu kỳ dị (tất nhiên là có thể thay được). Kubuntu dùng bộ theme Oxygen mới nhất của KDE4 khá đẹp nhưng các cửa sổ không có viền nên hay bị lẫn khi chồng lên nhau.

Đặc biệt Mandriva thể hiện font màn hình rất sắc nét, trơn và đẹp. Do đó có thể chọn bất kỳ font nào tùy thích. K/Ubuntu chỉ có font FreeSans là được, các font khác bị gai, xấu.

KDE4 cũng nổi hơn hẳn so với KDE3 ở giao diện đẹp. KDE4 có các widget màn hình có thể tùy biến được. Trong đó hay nhất là widget Folder View cho hiển thị nội dung một folder tùy chọn lên màn hình desktop. Tuy nhiên hiện tại, số widget còn ít không bằng số các applet của KDE3. KDE4 đẹp hơn nhưng cũng nặng hơn nên bản netbook của Mandriva dùng GNOME.

Mandriva và Ubuntu đều có bản server. Bản Ubuntu server không có giao diện đồ họa, hoàn toàn dùng dòng lệnh (tất nhiên nếu muốn có thể cài thêm KDE hoặc GNOME). Mandriva server thì có đầy đủ giao diện đồ họa giống như kiểu REDHAT hoặc OpenSUSE.

  1. Cấu hình và chỉnh sửa các phần của hệ thống

Trong Mandriva KDE có hai nơi để cấu hình, hiệu chỉnh các thiết lập chung: Control Center (cấu hình chung cho mọi user, cần có quyền Admin) và System Settings (các thiết lập riêng của từng user). Mandriva GNOME cũng dùng Control Center này nhưng phần thiết lập riêng thì rải rác và không mạnh bằng System Settings (vd: Appearance của GNOME đơn giản hơn).

Control Center là điểm mạnh nhất, thân thiện nhất của Mandriva từ các phiên bản trước. Rất nhiều việc mà trong K/Ubuntu ta không biết làm như thế nào, phải đi tìm hướng dẫn trên Internet rồi cấu hình bằng tay thì trong Control Center có sẵn và hướng dẫn theo từng bước (wizard). Một vài ví dụ:

  • Setup card màn hình, card mạng, wireless, máy in, scanner và UPS.

  • Cài đặt font, nhập toàn bộ font, thư mục My Document và các setting từ Windows sang Mandriva

  • Thiết lập cách đăng nhập mạng LDAP, Active Directory, Windows NT.

  • Bật tắt các dịch vụ hệ thống (system services).

  • Quản lý các partition của ổ cứng (xóa, resize, mount, format, …).

  • Thiết lập các mức securities, thiết lập tường lửa, thiết lập hệ thống kiểm soát trẻ em truy cập Internet (parental control).

  • Thay đổi boot menu.

Nhược điểm của Control Center của Mandriva 2009 so với 2008 là bỏ sót phần printer setting (phải cài gói system-config-printer) và cài thử máy in HP 1020 không thấy nhắc cài firmware như trong Mandriva 2008 (phải cài bằng tay).

  1. Các kho phần mềm và trình quản lý cài đặt phần mềm.

Phần này thì K/Ubuntu hơn hẳn. Các kho phần mềm của K/Ubuntu nhiều phần mềm hơn, nhanh hơn và hiện có một số kho mirror tại Việt nam có tốc độ download lớn (của FPT, OpenLab, …tốc độ khoảng 200-300KB/s).

Trình quản lý cài đặt phần mềm của K/Ubuntu có một đặc điểm rất hay là cho phép search được cả trong phần mô tả (description) do đó dễ tìm phần mềm. Trình quản lý của Mandriva chỉ tìm được theo tên nên nếu không biết một cụm từ trong tên là không tìm được.

Mandriva hiện quản lý kho phần mềm theo một danh sách các mirror site trên toàn cầu, không chọn từng site riêng biệt. Nếu khi tải từ một site về bị lỗi kết nối hoặc không tìm thấy, ta apply lại lần sau nó sẽ tự chuyển sang site khác (chưa tự động chuyển). Tuy nhiên quá trình add các danh sách mirror này khá chậm và hay trục trặc (xem thêm cách khác ở site easyurpmi) .

Trong K/Ubuntu, các phần mềm thừa, không dùng đến có thể gỡ bỏ bằng lệnh sudo apt-get autoremove. Trong Mandriva, trình quản lý phần mềm tự động soát và hiện bảng thông báo các phần mềm thừa để gỡ bỏ qua giao diện đồ họa. Nhưng hiện nay, cơ chế này làm việc chưa chính xác: nó thông báo thừa phần lớn các file cơ bản của KDE4 và nếu gỡ đi là hỏng phải cài lại từ đầu.

Mandriva còn có trình Packages Stats liệt kê các phần mềm không dùng đến từ bao nhiêu ngày để có thể gỡ bỏ nếu muốn.

  1. Multimedia

Các định dạng multimedia phổ biến hiện nay (mp3, wma, real audio, …) vẫn là nguồn đóng do đó mặc định không cài sẵn trên các hệ Linux chính quy. Nhưng cả trong Mandriva và K/Ubuntu phiên bản này đều có cơ chế tự động nhận biết các codecs, plug-in chưa có và tự động cài.

Mandriva thực hiện việc này qua phần mềm Codeina của hãng Fluendo S.A. Khi chạy một file multimedia chưa có codec, chương trình này sẽ tự động hiện lên cho người dùng chọn: tải về và cài free codec hoặc mua codec của Fluendo.

Trong các phiên bản Linux trước, nghe, xem phim trong Firefox thường phải cài thêm mplayerplug-in dựa trên trình Mplayer là trình hỗ trợ nhiều codec nhất hiện nay nhưng giao diện trong Firefox hơi xấu và quá trình cache lâu. Firefox3 trong các bản Linux này có sẵn totem plugin dựa trên trình Totem có giao diện khá hơn. Totem dùng GStreamer hỗ trợ hầu hết các codec và chạy file theo kiểu streaming – thời gian thực, không mất thời gian chờ cache. Nếu muốn có thể cài Elisa, một Media Center dựa trên GStreamer có rất nhiều tính năng hay.

