Kiến trúc doanh nghiệp và tái cơ cấu

(Bài viết đóng góp cho thuyết minh đăng ký một đề tài NCKH. Mong có ý kiến phê bình để rút kinh nghiệm- PVT)

1.Đặt vấn đề :

(Vấn đề này tương đối mới ở nước ta. Do đó cách diễn giải cần phải dài, chi tiết một chút. Tên và link đến tài liệu trích dẫn xem ở Danh mục tài liệu trích dẫn. Ký hiệu [4:2] có nghĩa là tài liệu số 4, trang 2 hoặc mục 2).

Năm 1996, đạo luật liên bang Mỹ Clinger–Cohen Act[1]quy định và các bước triển khai tiếp theo đã cho ra đời Kiến trúc Chính phủ liên bang Mỹ (U.S. federal enterprise architecture – FEA [2]) như một yêu cầu bắt buộc với mọi hệ thống thông tin quản lý nhà nước.

Năm 2011, tại Diễn đàn Thương mại điện tử Việt Nam 2011 thứ trưởng bộ Công thương Trần Tuấn Anh đã nhấn mạnh “Tái cơ cấu theo hướng xây dựng kiến trúc doanh nghiệp ….Các tập đoàn, công ty, hệ thống ngân hàng thương mại và doanh nghiệp là những đối tượng cần đi đầu trong công tác đổi mới và xây dựng kiến trúc Doanh nghiệp phù hợp với tầm nhìn kinh doanh trong 5 năm tới.”[3].

Như vậy, kiến trúc chính phủ, kiến trúc doanh nghiệp có tầm quan trọng rất lớn, nhất là trong giai đoạn tái cơ cấu hiện nay. Đó cũng là nội dung chính của đề tài này mà dưới đây sẽ làm rõ hơn một số vấn đề đặt ra.

a.Khái niệm, thuật ngữ.

Trong các đặc điểm lớn của ngành đóng tàu có một đặc điểm đáng chú ý: Cung về năng lực đóng tàu luôn lớn hơn cầu về nhu cầu đóng mới dẫn đến cạnh tranh khốc liệt ở quy mô quốc gia [4]. Với mức độ cạnh tranh như vậy, công nghệ thông tin là một trong những công cụ cơ bản và chủ yếu đảm bảo năng lực cạnh tranh. “ … bất kỳ một sự cải tiến nào trong quá trình đóng tàu, bất kể là cải tiến sản phẩm hoặc tối ưu hóa quá trình công nghệ hiện nay đều không thể thực hiện được nếu không có sự hỗ trợ rất lớn của công nghệ thông tin” [5:1]. Trong “Chương trình Quốc gia Nghiên cứu Phát triển ngành Đóng tàu Mỹ” có 6 hạng mục thì công nghệ thông tin chiếm tỷ trọng vốn đầu tư lớn nhất (chi tiết xem [6]).

Vinashin hiện nay đang thực hiện tái cơ cấu “toàn diện và triệt để”, việc áp dụng công nghệ thông tin để đảm bảo năng lực cạnh tranh lại càng cấp thiết. Nhưng xây dựng, phát triển hệ thống công nghệ thông tin trong tập đoàn như thế nào là vấn đề mà đề tài này mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé. Đó là: trước khi xây dựng hệ thống thông tin, phải xây dựng kiến trúc của hệ thống đó.

(Không chỉ có hệ thống thông tin, các hệ thống tổ chức, quản lý, nghiệp vụ của Vinashin cũng nên có một kiến trúc doanh nghiệp như lời phát biểu của thứ trưởng bộ Công thương đã dẫn ở trên)

Tại sao phải xây dựng kiến trúc hệ thống thông tin.

Các đô thị lớn ở Việt nam hiện nay đang gặp phải nhiều vấn đề lớn, nan giải: ùn tắc giao thông, ngập lụt, ô nhiễm nặng nề, phải áp dụng các giải pháp đối phó, chắp vá như đường trên cao, cầu vượt, v.v… và muốn giải quyết hoặc xây dựng một cái mới thì tiền đền bù, phá cái cũ gấp nhiều lần tiền thực sự dành cho xây mới, tạo ra “những con đường đắt nhất hành tinh”.

Nguyên nhân chủ yếu là do trước đây không có quy hoạch kiến trúc tổng thể, mạnh ai nấy làm, cần gì làm nấy, không có một kỷ cương chung.

Cách đây khoảng 25 năm, hệ thống thông tin của các tổ chức cũng gặp phải vấn đề tương tự. Sau một thời gian phát triển liên tục, người ta nhận ra rằng [7]:

  • Hệ thống thông tin càng ngày càng phức tạp, tốn kém, khó điều hành. Chi phí và mức độ phức tạp của hệ thống tăng theo cấp lũy thừa, trong khi đó
  • Mức độ hệ thống thông tin đáp ứng nhu cầu của tổ chức càng ngày càng kém đi. Mỗi khi có nhu cầu mới hoặc thay đổi, rất khó điều chỉnh một hệ thống thông tin cồng kềnh, đắt tiền đáp ứng được các nhu cầu mới đó.

Các vấn đề nói trên không chỉ riêng của xây dựng thành phố hay hệ thống thông tin. Bất kỳ một tổ chức, hệ thống nào khi phát triển tự phát đến một quy mô nhất định cũng gặp tình trạng cồng kềnh, phức tạp, tốn kém, khó thay đổi và hiệu năng bị giảm.

Để khắc phục tình trạng đó, năm 1987 một lĩnh vực mới ra đời: Kiến trúc hệ thống.(Enterprise Architecture).

Hệ thống ở đây được hiểu theo nghĩa rộng là mọi tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, đoàn thể,..), tập hợp các tổ chức (tập đoàn, hiệp hội) có cùng các mục tiêu, hoặc một ngành dọc trong một tổ chức, ví dụ: hệ thống tài chính – kế toán của một tập đoàn. Trong thuật ngữ tiếng Anh Enterprise Architecture, từ enterprise được hiểu theo nghĩa rộng này mà doanh nghiệp chỉ là một trường hợp riêng[8:1.2]. Vì vậy dưới đây thống nhất gọi chung là Kiến trúc hệ thống. Trong từng lĩnh vực cụ thể, từ enterprise có nghĩa khác nhau. Ví dụ: kiến trúc chính phủ điện tử, kiến trúc doanh nghiệp, kiến trúc hành chính, kiến trúc hệ thống thông tin, v.v….

Kiến trúc hệ thống là gì?

Có nhiều định nghĩa khác nhau về kiến trúc hệ thống. Dưới đây đưa ra một định nghĩa theo ISO/IEC 42010:2007 [8:2.2], kiến trúc là:

Tổ chức cơ bản của một hệ thống bao gồm:

  • các bộ phận cấu thành nên hệ thống đó,
  • quan hệ giữa các bộ phận với nhau và với môi trường ngoài và
  • các nguyên tắc chỉ đạo việc thiết kế và phát triển các bộ phận đó

The fundamental organization of a system, embodied in its components, their relationships to each other and the environment, and the principles governing its design and evolution.”

Hiểu một cách tổng quát nhất, kiến trúc của một tổ chức, hệ thống là bản thiết kế, quy hoạch tổng thể thống nhất từ đầu cho toàn bộ quá trình xây dựng, phát triển tổ chức, hệ thống đó sau này, khắc phục được các vấn đề nan giải nói trên.

Để các tổ chức, hệ thống hoạt động tốt, thông tin phải thông suốt và do đó công nghệ thông tin (tin học) với tư cách như một mạng thần kinh trung ương là không thể thiếu. Vì vậy, các thành phần chủ yếu của kiến trúc hệ thống hiện đại như sau [8:2.3]:

  • Kiến trúc nghiệp vụ (Business Process Architecture): bao gồm chiến lược phát triển, hệ thống quản lý, cơ cấu tổ chức và các quy trình nghiệp vụ chủ yếu của một hệ thống.

  • Kiến trúc dữ liệu (Data Architecture): cấu trúc các tài sản dữ liệu vật lý (văn bản, sách,…) và logic (dữ liệu số hóa) của hệ thống và các công cụ để quản lý các tài sản dữ liệu đó.

  • Kiến trúc ứng dụng (Application Architecture): bản thiết kế tổng thể các phần mềm ứng dụng phải được sử dụng, tương tác giữa chúng với nhau và quan hệ của chúng với các quy trình nghiệp vụ chủ yếu của hệ thống.

  • Kiến trúc công nghệ (Technology Architecture): mô tả các hạ tầng phần cứng và phần mềm cần thiết để có thể khai triển ba lớp kiến trúc nói trên. Kiến trúc công nghệ gồm: hạ tầng công nghệ thông tin, các phần mềm lớp giữa (midleware), mạng, truyền thông, các tiêu chuẩn, …

Khung kiến trúc hệ thống

Đối với các tổ chức lớn, đa dạng, phức tạp và chưa ổn định như Vinashin, không thể có một kiến trúc chung cho toàn bộ hệ thống. Mỗi đơn vị thành viên, mỗi ngành dọc (sản xuất, kinh doanh, tài chính – kế toán, v.v…) cần phải có một kiến trúc riêng, phù hợp với mình. Bên trong mỗi kiến trúc đó lại có thể có các kiến trúc con cho từng bộ phận.

Để thống nhất những cái cần thống nhất, tạo một khuôn khổ, quy củ chung và đảm bảo tính tương thích của các hệ thống với nhau cần xây dựng và ban hành một khung kiến trúc hệ thống chung cho toàn tập đoàn.

Có nhiều định nghĩa khung kiến trúc, dưới đây đưa ra một định nghĩa theo ISO/IEC/IEEE 42010 [10]:

Khung kiến trúc xác lập các quy định chung để tạo lập, giải thích, phân tích và sử dụng các kiến trúc trong một lĩnh vực phần mềm riêng biệt hoặc trong cộng đồng những người có liên quan.

An architecture framework establishes a common practice for creating, interpreting, analyzing and using architecture descriptions within a particular domain of application or stakeholder community.”

Hiểu nôm na, nó tương tự như tài liệu hướng dẫn lập các dự án đầu tư, quy định các nội dung phải làm, các bước phải thực hiện, các văn bản pháp lý phải theo thậm chí cách trình bày, tính toán để đảm bảo tính đầy đủ, tính thống nhất chung và mọi người có liên quan (stakeholders) đều hiểu và sử dụng được.

Mấy yêu cầu cần lưu ý

  1. Khung kiến trúc, kiến trúc cần có tính trung lập đối với nhà cung cấp các sản phẩm, công nghệ IT. Nó không thiên vị cũng không hạn chế bất kỳ một công nghệ, sản phẩm nào.
  2. Khung kiến trúc, kiến trúc phải đảm bảo tính tương hợp (interoperability) giữa các bộ phận của hệ thống, giữa các hệ thống con với nhau, nghĩa là các bộ phận, hệ thống con đó phải trao đổi thông suốt được dữ liệu với nhau và sử dụng được dữ liệu đó.
  3. Khung kiến trúc, kiến trúc phải đưa ra được một bộ tiêu chuẩn kỹ thuật chung cho toàn hệ thống.

Tại sao phải xây dựng khung kiến trúc riêng cho Vinashin?

Hiện nay có rất nhiều khung kiến trúc, phương pháp luận xây dựng kiến trúc tổng quát và được sử dụng rộng rãi như TOGAF, Zachman, FEAF, … Về nguyên tắc, có thể áp dụng trực tiếp các khung/phương pháp luận đó vào xây dựng một kiến trúc cụ thể nhưng có những bất cập sau:

  • Vì các khung/phương pháp luận đó là tổng quát, áp dụng được cho mọi loại tổ chức/hệ thống nên rất phức tạp, khó hiểu, khó sử dụng và có nhiều cái thừa, không cần thiết với một tổ chức/hệ thống cụ thể.
  • Cũng do tính tổng quát, chúng lại có nhiều cái thiếu, không phản ánh được các đặc điểm riêng biệt, các quy định riêng, trình độ phát triển riêng của từng tổ chức/hệ thống cụ thể.
  • Mỗi khung/phương pháp luận đều có ưu nhược điểm riêng. Chỉ theo một cái có thể phải chấp nhận cả những nhược điểm của nó và có thể nhược điểm đó có ảnh hưởng lớn tới một tổ chức/hệ thống cụ thể.

Vì vậy, trên cơ sở các khung/phương pháp luận tổng quát, sửa đổi, tổng hợp để xây dựng một khung riêng của một tổ chức/hệ thống là việc cần làm. Đặc biệt là trong điều kiện hiện nay của nước ta nói chung và Vinashin nói riêng, những cán bộ kỹ thuật am hiểu về kiến trúc hệ thống rất hiếm hoi, việc xây dựng một khung kiến trúc riêng dễ hiểu, dễ sử dụng với những hướng dẫn tỷ mỷ, chi tiết là việc bắt buộc phải làm.

Tính “riêng” như nói ở trên là về nguyên tắc. Đề tài sẽ tìm hiểu, so sánh, phân tích các khung/phương pháp luận hiện có để xem cần sửa đổi, tổng hợp đến mức độ nào cho phù hợp với Vinashin. Mức độ đó có thể rất lớn, nhưng cũng có thể rất nhỏ tùy theo kết quả các nghiên cứu sẽ chỉ ra.

Theo một nghiên cứu khảo sát năm 2005[11], có khoảng 22% tổ chức sử dụng khung kiến trúc riêng, 25% dùng khung Zachman, 11% dùng TOGAF, v.v…

Kiến trúc doanh nghiệp hay kiến trúc hệ thống thông tin?

Tùy theo điều kiện cụ thể, có ba cách xây dựng một kiến trúc hệ thống:

  1. Khi kiến trúc nghiệp vụ đã có, việc xây dựng kiến trúc hệ thống chỉ mô tả, hệ thống hóa lại kiến trúc nghiệp vụ làm cơ sở cho các thành phần kiến trúc tiếp theo. Nội dung xây dựng chủ yếu là ở ba thành phần kiến trúc tiếp theo, tức là kiến trúc hệ thống thông tin của một tổ chức. Sau quá trình đó, sẽ có những đề xuất, kiến nghị điều chỉnh kiến trúc nghiệp vụ để sử dụng, lưu chuyển thông tin hiệu quả hơn.