  1. Tương thích phần cứng

Như đã nói trong một post trước, ở các phiên bản cũ Mandriva có vẻ tương thích phần cứng tốt hơn K/Ubuntu. Đến phiên bản này, khi cài trên máy notebook Dell 700m, Mandriva thì không có vấn đề gì nhưng Ubuntu thì gặp trục trặc khi Restart và Shutdown: nhiều lần không tắt được phần mềm sound ALSA, phải tắt cưỡng bức bằng nút power và sau đó phải bật sound lại.

  1. Kết luận

Qua so sánh đại thể như trên, hệ nào cũng có cái hay cái dở. Tuy nhiên nhìn về tổng thể dùng Mandriva vẫn hay hơn theo cá nhân tôi.

So sánh chi tiết hơn hai bộ phần mềm này có thể xem tại đây.

Hiệu ứng màn hình 3D trong Linux, Compiz Fusion

Compiz Fusion

Trong các hệ Linux, việc quản lý các cửa sổ màn hình (windows) được thực hiện bởi các trình quản lý Metacity (trong GNOME) và KWin (trong KDE). Các thao tác với cửa sổ màn hình giới hạn ở mức đơn giản: mở, đóng, phóng to, thu nhỏ, di chuyển, v.v…

Năm 2006, Novell cho ra đời trình Compiz, làm việc với các card màn hình 3D để tạo ra các hiệu ứng màn hình động, 3D đẹp mắt. Một nhánh của Compiz là Beryl đến tháng 3/2007 tái hợp với cộng đồng phát triển Compiz tạo nên Compiz Fusion. Từ đó:

  • Compiz phát triển các chức năng lõi cơ bản về quản lý màn hình.
  • Compiz Fusion chuyên về cài đặt, cấu hình và phát triển các plugin bổ xung cho Compiz. Mỗi hiệu ứng sẽ là một plugin.

Các hệ Linux hàng đầu hiện nay đều có thể cài (hoặc được cài sẵn) Compiz Fusion. Đặc điểm:

  • Có rất nhiều hiệu ứng màn hình động đẹp, bao gồm cả các hiệu ứng có trong Vista và Mac OS.
  • Không yêu cầu cao về phần cứng, thậm chí các card màn hình onboard cũng dùng được.

Dưới đây trình bày cách kích hoạt và dùng Compiz Fusion trong Mandriva Linux 2008.1. Các hệ Linux khác, cách làm cũng tương tự.

  • Mở Mandriva Control Center. Kích vào Hardware ở cột bên trái rồi kích tiếp vào Configure 3D Desktop effects.
  • Trong màn hình hiện lên, chọn Compiz Fusion rồi nhấn OK.

  • Mở Install & Remove Software cài thêm hai gói plugin sau:
  • compiz-fusion-plugins-extra
  • compiz-fusion-plugins-unsupported
  • Sau khi log out ra rồi log in vào lại, nhấn vào menu Menu – Tools – CompizConfig Settings Manager để mở màn hình sau:
  • Trong đó có hàng chục hiệu ứng màn hình khác nhau tùy chọn. Nhấn vào tên hiệu ứng để xem các options và phím kích hoạt (mỗi hiệu ứng được kích hoạt bằng một tổ hợp phím nhất định). Ví dụ:

CHÚ Ý:

  1. Mỗi hiệu ứng đều có thể bật lên, tắt đi bằng cách kích vào ô vuông bên trái (màn hình trên. Nếu không biết tổ hợp phím kích hoạt thì nhấn vào tên hiệu ứng để xem ở màn hình dưới và có thể thay tổ hợp phím theo ý thích.
  2. Nếu card màn hình yếu thì không nên bật quá nhiều hiệu ứng, máy sẽ chậm thậm chí không hoạt động được. Lần đầu tìm hiểu nên tắt hết, bật lần lượt từng đợt một vài cái.

Dưới đây là một vài ví dụ:

Xoay khối lập phương các desktop (Desktop Cube): (Ctrl + Alt + nhấn và di chuột trái)


Hiển thị các desktop để chọn: (di chuột vào góc trên bên trái màn hình)

Hiển thị các cửa sổ đang mở trong một desktop (Windows Overview): (Alt + Tab)

Hiển thị các cửa sổ đang mở trong một desktop (Windows Overview): (di chuột vào góc trên bên phải màn hình rồi kích chuột vào cửa sổ để chọn)

Cửa sổ cao su (Wobbly Windows): (nhấn chuột vào mép trên và di)

Trên đây chỉ là vài ví dụ, còn rất nhiều hiệu ứng khác

Một bộ Office mới: IBM Lotus Symphony 1.0

Ngày 30/5/2008, IBM đã chính thức cho ra đời bộ IMB Lotus Symphony 1.0. Đây là bản Office dựa trên nền OpenOffice nhưng có giao diện mới hoàn toàn và tích hợp với bộ Lotus Notes của IBM.

Cũng giống như các hệ điều hành Linux, trên nền OpenOffice hiện có một vài phiên bản khác nhau:

  1. Bản OpenOffice chính gốc: www.openoffice.org
  2. Bản OxygenOffice tăng cường, bổ xung thêm các template, clipart, font, hỗ trợ VBA, …: http://sourceforge.net/projects/ooop
  3. Bản StarOffice, sản phẩm thương mại của Sun nhưng người dùng Windows có thể tải về dùng miễn phí qua Google Pack.
  4. Bản OpenOffice của Novell (Novell edition). Bản này có các sửa đổi bổ xung của Novell như hỗ trợ macro và tích hợp tốt hơn với các file MS Office, tích hợp với phần mềm mail Evolution của Novell, v.v…. http://www.novell.com/products/desktop9/features/ooo.html
  5. Bản IBM Symphony này http://symphony.lotus.com
  6. và một số bản khác.