  2. Khi kiến trúc nghiệp vụ chưa có (một tổ chức mới thành lập) hoặc đã có nhưng còn nhiều bất cập. Việc xây dựng kiến trúc hệ thống sẽ bao gồm cả xây dựng kiến trúc nghiệp vụ (trọng tâm) và kiến trúc hệ thống thông tin phục vụ cho nó. Trong trường hợp này có thể gọi là xây dựng kiến trúc tổ chức (trường hợp riêng: kiến trúc doanh nghiệp).

  3. Như trên đã nói, nhiều tổ chức phát hiện ra đã đầu tư rất lớn cho công nghệ thông tin nhưng kết quả không như mong đợi. Điều đó không đơn thuần là lỗi của hệ thống công nghệ thông tin mà do các hệ thống tổ chức, nghiệp vụ hiện có không thể nào tận dụng được sức mạnh, lợi thế của công nghệ thông tin (ví dụ: chỉ dùng văn bản giấy). Điều này đặc biệt rõ trong các hệ thống chính phủ điện tử của ngay cả các nước tiên tiến. Vì vậy hiện nay đang có một cách làm mới: cải cách các tổ chức, nghiệp vụ hiện có sao cho tận dụng được tối đa sức mạnh công nghệ thông tin, tức là cải cách quản lý, tổ chức theo công nghệ, không như trước công nghệ phải uốn mình theo các hoạt động nghiệp vụ. Trong hệ thống chính phủ, cách làm đó tạm dịch là “Chính phủ cải cách” (Transfomational Government [12]).

Vì kiến trúc nghiệp vụ của Vinashin đã là nội dung của các đề tài khác, nhiệm vụ khác (tư vấn của KPMG, DNV, chương trình ISO, …) nên trong đề tài này phần kiến trúc nghiệp vụ chỉ tập hợp, hệ thống hóa và mô tả lại bằng các công cụ của kiến trúc hệ thống để phục vụ cho các bước tiếp theo. Tức là chủ yếu theo cách làm 1 nói trên.

Mặt khác, quá trình tìm hiểu, nghiên cứu các hệ thống thông tin đóng tàu tiên tiến, quá trình xây dựng, thí điểm khung/kiến trúc sẽ làm xuất hiện những đề xuất cải tiến hệ thống tổ chức/nghiệp vụ đã và đang định xây dựng cho tốt hơn, hiệu quả hơn. Tức là phần nào có theo cách 2 và 3.

Vinashin hiện đang trong quá trình tái cơ cấu toàn diện và triệt để. Hệ thống thông tin toàn tập đoàn trước đây phát triển hoàn toàn tự phát và còn thiếu rất nhiều. Đó là các điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng khung kiến trúc hệ thống thông tin toàn tập đoàn, đặt một cơ sở khoa học cho quá trình phát triển hệ thống thông tin hiện tại và trong một tương lai gần.

b.Tình hình nghiên cứu ngoài nước:

Ngành kiến trúc hệ thống có thể coi như bắt đầu vào năm 1987 khi J.A Zachman viết bài báo “A Framework for Information Systems Architecture,”. Sau 25 năm phát triển đến nay đã có hàng chục khung/phương pháp luận kiến trúc hệ thống ra đời (ví dụ xem [13], [14]).

Một trong những nơi áp dụng kiến trúc hệ thống mạnh nhất là các hệ thống chính phủ điện tử. Nước Mỹ có Khung Kiến trúc Liên bang (FEAF [15]) và Kiến trúc Hành chính Liên bang (FEA [2]) áp dụng cho các cơ quan quản lý nhà nước. Bộ Quốc phòng Mỹ lại có kiến trúc riêng của mình DoDAF [16]. Chính phủ Đức có Chuẩn và Kiến trúc cho Chính phủ điện tử SAGA [17]. Nhiều nước khác cũng có khung/kiến trúc chính phủ điện tử của mình (ví dụ xem [18]). Các kiến trúc này liên tục được cập nhật, ví dụ tài liệu SAGA của chính phủ Đức hiện có là phiên bản 5.0 (2011). Các kết quả này rất có giá trị tham khảo khi xây dựng kiến trúc doanh nghiệp.

Đáng chú ý là Nga, một nước đi sau trong việc xây dựng chính phủ điện tử, đã chủ trương “xây dựng từng bước chính phủ điện tử bắt đầu từ phát triển kiến trúc hệ thống”[19]. Điều này nói lên, cũng như quy hoạch kiến trúc tổng thể cho các dự án xây dựng, kiến trúc hệ thống là nội dung cơ bản cần đi trước một bước khi phát triển một hệ thống thông tin lớn và phức tạp. (Vinashin có thuận lợi này: hệ thống thông tin hiện nay gần như bắt đầu xây dựng từ đầu.)

Các doanh nghiệp lớn cũng là nơi xây dựng và áp dụng kiến trúc hệ thống mạnh mẽ. Trong danh sách 27 công ty được giải “Annual Enterprise & IT Architecture Excellence Award 2012” [20] có thể thấy những tên tuổi lớn như Credit Suisse, Intel, v.v… Trong các công ty lớn hiện có một chức danh: Nhà kiến trúc doanh nghiệp (Enterprise Architect).

Các công ty tin học, tư vấn lớn cũng có các sản phẩm là các khung/phương pháp luận, giải pháp phần mềm, dịch vụ tư vấn xây dựng kiến trúc: IBM [21], Microsoft [22], Gartner [23]…

Các công ty, tổ chức chuyên nghiên cứu về kiến trúc hệ thống liên tục phát triển, cập nhật sản phẩm của mình. Khung kiến trúc TOGAF phiên bản 1.0 (1995) hiện đã có phiên bản 9.1 (2011), khung Zachman hiện có phiên bản 3.0, …

Số lượng khung/kiến trúc hệ thống nhiều đến mức đã xuất hiện một hướng nghiên cứu: xây dựng các công cụ để người sử dụng có thể tìm kiếm, đánh giá, lựa chọn, sửa đổi các khung/kiến trúc phù hợp. Các công cụ đó có thể là sách hướng dẫn “Làm sao để sống sót trong rừng rậm các khung kiến trúc”[24], báo cáo nghiên cứu [7], [14],[25], khung đánh giá, phân loại [26],[14]v.v….

Các công cụ “vẽ” kiến trúc: cũng như kiến trúc xây dựng có ngôn ngữ chung là các bản vẽ xây dựng, kiến trúc hệ thống hiện nay cũng có nhiều loại ngôn ngữ mô hình kiến trúc (enterprise architecture modelling language) khác nhau cần được lựa chọn trước. Toàn bộ kiến trúc mô tả bằng 1 ngôn ngữ sẽ giúp các “người liên quan” (stackeholders) hiểu được, chia sẻ được công việc cho nhau. Ngoài ra, cũng có nhiều phần mềm hỗ trợ việc xây dựng kiến trúc hệ thống nhanh, chính xác và dễ sử dụng lại hơn là làm bằng tay, ví dụ [27] Chi tiết về các công cụ xây dựng kiến trúc có thể xem ở đây [28]

Tóm lại, kiến trúc hệ thống là một hướng nghiên cứu, ứng dụng đang rất phát triển.

c.Tình hình nghiên cứu trong nước

Kiến trúc hệ thống mới được biết đến ở Việt nam không lâu nhưng nhanh chóng được đánh giá cao, đặc biệt là trong giai đoạn tái cơ cấu doanh nghiệp hiện nay. Tại Diễn đàn Thương mại điện tử Việt Nam 2011 (EcomBiz 2011) thứ trưởng bộ Công thương Trần Tuấn Anh đã nhấn mạnh [3]: “Tái cơ cấu theo hướng xây dựng kiến trúc DN là một bức tranh kiến trúc đa chiều thể hiện các bộ phận cấu thành nên một DN và mối quan hệ giữa các bộ phận. … diễn đàn cần tập trung thảo luận sâu về vai trò của kiến trúc DN trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh giai đoan 2011- 2015, đáp ứng yêu cầu về tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng nêu tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 11. Các tập đoàn, công ty, hệ thống ngân hàng thương mại và DN là những đối tượng cần đi đầu trong công tác đổi mới và xây dựng kiến trúc DN phù hợp với tầm nhìn kinh doanh trong 5 năm tới.”

Lĩnh vực quản lý nhà nước là nơi có nhận thức sớm, đã và đang triển khai mạnh mẽ các đề tài nghiên cứu, các công trình xây dựng và áp dụng kiến trúc hệ thống. Đề án 112 bắt đầu triển khai năm 2001, được đánh giá là “đã định hướng được kiến trúc hệ thống thông tin của Chính phủ”[29]. Nghị định số 64/2007/NĐ-CP “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước”, điều 15 giao nhiệm vụ “Bộ Bưu chính, Viễn thông chủ trì xây dựng kiến trúc chuẩn hệ thống thông tin quốc gia”.

Một số bộ ngành, tỉnh, thành phố cũng đã triển khai công tác theo hướng này:

  • Bộ Tài nguyên và Môi trườngtrên cơ sở kiến trúc hệ thống thông tin quốc gia, cần xây dựng và ban hành kiến trúc hệ thống thông tin ngành TN&MT[30].
  • Bộ Ngoại giao “thiết kế, xây dựng khung kiến trúc chuẩn CNTT và một lộ trình phát triển ứng dụng CNTT cho giai đoạn từ nay đến 2015.”[31]
  • Bộ Thông tin Truyền thông: Đề tài khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu xây dựng kiến trúc công nghệ thông tin và truyền thông và các giải pháp công nghệ phù hợp cho việc triển khai Chính phủ điện tử ở Việt Nam”, mã số KC.01.18 thuộc Chương trình nghiên cứu khoa học trọng điểm về Công nghệ thông tin và truyền thông KC.01, giai đoạn 2006 – 2010 .
  • Mới đây “Dự án Tư vấn khung và các tiêu chuẩn ứng dụng CNTT Chính phủ điện tử (dự án MIC 1.4) do Bộ TT&TT là chủ đầu tư, nằm trong khuôn khổ dự án Phát triển CNTT-TT tại Việt Nam do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ, vừa được chính thức khởi động chiều ngày 9/3/2012.” [32].
  • Năm 2008, Hà nội triển khai đề tài CNTT/01-2008-2 “Nghiên cứu đề xuất chuẩn và kiến trúc cho các ứng dụng chính phủ điện tử trong hệ thống thông tin của Hà nội ”
  • Cũng có thông tin không chính thức cho biết Ủy ban Nhân dân tp Đà nẵng và Tổng cục Thống kê đã hoàn thành kiến trúc hệ thống của mình [33]

Với các doanh nghiệp thì không có thông tin. Gần đây, cũng theo tin không chính thức, tập đoàn Dầu khí đang quan tâm đến vấn đề này.

Riêng với Vinashin, Thiết kế Kiến trúc tổng thể là một trong những nội dung chính của đề án “Ứng dụng công nghệ thông tin trong tập đoàn kinh tế Vinashin (giai đoạn 2006-2010) phiên bản 1.0” nhưng không có điều kiện thực hiện.

f.Tài liệu tham khảo, trích dẫn

1. Wikipedia contributors. Clinger–Cohen Act. Wikipedia, the free encyclopedia, 2012. http://en.wikipedia.org/w/index.php?title=Clinger%E2%80%93Cohen_Act&oldid=499844098.

2. Federal Enterprise Architecture (FEA) | The White House. http://www.whitehouse.gov/omb/e-gov/fea/.

3. Tái cơ cấu theo hướng xây dựng kiến trúc doanh nghiệp- Báo Công thương Điện tử. http://www.baocongthuong.com.vn/p0c259n16071/tai-co-cau-theo-huong-xay-dung-kien-truc-doanh-nghiep.htm.

4. Cạnh tranh không lành mạnh trong ngành đóng tàu và vai trò của nhà nước. Tản mạn. https://phanvinhtri.wordpress.com/2011/08/11/canh-tranh-khong-lanh-manh-trong-nganh-dong-tau-va-vai-tro-cua-nha-nuoc/.

5. The Role of IT in Shipbuilding . Kruger, TU Hamburg- Harburg. http://www.ssi.tu-harburg.de/doc/Veroeffentlichungen/2003/compid03.pdf.

6. CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐÓNG TÀU MỸ- Công nghệ hệ thống. http://phanvinhtri.files.wordpress.com/2011/08/nsrp-cc3b4ng-nghe1bb87-he1bb87-the1bb91ng.pdf.

7. A Comparison of the Top Four Enterprise-Architecture Methodologies. http://msdn.microsoft.com/en-us/library/bb466232.aspx.

8. TOGAF® 9.1. http://pubs.opengroup.org/architecture/togaf9-doc/arch/index.html.

9. TOGAF® 9.1. http://pubs.opengroup.org/architecture/togaf9-doc/arch/index.html.

10. ISO/IEC/IEEE 42010: Conceptual Model. http://www.iso-architecture.org/ieee-1471/cm/.

11. Enterprise Architecture Survey 2005 IFEAD v10.pdf. http://www.enterprise-architecture.info/Images/EA%20Survey/Enterprise%20Architecture%20Survey%202005%20IFEAD%20v10.pdf.

12. Transformational Government – Wikipedia, the free encyclopedia. http://en.wikipedia.org/wiki/Transformational_Government.

13. Enterprise architecture framework – Wikipedia, the free encyclopedia. http://en.wikipedia.org/wiki/Enterprise_architecture_framework#Government_frameworks.

14. Survey of Architecture Frameworks. http://www.iso-architecture.org/ieee-1471/afs/frameworks-table.html.

15. Federal Enterprise Architecture Framework. http://www.cio.gov/documents/fedarch1.pdf.

16. Enterprise Architecture & Standards. http://dodcio.defense.gov/Home/Topics/EnterpriseArchitectureStandards.aspx.

17. IT-Beauftragte der Bundesregierung – Architekturen und Standards. http://www.cio.bund.de/DE/Architekturen-und-Standards/SAGA/SAGA%205-aktuelle%20Version/saga_5_aktuelle_version_inhalt.html.

18. Overview of Enterprise Architecture work in 15 countries. http://www.vm.fi/vm/en/04_publications_and_documents/01_publications/04_public_management/20071102Overvi/FEAR_ENGLANTI_kokonaan.pdf.