Một vài nhận xét sơ bộ:

  1. Dung lượng file cài đặt khá lớn: 288 MB so với bản OpenOffice gốc 165 MB (có JRE).
  2. Sau khi tải file IBM_Lotus_Symphony_linux.bin xong, mở terminal và cài bằng lệnh:
    • Đối với K/Ubuntu: sudo ./IBM_Lotus_Symphony_linux.bin
    • Đối với Mandriva: trước tiên phải cài thêm gói phần mềm bc (dùng Install & Remove Software). Sau đó mở terminal: su (để chuyển sang user root) rồi ./IBM_Lotus_Symphony_linux.bin.
  3. Sau khi cài xong, khởi động lại máy, chạy từ Menu – Office – IBM Lotus Symphony, màn hình tổng hợp sau xuất hiện, nhấn vào một trong ba biểu tượng để mở phần mềm tương ứng.
  4. Giao diện đẹp hơn và khác hoàn toàn với OpenOffice và MS Office. Có một sidebar bên cạnh để hiển thị và thay đổi các tính năng của font, paragraph và page.
  5. IBM mới chỉ sửa được màn hình chính. Các màn hình con vẫn là của OpenOffice. Giao diện kiểu này có tốt hay không thì phải cần thời gian làm quen và dùng thử. Một trong những ưu điểm thấy ngay là nếu mở nhiều file thì mỗi file sẽ là một tab trong một màn hình chung, không cần phải mở nhiều phần mềm trong từng màn hình riêng biệt như các bộ Office hiện tại.
  6. Tốc độ khởi động chậm hơn hẳn và có cảm giác nặng nề hơn OpenOffice. Mặc dù OpenOffice hiện đã là 2.4 nhưng nền OpenOffice của Symphony vẫn chỉ là 1.1. Do đó về tính năng kém hẳn (không có equation editor, database, drawing program, …). Theo thông báo thì phiên bản 2.0 sẽ cập nhật nhiều thay đổi hơn. Hiện tại, Lotus Symphony chỉ được mỗi giao diện đẹp và lạ.

Cài scanner trong Linux

Khác với máy in, scanner hiện được hỗ trợ trong Linux còn khá yếu. Nếu không gặp may, cài scanner vào Linux tương đối chật vật. Tôi thử cài hai loại scanner HP Scanjet 3770 và BenQ S2W 4300U vào một vài hệ Linux:

1- K/Ubuntu không có phần cài đặt scanner riêng. Với scanner BenQ S2W 4300U chỉ cần chạy phần mềm XSane (trong nhóm Graphics, Kubuntu không có sẵn phần mềm này, phải cài thêm) là tự động nhận được scanner và dùng được ngay. Với scanner HP Scanjet 3770 phải cài driver trước.

2- Mandrivar và OpenSUSE có wizard hướng dẫn cài từng bước (mà cũng còn khó nếu scanner không có sẵn trong database). Tôi chia sẻ một vài kinh nghiệm trong file “Cai scanner trong Linux.pdf” có trong kho dữ liệu Mediafire (xem link ở góc trên bên phải màn hình blog này).

Thị trường chứng khoán New York chuyển sang dùng Linux

Thị trường chứng khoán NewYork xây dựng nền tảng thương mại toàn cầu trên nền Red Hat Linux.

By Pam Derringer, News Writer

03 Jun 2008 | SearchEnterpriseLinux.com

zxc232 lược dịch

Thị trường Chứng khoán New York (The New York Stock Exchange – NYSE) đã chọn Red Hat Enterprise Linux (RHEL) làm hệ điều hành chính của Hệ thống nền thương mại toàn cầu mới (Universal Trading Platform) sẽ bắt đầu hoạt động ở châu Âu vào cuối năm nay và trên mạng toàn cầu của NYSE vào năm 2009.

Hệ thống này dùng để buôn bán không chỉ cổ phiếu, tiền mặt, các giấy tờ có giá mà còn cả các giao dịch kỳ hạn và hàng hóa. Ngoài phục vụ cho NYSE, hệ thống cũng sẽ phục vụ cho: Euronext, thị trường cổ phiếu tiền mặt lớn nhất châu Âu; Liffe, thị trường derivatives châu Âu; NYSE Arca Options, thị trường quyền mua bán điện tử.

“Do sáp nhập (Euronext vào NYSE), chúng tôi có một số hệ thống nền khác nhau không cần thiết,” Steve Rubinow, CIO của NYSE Euronext nói. “Mục tiêu là tạo một hệ thống nền chung cho nhiều sản phẩm, có thể buôn bán bất cứ thứ gì hiện có hoặc sẽ có, ở bất cứ đâu. Red Hat đóng vai trò cột trụ cho hệ thống đó.”

Red Hat mở rộng chỗ đứng trong thị trường tài chính.

Sau khi đã có chỗ đứng vững chắc trong cộng đồng tài chính New York, thiết lập được các kỷ lục tốc độ giao dịch tại phố Wallchỗ đứng hiện tại ở thị trường chứng khoán New York, vai trò của Red Hat trong các sàn chứng khoán mới của NYSE không đáng ngạc nhiên.

Hệ thống nền thương mại toàn cầu mới của NYSE sẽ chủ yếu dùng Red Hat Enterprise Linux 5 (RHEL 5) chạy trên các máy chủ nhỏ hoặc máy chủ phiến (blade server).

Trước đây, NYSE đã dùng RHEL trong một số hệ thống nhỏ. Bước nhảy vọt diễn ra vào tháng 5 vừa rồi khi NYSE bỏ các máy chủ mainframe thay bằng hơn 600 máy chủ Hewlett-Packard chạy Red Hat.

Mục tiêu chuyển đổi là hiện đại hóa hệ thống buôn bán chứng khoán cả giao dịch trên sàn lẫn giao dịch điện tử qua mạng và hệ tin nhắn với các khách hàng hàng ngày. Khối lượng giao dịch và tin nhắn rất lớn và ngày càng tăng. Trong quý đầu năm 2008, số lượng giao dịch của NYSE và Arca Options lên tới 191 tỷ, tăng 24%. Hiện nay, số tin nhắn liên quan đến các giao dịch lên tới hảng tỷ tin mỗi ngày.

Thời gian xử lý một giao dịch đã giảm từ 10-12 giây vài năm trước xuống còn vài miligiây hiện nay.

Rubinow không nêu rõ dùng Red Hat thì rẻ hơn các hệ phần mềm trước bao nhiêu nhưng cho biết rõ ràng là rẻ hơn các phần mềm nguồn đóng và Linux là nền tảng đúng cho công việc. “Chất lượng của hệ điều hành Linux rất quan trọng đối với chúng tôi, và Red Hat Enterprise Linux đã đáp ứng vượt quá mong đợi.”

Hướng dẫn cài Mandriva 2008 Spring

Tài liệu “Hướng dẫn cài đặt Mandriva 2008 Spring” hiện đã up lên site Mediafire (nhấn vào link ở góc trên bên phải màn hình blog).

Giới thiệu chung về Mandriva đã có trong một post trước.