19. Nga chia sẻ kinh nghiệm xây dựng chính phủ điện tử với Việt Nam – PC World VN. http://www.pcworld.com.vn/articles/quan-ly/nha-nuoc/2010/09/1220814/nga-chia-se-kinh-nghiem-xay-dung-chinh-phu-dien-tu-voi-viet-nam/.

20. iCMG – Enterprise & IT Architecture Excellence Awards – Architecture Award Winners 2012. http://www.icmgworld.com/corp/ArchitectureAwards/2012/global_award_2012_01.asp.

21. IBM – United States. http://www-01.ibm.com/software/info/itsolutions/enterprisearchitecture/.

22. Microsoft Architecture Overview. http://msdn.microsoft.com/en-us/library/ms978007#eaarchover_topic1.

23. Gartner’s Enterprise Architecture Process and Framework Help Meet 21st Century Challenges | 486650. http://www.gartner.com/id=486650.

24. How to Survive in the Jungle of Enterprise Architecture Frameworks: Creating … – Jaap Schekkerman – Google Sách. http://books.google.com.vn/books/about/How_to_survive_in_the_jungle_of_enterpri.html?id=k_9cUrpT4lsC&redir_esc=y.

25. Comparison of the Top Six Enterprise Architecture Frameworks. http://www.cioindex.com/enterprise_architecture.aspx.

26. A Framework for Categorizing Enterprise Architecture Frameworks. https://eeweb01.ee.kth.se/upload/publications/reports/2009/IR-EE-ICS_2009_011.pdf.

27. UML tools for software development and modelling – Enterprise Architect UML modeling tool. http://www.sparxsystems.com/.

28. Enterprise Architecture Tools, Institute For Enterprise Architecture Developments (IFEAD). http://www.enterprise-architecture.info/EA_Tools.htm.

29. Ưu tiên ứng dụng CNTT trong quản lý Nhà nước. http://vietbao.vn/Vi-tinh-Vien-thong/Uu-tien-ung-dung-CNTT-trong-quan-ly-Nha-nuoc/65044456/217/.

30. Gấp rút chuẩn bị cho “Chính phủ điện tử” | ICTNews. http://ictnews.vn/home/Tin-tuc/71/Gap-rut-chuan-bi-cho-Chinh-phu-dien-tu/71201/index.ict.

31. Bộ Ngoại giao và Microsoft ký kết hợp tác phát triển CNTT – Bộ Ngoại giao, Microsoft, Viet Nam, ký kết hợp tác phát triển CNTT. http://www.huesoft.com.vn/Tint%E1%BB%A9c/tabid/58/categoryid/5/itemid/330/Default.aspx.

32. Chuyên gia Đài Loan tư vấn khung Chính phủ điện tử cho Việt Nam | ICTNews. http://ictnews.vn/home/Tin-tuc/71/Chuyen-gia-Dai-Loan-tu-van-khung-Chinh-phu-dien-tu-cho-Viet-Nam/101153/index.ict.

33. Chưa Doanh Nghiệp nào có kiến trúc tổng thể trên nền tảng CNTT – Công ty cổ phần công nghệ DTT. http://dtt.vn/?p=600&lang=vi.

Advertisements

Vài suy nghĩ về Chình phủ điện tử Việt nam (phần 2)

Vài suy nghĩ về Chính phủ điện tử Việt nam (phần 2)

(Bài đã đăng trên tạp chí Tin học & Đời sống 5/2012)

2- Kiến trúc, khung kiến trúc CPĐT.

CPĐT là một lĩnh vực mới bắt đầu phát triển từ cuối những năm 90 và hiện còn đang trong quá trình phát triển. Vì vậy có rất nhiều điều còn chưa rõ ràng, có nhiều cách hiểu, cách làm khác nhau. Dưới đây là vài ví dụ:

Khái niệm khung (framework) được hiểu khác nhau. Zachman định nghĩa khung 1 như một sơ đồ phân loại; TOGAF lại coi khung là “một phương pháp chi tiết và bộ công cụ hỗ trợ để phát triển một kiến trúc” 2, Roger Sessions coi khung kiến trúc “là một cấu trúc khung xương – skeleton structure” 3, kiến trúc FEA của Mỹ cũng được coi như một framework, v.v….

Ngay trong một loại khung kiến trúc, nội dung cũng khác nhau. Khung CPĐT của Uganda 4 có nội dung khá đơn giản, trong khi đó khung CPĐT của Mỹ 5 tương đối đầy đủ và phức tạp.

Trong CPĐT có nhiều loại khung: khung kiến trúc, khung pháp lý, khung kỹ thuật, khung tương hợp, v.v… Trong một khung lại có thể có các khung khác.

Vấn đề phức tạp, rối đến mức mà có chuyên gia phải viết cả một quyển sách “Làm thế nào để sống sót trong rừng rậm các khung kiến trúc” 6.

Vì vậy, mặc dù khung CPĐT do tư vấn nước ngoài xây dựng, nhưng về phía chúng ta cũng cần có những nghiên cứu nhất định để có thể ra đầu bài, hiểu, điều khiển và đánh giá, nghiệm thu được kết quả của tư vấn. Qua tham khảo một số công trình nghiên cứu trong nước, xin có vài đề xuất rút kinh nghiệm cho lần này.

Ý tưởng chung là đi vào một khu “rừng rậm” như đã dẫn ở trên, có nhiều góc nhìn khác nhau, nhiều phương pháp tiếp cận, nhiều loại công cụ. Cần chọn ra, tạo ra những cái của riêng mình, phù hợp với điều kiện đặc thủ của mình ngay trước khi bước vào khám phá nếu không muốn bị lâm vào tình trạng “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, hoặc bước vào rừng với hai bàn tay không, nhìn bằng con mắt người khác, phó mặc cho người dẫn dắt.

Dưới đây nêu lên vài điều cần lưu ý khi chọn phương pháp, công cụ “ đi rừng”, chưa bàn đến các vấn đề kỹ thuật cụ thể.

a) Chọn phương pháp luận để xây dựng khung CPĐT

Theo một nghiên cứu gần đây 7, khoảng 90% kiến trúc tổ chức (tạm dịch cụm từ enterprise architecture, mà kiến trúc CPĐT là một trường hợp riêng) được xây dựng dùng một trong 4 phương pháp luận (methodology) sau:

  • Khung kiến trúc Zachman (The Zachman Framework for Enterprise Architectures) 8: là một hệ thống phân loại (taxonomy), mô tả các thành phần kiến trúc phải có dưới góc nhìn khác nhau của những người liên quan. Nhưng có nhiều vấn đề quan trọng không được Zachman đề cập tới. Nó cũng không chỉ cách xây dựng một kiến trúc mới như thế nào.

  • Khung kiến trúc TOGAF (The Open Group Architectural Framework – TOGAF) 9: là một phương pháp (method) hướng dẫn chi tiết cách xây dựng một kiến trúc kèm theo các công cụ hỗ trợ, nhưng lại không chỉ cách làm thế nào xây dựng một kiến trúc tốt, cho nên kết quả có thể không như mong muốn.