Posted in Linux. Thẻ: . Leave a Comment »

Một kiểu máy tính mới: mainboard tích hợp sẵn Linux

Đây vừa là một ý tưởng độc đáo vừa được xem là một “chiến thắng lớn của Linux”. Hãng sản xuất mainboard lớn nhất thế giới ASUS vừa công bố sẽ tích hợp công nghệ Splashtop của hãng DeviceVM vào các mainboard họ P5Q (P5Q Deluxe, P5Q-WS, P5Q3 Deluxe và P5Q-E.) và tiếp sau sẽ mở rộng ra toàn bộ các họ ASUS mainboard khác.

Trên mainboard sẽ có một thẻ nhớ Flash cài sẵn Linux tối thiểu và các phần mềm duyệt web Firefox, phần mềm xem ảnh và phần mềm chat Pidgin. Các đặc điểm chính:

1- Nhanh: Khi nhấn nút Power mở máy, chỉ vài giây sau là có thể làm việc được (duyệt web, dùng webmail Google, Yahoo, … xem ảnh và upload lên các site lưu ảnh, chat với MSN, Yahoo, Google Talk, điện thoại bằng Skype).

2- An toàn: vì làm việc trong môi trường Linux nên không ngại virus, spyware, …

3- Thân thiện với môi trường: vì bật máy nhanh nên khi xong có thể tắt, không phải để cả ngày như khi dùng các hệ điều hành Windows, Linux đầy đủ. Do đó tốn rất ít điện, góp phần giảm ô nhiễm.

4- Khi cần làm các việc khác, vẫn có thể khởi động vào Windows hay Linux cài trên ổ cứng như bình thường.

Hiện nay, mỗi tháng ASUS sản xuất khoảng 1 triệu mainboard P5Q, vì vậy sau một năm sẽ có 12 triệu người dùng Linux. Theo hướng này, việc tích hợp sẵn cả bộ Linux vào thẻ nhớ Flash và ổ cứng chỉ dùng ghi dữ liệu có lẽ chỉ là vấn đề thời gian. Tốc độ của bộ nhớ Flash nhanh hơn ổ cứng nên dùng Linux trên USB nhanh hơn hẳn cài trên ổ cứng. (Xem thêm bài Vài hệ Linux đặc chủng trên blog này). Khi đó ta sẽ có một máy tính khởi động rất nhanh, mở các chương trình cũng nhanh.

Xem thêm chi tiết và các màn hình chương trình tại đây.

Cài nhiều bộ Linux lên cùng một máy

Cài nhiều bộ Linux trên cùng một máy

Linux hiện nay có tới hàng trăm bộ với rất nhiều ý tưởng độc đáo khác nhau (ví dụ xem tại đây). Khi đã tương đối thạo một bộ, có thể cài và tìm hiểu một bộ khác (cho nhu cầu sử dụng thông thường) không khó khăn gì.

Các bộ Linux hiện đều có bản cài chỉ gồm 1 đĩa CD (khoảng 700MB). Tải về ngay cả với kết nối wifi với tốc độ trung bình 150KB/s mất khoảng hơn một tiếng. Có hai cách tải: nhấn vào file có đuôi iso để tải trực tiếp về bằng một chương trình Download Manager (ví dụ DownThemAll trong Firefox) hoặc nhấn vào file có đuôi torrent để tải về qua mạng chia sẻ bằng một chương trình download file torrent (ví dụ KTorrent). Nếu bản Linux đã ra một thời gian thì tải bằng torrent nhanh hơn.

File tải về dù theo cách nào đều có đuôi là iso. Nếu trên máy đã có một chương trình ghi đĩa CD (Nero, K3b, Brasero,…) nhấn vào file chương trình sẽ tự chạy sẵn sàng cho ghi. Tôi thường dùng K3b, ngay bước đầu tiên chương trình sẽ tính lại số kiểm tra md5sums của file đã tải, so sánh số này với số công bố trên site để chắc rằng file tải về không có lỗi. Nếu hai số không khớp nhau thì phải tải lại file khác. Khi ghi vào đĩa, nhớ chọn chế độ kiểm tra lại sau khi ghi để chắc là quá trình ghi không có lỗi. Quá trình ghi bằng K3b đơn giản, tự động không có gì khó.

Tiếp theo cần dọn dẹp các vùng ổ cứng Windows. Khởi động vào Windows, nhấn phím phải vào từng ổ, chọn Propeties rồi chọn Check disk (nếu là ổ C thì phải khởi động lại máy). Trước khi boot bằng đĩa CD Linux, Windows phải shutdown trơn tru. Những điều trên là cần thiết vì nếu vùng ổ Windows có lỗi, Linux sẽ không tự động mount vùng ổ đó được. Nên chia riêng một ổ D rồi move My Documents vào đó để sau này dùng chung với Linux.

Dùng Partition Magic hoặc Gparted, QTparted hay một chương trình Manage disk partition khác trong Control Center của Linux (khi boot bằng đĩa Linux vào chế độ LiveCD) để:

  • Resize thu nhỏ vùng Windows về mức tối thiểu, tạo khoảng trắng trên ổ.

  • Tạo một vùng swap khoảng 0,5 -1GB (khai format vùng đó là swap để dùng chung cho các bộ Linux sẽ cài).

  • Tạo các vùng (partition) sẽ cài Linux, mỗi vùng tối thiểu 3GB, format là ext3. Để tránh nhầm lẫn sau này, tốt nhất là các vùng nên có dung lượng khác nhau, ví dụ 3; 3,5; 4; 4,5GB, v.v…..

Màn hình sau khi tạo xong trong Mandriva, PCLOS có dạng như sau (các bộ Linux khác cũng tương tự):

Khi khởi động từ đĩa CD để cài Linux, đến mục Prepare partitions (hoặc tên tương tự tùy bộ Linux) chọn mục Manual … (không chọn các mục Guided...)

Màn hình tương tự như trên sẽ xuất hiện. Mỗi hệ Linux cần tối thiểu hai partion: một partition có format là ext3, mount vào thư mục gốc / và một partition có format swap.

Nhấn chuột chọn partition định cài Linux rồi mount nó vào thư mục /

Cách mount ở đây cũng tùy bộ Linux đang cài. Với Mandriva, PCLOS, nhấn vào nút Mount ở bên dưới. Với K/Ubuntu, nhấn nút Edit, v.v….