  • Kiến trúc Chính phủ liên bang Mỹ (The Federal Enterprise Architecture – FEA) 10: không chỉ là 5 mô hình tham chiếu, mà còn có 4 tài liệu về phương pháp luận áp dụng và hướng dẫn từng bước. Vì vậy, FEA được xem là một phương pháp luận đầy đủ, kết hợp được cả hai phương pháp luận nói trên, có khung đánh giá kết quả. Mặc dù tên chính thức của nó là kiến trúc nhưng cũng được xem như một framework, kế thừa từ FEAF.

  • Phương pháp luận Gartner (The Gartner Methodology): Gartner là một công ty nghiên cứu và tư vấn về IT nổi tiếng 11. Phương pháp luận xây dựng kiến trúc của Gartner được đánh giá cao do uy tín và tay nghề (practise) của công ty 12 và do đó, phải do người của công ty thực hiện.

(Một nghiên cứu khác cho rằng hiện có 6 khung kiến trúc hàng đầu 13, nhưng điều đó chưa quan trọng ở đây).

Mỗi một phương pháp luận trên có ưu nhược điểm, điều kiện áp dụng riêng (và còn một số phương pháp khác 14). Việc lựa chọn một hoặc vài phương pháp hay tổ hợp các ưu điểm của nhiều phương pháp phù hợp với điều kiện nước ta phải là nội dung của một nghiên cứu riêng. Nhưng xét đến thực tế đội ngũ chuyên gia về kiến trúc tổng thể hiện nay, một trong những yêu cầu cần có là phương pháp luận phải có hướng dẫn áp dụng (method, guidance) rõ ràng, chi tiết và dễ hiểu.

Và điều quan trọng nữa, khi đã chọn phương pháp luận rồi phải theo đúng nó. Có những công trình nói là dựa vào TOGAF, FEA,… nhưng khi thực hiện chỉ dùng mỗi các mô hình tham chiếu là không đủ. Một ví dụ áp dụng pha sơ bộ của TOGAF vào CPĐT xem ở đây 15.

b) Chọn phương pháp để so sánh, đánh giá khung CPĐT

Khi đã có phương pháp luận, bước tiếp theo là so sánh, đánh giá một số khung CPĐT của các nước để rút kinh nghiệm và chọn ra một số mẫu. Nếu chỉ đơn thuần là liệt kê, mô tả kinh nghiệm các nước thì không đủ. Cần phải có phương pháp, tiêu chí để so sánh, đánh gíá khung CPĐT.

Mặt khác, xây dựng được một khung CPĐT rồi, làm sao biết nó tốt hay xấu để nghiệm thu? Cũng cần có phương pháp, tiêu chí thậm chí thang điểm theo yêu cầu đặt ra ban đầu.

Đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này. Ví dụ: Roger Sessions 16 đưa ra nhiều tiêu chí để chấm điểm; Kostovska et al 17 đề xuất hẳn một phương pháp luận để đánh giá, v.v… Bộ Tài chính Phần lan có đưa ra một khung đánh giá hoạt động xây dựng CPĐT, mặc dù chưa đủ chi tiết theo nhu cầu của chúng ta, nhưng cũng đáng tham khảo 18

Phương pháp đánh giá khung CPĐT không đơn thuần chỉ là về mặt kỹ thuật. Nó phải thể hiện được đặc điểm cụ thể của quốc gia trong quá trình xây dựng CPĐT, thể hiện những trọng tâm cần nhấn mạnh và những mục tiêu đầu bài đặt ra cho việc xây dựng khung CPĐT. Ví dụ: nếu coi trọng cải cách hành chính hướng CPĐT thì phần mô hình nghiệp vụ phải được cho điểm số cao, nếu hướng tới phân quyền mạnh thì tính tương hợp phải được ưu tiên hàng đầu, v.v….. Các công cụ nói trên (phương pháp, tiêu chí, thang điểm hay khung) không phải là cố định, có thể tùy biến, sửa đổi, kết hợp để tạo nên một công cụ phù hợp với nhu cầu riêng.

Sau bước đánh giá, lựa chọn một cách có phương pháp như trên phải chỉ ra được cái khung ta cần có hình hài như thế nào, có những nội dung gì, chi tiết đến đâu, các mẫu đã chọn là gì và quan trọng nhất là tại sao lại quy định, chọn như vậy.

Tóm lại, đây cũng là vấn đề cần quan tâm và giải quyết trước khi bắt tay vào xây dựng khung CPĐT và là cơ sở để nghiệm thu.

c) Tính tương hợp và kiến trúc CPĐT

Ngay cả khi chưa có kiến trúc, một yêu cầu sống còn là các hệ thống ICT phải có tính tương hợp (interoperability) về mặt kỹ thuật: trao đổi thông suốt được dữ liệu với nhau và sử dụng được dữ liệu đó. Để đảm bảo tính tương hợp ở cấp độ này, các chính phủ thường ban hành một bộ chuẩn kỹ thuật hoặc khung tương hợp (interoperability frameworks) mà các hệ thống ICT nên hoặc phải tuân thủ.

Tuy nhiên theo nghĩa rộng của tính tương hợp: các cơ quan chính phủ làm việc được với nhau qua CPĐT 19 thì tương hợp kỹ thuật như nói trên là không đủ, CPĐT phải được xây dựng trên một kiến trúc chung 20, 21. Vì vậy có 3 cách để đảm bảo tính tương hợp: a/ Xây dựng đồng thời bộ chuẩn tương hợp và kiến trúc CPĐT 22, b/Xây dựng khung và/hoặc kiến trúc CPĐT trong đó một trong những nguyên tắc là đảm bảo tính tương hợp 23, tức là lồng ghép khung tương hợp vào nội dung kiến trúc hoặc c/Chia làm 2 giai đoạn: đầu tiên ban hành khung tương hợp (hoặc bộ chuẩn kỹ thuật), sau đó mới ban hành kiến trúc CPĐT 24.

Với đặc điểm tình hình cụ thể của Việt nam, cách thứ ba có vẻ hợp lý, kịp thời và khả thi hơn. Trong khi chờ đợi xây dựng và áp dụng khung và/hoặc kiến trúc CPĐT, cần có ngay một bộ chuẩn kỹ thuật tương hợp để tránh những phức tạp, tốn kém sau này. Đó là điều mà các quyết định và thông tư số 20/2008/QĐ-BTTTT, 01/2011/TT-BTTTT đã làm và cần tiếp tục hoàn thiện.