CHÚ Ý: để tránh cài đè lên một partition đã cài bộ Linux khác hoặc Windows, nên chọn partition cẩn thận. Nhanh nhất là căn cứ vào dung lượng partition đã tạo ở trên (ví dụ: các vùng màu xanh là Windows không chọn, 3GB cài PCLOS, 3,5GB cài Mandriva, 4GB cài Ubuntu, v.v….)

Khi chọn thư mục mount xong, tiếp tục nhấn nút Done (hình trên với Mandriva) hoặc nút Next (với K/Ubuntu, OpenSUSE) để tiếp tục quá trình cài đặt. Không cần chọn partition swap vì chương trình sẽ tự chọn.

K/Ubuntu sẽ tiếp tục cài đến hết. Mandriva và PCLOS sẽ dừng lại ở phần tạo bootloader và cho hiện boot menu để kiểm tra:

Boot menu ví dụ ở trên đã sửa. Ba hàng đầu ứng với ba chế độ khởi động của hệ Linux vừa cài. Các hàng sau là những hệ đã cài trước đó trên ổ cứng (kể cả Windows). Nếu thiếu hàng nào, nhấn nút Add để bổ xung.

CHÚ Ý: Mandriva và PCLOS nhận biết các hệ đã có không tốt lắm và bổ xung cũng phức tạp, nếu không thạo thì đừng làm. K/Ubuntu và OpenSUSE nhận biết tốt hơn do đó nên cài sau cùng, trong boot menu sẽ có đầy đủ các hệ.

Khi cài xong, khởi động lại máy sẽ xuất hiện boot menu trên để chọn. Nếu để nguyên, máy sẽ khởi động vào hệ Linux cài sau cùng. Chọn hệ nào thì dùng phím mũi tên di chuyển thanh sáng xuống dòng đó rồi Enter.

Các bộ Linux hiện nay đều tự động mount các partition Windows ở chế độ đọc-ghi. Vì vậy, khi làm việc trong một bộ Linux, ghi văn bản vào thư mục My Document của Windows thì khi chuyển sang dùng bộ Linux khác hoặc dùng Windows vẫn truy cập được văn bản đó.

Boot menu được lưu trong file /boot/grub/menu.lst. Khi cần có thể dùng quyền root và một chương trình soạn văn bản mở ra để sửa.

Ví dụ trong Ubuntu, nhấn Alt+F2 rồi chạy lệnh sau:

gksu gedit /boot/grub/menu.lst

Posted in Linux. Thẻ: . Leave a Comment »

Bạn đang dùng Linux? Có lẽ bạn còn chưa biết những điều này!

Bạn đang dùng Linux? Có lẽ bạn còn chưa biết những điều này!
Written by Steve Lawson
04.30.2008 at 07:29am
Section: Editorials

Lược dịch Zxc232

Đầu tiên, tôi muốn hỏi bạn một loạt những câu hỏi thoạt nhìn có vẻ chẳng liên quan gì đến nhau. Bạn đã xem phim hoạt hình Shrek hoặc Harry Potter và viên đá phù thủy chưa? Bạn đã bao giờ bay trên máy bay của các hãng Continental, Virgin America hoặc Singapore Airlines chưa? Bạn lái xe BMW, Fiat hay Renault? Bạn đã từng nhập ngũ trong quân đội Mỹ? Bạn đã bao giờ mua một thứ gì trên mạng thanh toán bằng Paypal? Bạn đã bao giờ ở trong một khách sạn Sheraton? Hoặc bạn đã đi du lịch bằng tàu hỏa ở Canada?

Đừng lo, tôi không định chào bán thứ gì cho bạn cả; mục đích bài viết này của tôi là soi sáng một điều mà bạn còn chưa biết. Nếu bạn không phải người say mê máy tính như tôi, có lẽ bạn chẳng quan tâm đến việc tất cả những cái đó và nhiều cái khác nữa đã được tạo ra, vận hành và bảo trì như thế nào. Bạn chỉ muốn biết ôtô của bạn khởi động như thế nào, bộ phim bạn xem đồng bộ âm thanh ra làm sao, phòng khách sạn của bạn sẵn sàng như thế nào và làm sao chuyến bay hoặc đoàn tàu của bạn đến đúng giờ. Tất cả những điều đó hoàn toàn có thể hiểu được.

Một trong những lý do chính đảm bảo cho những thứ nói trên hoạt động, cho bạn sống cuộc sống hàng ngày mà không phải quan tâm lo lắng gì chính là … Linux. Vâng, chính Linux, cái hệ điều hành máy tính bí ẩn mà những tay râu ria, kính cót mê mẩn. Ta hãy chứng minh điều khẳng định trên bắt đầu bằng hãng hàng không Singapore Airlines và một thứ gọi là KrisWorld. KrisWorld là hệ thống giải trí trong khi bay của Singapore Airlines, cho phép hành khách xem phim và nghe nhạc theo yêu cầu.

Hệ thống bao gồm một máy chủ Linux nối mạng với các máy tính cá nhân lắp trong lưng ghế trước mặt mỗi hành khách. Hạng ghế economy được trang bị một màn hình tinh thể lỏng 10,6 inch, độ phân giải 1280×768. Các hạng ghế đắt tiền hơn thì màn hình lớn hơn.

Khi hành khách muốn xem phim hoặc nghe nhạc, phim và nhạc sẽ được tải từ máy chủ xuống máy tính cá nhân trong lưng ghế có ổ cứng 40GB và bộ vi xử lý của hãng Via Technologies Inc. Ngoài chức năng nghe nhạc, xem phim, KrisWorld cũng là một máy tính trang bị bộ phần mềm văn phòng StarOffice. Trên máy tính có một cổng USB để khách có thể cắm ổ USB hoặc ổ cứng ngoài của mình vào, mở hoặc lưu các văn bản cá nhân lên đó. Cổng này cũng dùng để cắm bàn phím hoặc chuột USB cho các doanh nhân làm việc mà không cần phải mở laptop.

Singapore Airlines không phải hãng hàng không duy nhất đầu tư Linux. Virgin America mới đây cũng tuyên bố các máy bay của hãng sẽ lắp một hệ thống giải trí trong khi bay gọi là RED. RED cũng chạy Linux RedHat và Fedora nối với các máy chủ trung tâm chứa phim và nhạc. Khi được hỏi tại sao chọn Linux, hãng nói rằng vì Linux ổn định và dễ sửa đổi theo các yêu cầu riêng của họ.