Nay đến giai đoạn xây dựng khung CPĐT, cần chú ý đưa việc đảm bảo tính tương hợp theo cách a/ hoặc b/ ở trên.

d) Chọn công cụ kiến trúc

Vấn đề này tuy không vĩ mô như những cái đã bàn ở trên, nhưng lại rất quan trọng nếu muốn áp dụng kiến trúc thành công. Một kiến trúc cụ thể được xây dựng và áp dụng có liên quan đến các yếu tố: a/Kế thừa kiến trúc cấp trên, b/Sử dụng lại những phần có thể của các kiến trúc ngang cấp, c/Chia sẻ các phần có thể dùng chung cho các đơn vị khác, d/Sửa đổi, cập nhật liên tục theo quá trình phát triển, e/ Truyền đạt xuống các cấp dưới để triển khai tiếp, áp dụng vào các sản phẩm cụ thể, f/ Nhiều người, nhiều bộ phận tham gia xây dựng, xét duyệt, triển khai dưới nhiều góc nhìn khác nhau v.v…

Tất cả những điều đó không thể thực hiện được nếu không có một ngôn ngữ chung và các công cụ phù hợp được thống nhất trong toàn hệ thống. Tương tự như ngôn ngữ bản vẽ kỹ thuật và các phần mềm thiết kế trong kiến trúc xây dựng, có hai vấn đề dưới đây nên được chỉ rõ và thống nhất sử dụng:

1- Ngôn ngữ mô hình kiến trúc ( enterprise architecture modeling language )

Một kiến trúc có rất nhiều đối tượng quan tâm (stackeholders) dưới nhiều góc nhìn (viewpoint) khác nhau và gồm nhiều loại mô hình khác nhau. Để các đối tượng đó có thể hiểu, thông tin với nhau, cần có ngôn ngữ chung.

Hiện nay, chưa có một ngôn ngữ duy nhất cho kiến trúc tổng thể (enterprise architecture) nói chung và kiến trúc CPĐT nói riêng 25. Vì vậy một bộ các ngôn ngữ phù hợp với từng lĩnh vực kiến trúc CPĐT (ArchiMate, BPMN, UML,…) nên được chọn và quy định thống nhất trong toàn hệ thống.

Sau khi đã quy định, ví dụ mô tả các quy trình nghiệp vụ bằng BPMN, các đoạn văn mô tả dài lê thê, các sơ đồ vẽ tùy ý mỗi nơi một kiểu sẽ không được phép tồn tại nữa. Cũng giống như những người tham gia xây dựng một công trình có thể hiểu nhau, cùng làm dựa trên các bản vẽ xây dựng, những người tham gia xây dựng CPĐT sẽ dễ dàng hiểu nhau, cùng phối hợp trên nền một bộ ngôn ngữ mô hình kiến trúc CPĐT chung.

2- Phần mềm xây dựng kiến trúc (enterprise architecture tools)

Nói đến CPĐT tức là nói đến phần mềm là công cụ cơ bản của nó. Vì vậy, xây dựng, bảo trì một kiến trúc CPĐT cụ thể cũng không thể thiếu phần mềm công cụ. Lợi ích của việc dùng phần mềm công cụ có lẽ không cần phải bàn cãi.

Xây dựng CPĐT tức là áp dụng phần mềm, truyền thông vào các công việc, dịch vụ của chính phủ. Vậy thì khi xây dựng kiến trúc CPĐT chẳng có lý do gì không dùng các phần mềm xây dựng kiến trúc hệ thống có sẵn.

Nghiên cứu, lựa chọn một hoặc nhiều phần mềm xây dựng kiến trúc hệ thống là nhiệm vụ của một đề tài riêng, nên được thực hiện và quy định thống nhất trong toàn hệ thống. Một số gợi ý, danh mục có thể xem tại 26, 27

e) Mô hình phát triển

Xây dựng CPĐT, nhất là vào giai đoạn hiện nay bắt đầu dựa vào khung và kiến trúc, chúng ta giống như những người lần đầu tiên xây dựng một ngôi nhà riêng cho mình. Kiến thức, kinh nghiệm, đội ngũ chuyên gia đều rất thiếu. Vì vậy:

  • Việc sử dụng tư vấn kỹ thuật nước ngoài là cần thiết. Nhưng có lẽ tư vấn nước ngoài về quản lý quá trình triển khai (ví dụ: quản lý gói thầu xây dựng khung CPĐT nói trên) cũng nên có, nhất là với những dự án đầu tiên.

  • Trong mọi lúc, mọi nơi có thể, cần sử dụng các công cụ có sẵn. Như ví dụ đã nêu ở trên, để tìm hiểu so sánh kinh nghiệm xây dựng CPĐT các nước cũng cần có một khung đánh giá và các tiêu chí cụ thể. Thực tế một số công trình đã thực hiện chưa chú ý sử dụng công cụ, suy luận theo nhận thức chủ quan, thậm chí chọn công cụ rồi nhưng không theo đến cùng. Đó là một điều đáng tiếc.

  • Thách thức lớn nhất với chúng ta khi bước vào xây dựng, áp dụng kiến trúc CPĐT như đã nói ở trên là kiến thức, kinh nghiệm, đội ngũ chuyên gia đều rất thiếu. Vì vậy, mô hình phát triển kiến trúc CPĐT cho các địa phương, bộ, ngành nên theo hướng “phát huy trí tuệ tập thể”: a/ Công khai hóa quá trình triển khai và các kết quả từng bước trên Internet để mọi người có thể tham gia, b/Chia sẻ, cho phép sử dụng chung các kết quả đạt được và c/Tiến tới xây dựng được một cộng đồng CPĐT bao gồm người quản lý, người thiết kế, người sử dụng, người thử nghiệm, đánh giá, v.v…. ở trong và ngoài nước có thể trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và các kết quả kiến trúc công khai trên mạng (tất nhiên là trừ những phần “mật”).
    Tóm lại là theo mô hình phát triển “mở” tương tự như mô hình phát triển Phần mềm Tự do Nguồn mở. Với nguồn lực nhân sự còn thiếu và yếu, có lẽ đó là cách duy nhất đảm bảo thành công khi triển khai đại trà.

3- Lời kết:

Các ý kiến nêu trên đây chỉ có tính chất gợi mở, đặt vấn đề. Các tài liệu đã dẫn cũng chỉ để nêu vấn đề, tham khảo, không có nghĩa là tài liệu tốt nhất, còn rất nhiều tài liệu khác tương tự. Mỗi vấn đề đặt ra đều đòi hỏi được nghiên cứu đầy đủ, bài bản và sâu sắc hơn bởi một đội ngũ chuyên gia dù chỉ để ra đầu bài, hiểu, điều khiển và đánh giá, nghiệm thu được kết quả của tư vấn.

Trước đây, người viết bài này cũng mới tìm hiểu được một phần về chiến lược và kiến trúc doanh nghiệp điện tử với dự định áp dụng nhưng không có điều kiện thực hiện. Tuy vậy, cũng mạnh dạn đóng góp vì lợi ích chung. Xin cám ơn anh Lê Trung Nghĩa, bộ KHCN đã giúp nhiều tài liệu tham khảo.

Hy vọng là có ích. Mọi ý kiến xin gửi về địa chỉ phanvinhtri@gmail.com.

Tài liệu trích dẫn:

1‘About The Zachman Framework TM’ <http://www.zachman.com/about-the-zachman-framework&gt; [accessed 11 March 2012].

2‘TOGAF® 9.1’, p. 3 <http://pubs.opengroup.org/architecture/togaf9-doc/arch/index.html&gt; [accessed 19 March 2012].

3‘A Comparison of the Top Four Enterprise-Architecture Methodologies’ <http://msdn.microsoft.com/en-us/library/bb466232.aspx&gt; [accessed 18 March 2012].

4‘Uganda E-govt_framework_June 2010.pdf’ <http://www.nita.go.ug/uploads/Final%20Draft%20E-govt_framework_June%202010.pdf&gt; [accessed 28 March 2012].