Còn hãng hàng không nào khác dùng Linux không? Có, Continental Airlines đã chuyển hệ thống đặt vé-giữ chỗ sang chạy trên Linux. Qantas Airways chuyển trung tâm dữ liệu sang Linux và hãng hàng không Tây Ban nha Spanair cũng dùng Red Hat Enterprise Linux.

Nhưng Linux không chỉ có mặt trên các chuyến bay, chúng cũng có trên mặt đất ở những nơi bạn không ngờ tới. Hãng chế tạo xe hơi BMW dùng công nghệ ảo hóa Xen trên Novell SUSE Linux ở trung tâm dữ liệu của hãng và ở đội đua công thức 1: các cặp máy chủ Linux (cluster) do HP chế tạo xây dựng các mô hình khí động học tinh vi cho các loại xe đua để thiết kế, thử nghiệm trước khi chế tạo. (Xem thêm về Linux và xe đua Formula One tại đây)

Mạng lưới đường sắt Đức do Deutsche Bahn điều hành đã chuyển các máy chủ sang chạy Linux vào cuối năm 2004. Nhà chế tạo xe hơi khổng lồ Ý, Fiat, dùng hệ thống Linux để vận hành mạng lưới bán hàng và hỗ trợ khách hàng tại Âu châu. Công ty chế tạo xe hơi Huyndai dùng các cặp máy chủ Linux do IBM chế tạo để mô phỏng và tính toán các trường hợp tai nạn. Chưa hết, Thrifty Car Rental có hạ tầng mạng máy tính phần lớn chạy Ubuntu Linux; hãng chế tạo xe hơi Volvo cũng dùng các cặp máy chủ Linux của IBM để mô phỏng và tính toán tai nạn; hãng đường sắt quốc gia Canada dùng Linux trong phần lớn các công việc kinh doanh hàng ngày. Nước Pháp cũng đang bước vào trận địa Linux: hãng chế tạo xe hơi Renault vừa tuyên bố sẽ dùng hệ điều hành máy chủ Novell SUSE Linux Enterprise Server, trong khi lực lượng cảnh sát Pháp cùng với chính phủ và một số bộ chuyển sang dùng Linux. Hãng chế tạo xe hơi Peugeot Citroen đã ký hợp đồng với Novell để chuyển 20.000 máy tính cá nhân và 2000 máy chủ sang dùng SUSE Enterprise Linux.

Còn Hollywood thì sao? Nhiều bộ phim hoạt hình sản xuất bởi Dreamworks (Shrek, Shark Tale, Antz and Bee, …) được làm trên các máy tính của HP chạy Red Hat Linux. Nhiều phần việc trong các bộ phim Harry Potter (cũng như các phim The Last Samurai và Plane Of The Apes) được xử lý bằng một phần mềm nguồn mở chạy trên Linux gọi là CinePaint.

Trên thực tế, ngành công nghiệp các hiệu ứng hình ảnh của Hollywood có lẽ là ngành tiên phong dùng Linux. Và không phải chỉ là cuộc cách mạng ở phạm vi nhỏ. Các hãng phim có những phòng máy đầy các máy chủ Linux. Pixar, Digital Domain, Dreamworks, tất cả các hãng từ lớn đến nhỏ. Dreamworks có trên 2000 máy chủ Linux online vào mùa hè năm 2001. Bộ phim quả bom tấn Shrek của hãng được dựng trên hơn 1000 máy tính Linux. Pixar chạy Linux trên các máy sản xuất phim và phát triển phần mềm của hãng (ông chủ của Pixar, Steve Job, lại là người sáng lập ra Apple và phần mềm Mac). Ngành công nghiệp điện ảnh thừa nhận rằng trận thủy triểu Linux đạt tới đỉnh cao trong phim Titanic. Hãng Digital Domain đã dùng các ứng dụng Linux để dựng các cảnh phim, đặc biệt là các cảnh dưới nước.

Rời phim ảnh, chúng ta hãy chuyển sang một lĩnh vực khác mà Linux đang tạo nên nền móng: công nghiệp tài chính. Tại Brazin, một trong những ngân hàng lớn nhất Nam Mỹ là Banrisul chạy toàn bộ các máy ATM trên hệ điều hành Linux. Paypal, hãng thanh toán điện tử được các hãng bán hàng trực tuyến trên toàn thế giới sử dụng, chạy website và các phần mềm trung gian trên hàng nghìn máy chủ Linux.

Lần tới khi bạn check in vào một khách sạn Sheraton hãy nhớ rằng phòng của bạn được đăng ký trên hệ thống giữ chỗ Linux. Nếu bạn là quân nhân Mỹ, nên biết rằng tới năm 2015 toàn bộ hệ thống mạng của quân đội Mỹ sẽ là hệ thống Linux. Tôi tin chắc rằng ngày càng có nhiều hệ thống trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta mà Linux đóng một vai trò quan trọng. Nhưng các ví dụ nêu trên cũng đủ để chứng tỏ với bạn rằng Linux không chỉ là trò chơi cho những kẻ ham mê máy tính.

So sánh nhanh (K)Ubuntu 8.04, Mandriva 2008.1, PCLOS 2008 Gnome

Các bộ Linux nói dưới đây đều nằm trong số những hệ Linux hàng đầu. Kubuntu và Ubuntu là hai phiên bản của cùng một hệ Linux dùng hai môi trường đồ họa khác nhau: KDE và GNOME. Mandriva kế thừa Mandrake, dùng KDE. PCLinuxOS (PCLOS) xây dựng trên nền Mandriva có cả bản KDE và GNOME. Những so sánh dưới đây:

  1. So sánh nhanh những đặc điểm chủ yếu nhất dưới góc độ của một người dùng bình thường, không có khả năng hoặc không muốn đi sâu vào những chi tiết kỹ thuật phức tạp.
  2. Mục đích sử dụng là máy tính văn phòng: soạn văn bản, bảng tính, trình diễn, lướt web, thư điện tử, xem và nghe các file hình, nhạc. Các yêu cầu cao hơn như kết nối với thiết bị cầm tay, bảo mật, … không xét ở đây.
  3. Chỉ đúng với các phiên bản được so sánh. Sang phiên bản sau tình hình có thể đã khác rồi.

Cài đặt:

Tất cả các hệ đều có chế độ chạy từ CD (LiveCD). Đây là chế độ nên thử nếu cài lần đầu (mặc dù chậm, mất thời gian) để kiểm tra xem có phần cứng nào không hoạt động được không (card mạng, wifi, sound card, video card,…). Tuy nhiên, nếu biết chắc, không cần kiểm tra thì (K)Ubuntu có menu cài thẳng, nhanh hơn là vào LiveCD rồi mới cài.

Các màn hình cài đặt tương tự nhau về nội dung. Màn hình Partition Manager của Mandriva và PCLOS có thêm một số nút lệnh nên trực quan và dễ dùng hơn. Điểm khác nhau chính nằm ở cuối: Mandriva và PCLOS có một số màn hình cho phép điều khiển quá trình tạo bootloader còn (K)Ubuntu thì không. Mandriva và PCLOS đều nhận được Windows đã cài trên ổ cứng nhưng không nhận lẫn nhau và phải add bằng tay. (K)Ubuntu nhận diện các hệ khác trên ổ cứng (cả Linux và Windows) khá tốt. Vì vậy nếu cài nhiều hệ điều hành trên máy thì nên cài (K)Ubuntu cuối cùng.

Tương thích phần cứng

Mandriva có vẻ tương thích phần cứng tốt hơn cả qua những trường hợp sau:

- Trên một máy có card mạng onboard, Mandriva nhận và cho card làm việc tốt. Các bản Kubuntu, Ubuntu và PCLOS 2007 đều nhận được card này nhưng card không hoạt động được.

- Trên máy Dell 700m, Mandriva và PCLOS nhận và kích hoạt được card wifi ở cả hai chế độ mã hóa WEP và WPA. Kubuntu và Ubuntu không kích hoạt được card ở chế độ WEP. Ngay cả sau khi kích hoạt được card ở chế độ WPA, (K)Ubuntu thiết lập kết nối rất chậm, thậm chi xuất hiện màn hình phụ, nhấn connect mới vào mạng.

- Trên một máy có hai card mạng (một ra modem ADSL và một ra mạng LAN), Mandriva cài dễ dàng và cho cả hai card làm việc song song tốt nhất. (K)Ubuntu cài đặt cho hai card cùng làm việc khá phức tạp và thỉnh thoảng vẫn bị mất một kết nối. OpenSUSE chỉ cho làm việc một card, kích hoạt cái nọ thì cái kia tắt.

-Mandriva và PCLOS kích hoạt card xong có thể kiểm tra xem có hoạt động không. Ubuntu không có công cụ kiểm tra trạng thái card (tất nhiên có thể cài thêm), thường phải chạy Firefox để kiểm tra.

- Cài máy in HP 1020, Mandriva và PCLOS sau khi cài driver xong báo thiếu firmware, tự tải về. (K)Ubuntu không báo gì.

- Nối màn hình ngoài vào notebook, Mandriva nhận tốt cả hai màn hình, PCLOS 2008 Gnome màn hình ngoài bị lệch. (K)Ubuntu chưa thử.

Phần mềm cài sẵn

Duy nhất có Mandriva cài xong là dùng được ngay. PCLOS 2008 Gnome phải cài thêm OpenOffice. (K)Ubuntu phải cài thêm bộ restricted. Kubuntu còn phải cài thêm cả Firefox.

Mandriva và PCLOS bằng một nút nhấn có thể nhập toàn bộ font Windows có sẵn sang. Mandriva còn có nút lệnh cho import cả documents và một số settings từ Windows sang.

PCLOS 2007 KDE có vẻ đầy đủ phần mềm phụ nhất. Tuy nhiên bản này hơi cũ, phải sau lần update đầu tiên mới dùng tốt được.

Kho phần mềm thì (K)Ubuntu vô địch kể cả về số lượng lẫn tốc độ download. Mandriva xếp thứ hai và PCLOS xếp cuối.

Tiếng Việt

Mandriva có sẵn bộ gõ x-unikey-1.0.4 trong kho phần mềm, cài đặt dễ dàng nhưng bản thân x-unikey-1.0.2 trở lên có lỗi (trong mọi bản Linux KDE): a/ đang gõ bị mất tiếng Việt, phải tắt bật lại để gõ tiếp, b/gõ trong các ô của bảng, con trỏ đột ngột nhảy sang ô khác. Cài bản 0.9.2 thì không bị hai lỗi đó nhưng icon cập nhật luôn đỏ báo có phần mềm cập nhật (nâng lên 1.0.4).

PCLOS 2008 Gnome gõ được tiếng Việt bằng scim. Cài từ Control Center – System – Manage localization for your system. Copy file vi-telex-locdt.mim vào /usr/share/m17n và chỉ enable cách gõ này. Chưa thử nhiều nên chưa biết có lỗi gì không.

Kubuntu 8.04 vẫn dùng x-unikey-0.9.2 được. Ubuntu 8.04 theo hướng dẫn ở đây. (chưa thử).

Control Center

Control Center của Mandriva và PCLOS (kể cả bản Gnome) hay nhất vì là dạng wizard hướng dẫn từng bước, thiếu phần mềm nào thì tự tải về cài. Đây là hướng xây dựng Control Center rất tốt, làm cho Linux thân thiện với người dùng. Kubuntu cũng có Control Center tập trung khá tốt tuy không bằng hai hệ nói trên. Ubuntu dở nhất về mặt này.

Giao diện

KDE hay GNOME là tùy sở thích. Cá nhân tôi thích KDE hơn. Mandriva và PCLOS có cơ chế convert font sao đó nên chọn font nào làm font màn hình cũng đẹp. (K)Ubuntu chỉ có font Free (FreeSerif, FreeSans,…) hiển thị tốt trên màn hình. Giao diện đẹp thì PCLOS là nhất, đặc biệt là giao diện PCLOS Minime.

Tốc độ

Hiện tại PCLOS 2008 GNOME nhanh nhất (và chắc bản PCLOS 2008 KDE sắp ra cũng vậy). Dùng bản này có cảm giác nhẹ nhõm, nhanh rất dễ chịu khác hẳn các bản còn lại. Mandriva xếp thứ hai còn (K)Ubuntu đứng hạng chót. So sánh ở đây đều ở chế độ tắt tất cả các hiệu ứng màn hình rồi.

Kết luận:

Ở giai đoạn này, nếu thích tốc độ thì nên dùng PCLOS 2008 GNOME. Mới học nên chọn Mandriva hoặc PCLOS 2008 KDE sắp ra (nhược điểm lớn nhất là hiện chưa có tài liệu hướng dẫn tiếng Việt). (K)Ubuntu dành cho người thích tự cài và tìm hiểu về phần mềm nguồn mở (vì kho phần mềm lớn).

Còn hai đại gia nữa tôi đã thử qua nhưng không có ấn tượng gì lắm: OpenSUSE và Fedora. OpenSUSE có lẽ phù hợp cho việc tìm hiểu sâu hơn một chút về linux (cho chọn rất nhiều các thông số kỹ thuật). Fedora không thấy có gì nổi bật ngoài tuổi đời lâu nên nhiều người biết, phần mềm nào cũng có bản build sẵn cho Fedora.

Cần phải nhắc lại là các ý kiến trên chỉ căn cứ vào việc dùng lướt qua các phần mềm trong một thời gian ngắn của một người dùng bình thường. Chắc là có nhiều điểm vừa sai vừa thiếu nhưng cũng chia sẻ để mọi người tham khảo.

Ubuntu 8.04, những nhận xét ban đầu (update 1/5/08)

Ngày 24/4/08, bản Ubuntu 8.04 chính thức ra đời theo đúng kỳ hạn đã định là 6 tháng một phiên bản mới. Tên mã của 8.04 là Hardy Heron – con diệc gan dạ, hình con diệc xuất hiện trên màn hình nền mặc định của Ubuntu, hơi giống con hạc trên các bàn thờ.

Đây là bản LTS (Long Time Support – hỗ trợ dài hạn) thứ hai của giòng Ubuntu, bản Desktop hỗ trợ cập nhật các bản vá an ninh và sửa lỗi trong 3 năm – đến năm 2011, bản Server hỗ trợ 5 năm đến 2013. Được chọn là bản LTS có nghĩa là sẽ tương đối ổn định và tin cậy, những bản không phải LTS chỉ được hỗ trợ 1,5 năm. Riêng Kubuntu do còn giao thời giữa KDE3 và KDE4 nên không phải là bản LTS.

Một điểm nổi bật của Ubuntu 8.04 là chế độ cài trong Windows. Khi đang chạy Windows, đưa đĩa cài Ubuntu vào ổ CD sẽ xuất hiện một màn hình cài đặt cho phép cài Ubuntu như một ứng dụng (nhưng không phải là ứng dụng Windows) vào một thư mục Windows, không phải qua các bước tạo partition như trước đây. Sau khi cài xong, khởi động lại máy sẽ xuất hiện boot menu để chọn khởi động vào Windows hay Ubuntu. Cách cài này với người đã thạo Linux thì không có ý nghĩa gì, thậm chí còn dở vì tốc độ chậm hơn là cài lên partition mới. Tuy nhiên với người mới học Linux thì rất tiện vì không sợ nhầm lẫn mất Windows, không phải học các khái niệm mới về partition Linux. Biện pháp này được xem là có tính đột phá để phổ biến Ubuntu đến những người dùng lần đầu. Tất nhiên vẫn có thể boot máy từ đĩa cài Ubuntu để tạo partition mới rồi cài như các hệ Linux khác.

Về hình thức, bản 8.04 không có thay đổi gì nhiều so với bản 7.10. Chất lượng chủ yếu tốt hơn là ở các phiên bản mới của các gói phần mềm thành phần: nhân Linux và server đồ họa Xorg mới hỗ trợ nhiều phần cứng hơn, chỉnh sửa màn hình linh hoạt hơn, OpenOffice là bản mới nhất 2.4, thay đổi một vài trình ứng dụng, kết nối vào mạng Windows Active Directory bằng trình Likewise v.v…

Tuy nhiên với người dùng lại có một số trục trặc:

1- Bản Firefox mặc định là Firefox 3 beta5. Hầu hết các extension của Firefox 2 hiện chưa chạy được trên Firefox 3. Gỡ Firefox3, cài Firefox2 cũng không cài được các extension. Nếu bạn đã quen dùng extension thì đây là điều vô cùng khó chịu.

Update: mở thư mục /home/<username>/.mozilla xoá toàn bộ nội dung, chạy lại Firefox2.

2- Bộ gõ tiếng Việt xvnkb-0.3 đã sửa lỗi mount CD và dùng tốt trong 7.10 không dùng được trong 8.04. Khi gõ tiếng Việt trong OpenOffice, con trỏ giật sang trái xóa luôn ký tự đã gõ trước đó. Bộ gõ x-unikey thì xưa nay vẫn không gõ được trong OpenOffice. Cài bản scim-vietiti-upd.deb tại đây thì gõ được tiếng Việt bằng scim nhưng không tắt được màn hình xem trước Preedit: khi gõ xuất hiện một màn hình con hiển thị các ký tự đang gõ, khi xong một từ nhấn space, màn hình đó mới tắt và từ định gõ mới xuất hiện đúng vị trí. Cách làm này tiện cho gõ các chữ tượng hình, nhưng mới dùng cho tiếng Việt thì hơi khó chịu. Các phiên bản Ubuntu trước đều tắt được màn hình này.

Update: xem bài So sánh nhanh ….

3- Khi cài lên máy notebook Dell Inspiron 700m, cả Ubuntu và Kubuntu đều nhận đúng card wifi nhưng không kết nối được. Phiên bản trước (7.10) thì kết nối tốt. Điều này gây một cảm giác xấu và bất an: phiên bản mới có thể hỗ trợ nhiều phần cứng hơn, hỗ trợ tốt hơn một số phần cứng nhưng cũng có thể lại kém hơn với một vài phần cứng cũ.

Update: đổi chế độ mã hoá của ADSL modem từ WEP sang WPA Pre-shared key thì kết nối được.

4- Kubuntu 8.04 có hai bản: một bản chính thức dùng KDE3 và bản remix dùng KDE4. KDE4 đẹp hơn, nhiều hiệu ứng đồ họa hơn và một số phần mềm ứng dụng tốt hơn nhưng lại chưa đủ độ chín (tương tự Firefox3).

Tất cả những điều trên làm ta không thể cài và dùng ngay Ubuntu được. Bản Ubuntu này không gây được ấn tượng tốt như khi chuyển từ Ubuntu 6.10 lên 7.04 và 7.10. Tất nhiên đây chỉ là những nhận xét rất sơ bộ ban đầu.