5‘Federal Enterprise Architecture Framework’ <http://www.cio.gov/documents/fedarch1.pdf&gt; [accessed 7 April 2012].

6‘How to Survive in the Jungle of Enterprise Architecture Frameworks: Creating … – Jaap Schekkerman – Google Sách’ <http://books.google.com.vn/books/about/How_to_survive_in_the_jungle_of_enterpri.html?id=k_9cUrpT4lsC&redir_esc=y&gt; [accessed 12 March 2012].

7‘A Comparison of the Top Four Enterprise-Architecture Methodologies’.

8‘Zachman International® – The Official Home of The Zachman Framework TM’ <http://www.zachman.com/&gt; [accessed 19 March 2012].

9‘TOGAF® 9.1’.

10‘Federal Enterprise Architecture (FEA) | The White House’ <http://www.whitehouse.gov/omb/e-gov/fea&gt; [accessed 14 April 2012].

11‘Why Gartner Is Critical To Your Business’ <http://www.gartner.com/technology/why_gartner.jsp&gt; [accessed 12 April 2012].

12‘The New Enterprise Architecture (Gartner)’ <http://www.gartner.com/pages/story.php.id.2226.s.8.jsp&gt; [accessed 12 April 2012].

13‘Comparison of the Top Six Enterprise Architecture Frameworks’ <http://www.cioindex.com/enterprise_architecture.aspx&gt; [accessed 16 April 2012].

14‘Enterprise Architecture (EA) Frameworks List | DesktopAuditing’ <http://www.desktopauditing.com/enterprise-architecture-ea-frameworks-list&gt; [accessed 19 March 2012].

15‘Dok_eGov-Basic-Concepts.pdf’ <http://147.86.7.23/wikigov/images/b/b0/Dok_eGov-Basic-Concepts.pdf&gt; [accessed 14 April 2012].

16‘A Comparison of the Top Four Enterprise-Architecture Methodologies’.

17‘Evaluation Methodology for National Enterprise Architecture Frameworks.pdf’ <http://www.ictinnovations.org/htmls/papers/ictinnovations2010_submission_20.pdf&gt; [accessed 20 March 2012].

18‘Overview of Enterprose Architecture Work in 15 Countries’ <http://www.vm.fi/vm/en/04_publications_and_documents/01_publications/04_public_management/20071102Overvi/FEAR_ENGLANTI_kokonaan.pdf&gt; [accessed 16 April 2012].

19‘Undp-gif-overview.pdf’, p. 1 <http://www.ibm.com/ibm/governmentalprograms/undp-gif-overview.pdf&gt; [accessed 20 March 2012].

20‘Undp-gif-overview.pdf’, p. 2.

21‘Interoperability Frameworks and Enterprise Architectures in Egovernment Initiatives in Europe and the United States’, p. 13 <http://www.upv.es/~lguijar/nova/investigacio/pubs/Guijarro2007SelfArchive.pdf&gt; [accessed 29 March 2012].

23‘Danish White Paper on Enterprise Architecture’, p. 41 <http://en.itst.dk/it-architecture-standards/publications/whitepaper-on-it-architecture/whitepaper.pdf&gt; [accessed 13 April 2012].

24‘Interoperability Frameworks and Enterprise Architectures in Egovernment Initiatives in Europe and the United States’, p. 20.

25‘Enterprise Architecture Tool Selection Guide V6.3.pdf’ <http://www.enterprise-architecture.info/Images/EA%20Tools/Enterprise%20Architecture%20Tool%20Selection%20Guide%20v6.3.pdf&gt; [accessed 16 April 2012].

26‘Enterprise Architecture Tools, Institute For Enterprise Architecture Developments (IFEAD)’ <http://www.enterprise-architecture.info/EA_Tools.htm&gt; [accessed 16 April 2012].

27‘Enterprise Architecture Tool Selection Guide V6.3.pdf’.

Vài suy nghĩ về Chính phủ điện tử Việt nam (phần 1)

(Bài đã đăng trên tạp chí Tin học & Đời sống 4/2012)

Gần đây, theo thông tin báo chí, có một sự kiện đáng chú ý liên quan đến quá trình xây dựng Chính phủ điện tử (CPĐT): Viện CNTT Đài loan trúng thấu tư vấn xây dựng khung và các tiêu chuẩn ứng dụng CNTT Chính phủ điện tử cho Việt nami.

Đây là một thông tin đáng mừng vì nó chứng tỏ quá trình xây dựng CPĐT đã chuyển sang một giai đoạn mới về chất. Ở một cái mốc như thế, xin góp vài suy nghĩ.

1-Chúng ta đang ở đâu?

Theo báo cáo của Liên hợp quốc “Khảo sát về chính phủ điện tử” năm 2010ii và 2012iii, Việt nam có các chỉ số sau:

Năm

Chỉ số phát triển CPĐT

(E-government development index value )

Thứ hạng toàn cầu

(World e-gov.development ranking)

2008

0.4558

91

2010

0.4454

90

2012

0.5217

83

Xét riêng năm 2012, chúng ta xếp dưới Trung quốc (78), Peru (82), trên Seychelles (84), Philipine (88), Thái lan (92) và Indonesia (97); đứng thứ 4 trong 11 nước vùng Đông Nam Á; đứng thứ 83 trong 191 nước được xếp hạng.

Theo tổng kết tình hình trong nướcivđã có tới 94.000 dịch vụ công trực tuyến được cung cấp ở mức độ 1-2, 775 dịch vụ được cung cấp ở mức độ 3 và một số dịch vụ đã được cung cấp ở mức độ 4, quy trình thủ tục một cửa đạt tỷ lệ 87%

Tất cả những con số trên mới chỉ là thống kê hình thức. Nó chưa phản ánh chất lượng thực, mức độ sử dụng và sự hài lòng của người dân. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy một khối lượng công việc đáng kể đã được thực hiện.

Điều đáng lưu tâm là khối lượng công việc trên về mặt kỹ thuật được thực hiện theo kiểu “phân tán”, “tự phát”. Ngoài các chủ trương chung, chưa có một cơ chế chỉ đạo toàn quốc. Các tỉnh, bộ, ngành tự triển khai theo cách hiểu riêng của mình, phù hợp với môi trường riêng của mình. Đó là điều sẽ gây khó khăn rất lớn cho các giai đoạn sau.

Ngay trong báo cáo nói trên của LHQ năm 2012, trong một số chỉ tiêu khác thứ hạng của chúng ta cũng không phải là cao.

Mặt khác, CPĐT là một lĩnh vực chưa phải là lâu ngay cả với thế giới. Cuối những năm 90, trào lưu này mới bắt đầu và suốt từ đó cho đến nay vẫn trong quá trình vừa làm vừa rút kinh nghiệm, thích ứng với các công nghệ mới, xuất hiện các xu hướng mới, yêu cầu mới. Việc chúng ta cần liên tục cập nhật, cải tiến cũng là chuyện bình thường.

2-Cần làm gì?

Năm 2012 là một năm bản lề. Đất nước chúng ta lâm vào những khó khăn lớn, nhìn ra những điểm yếu và đang có những quyết tâm đổi mới quan trọng. Riêng về ICT có hai sự kiện:

  • Cuối năm 2011, Chính phủ ra nghị quyết 30c/NQ-CPv ban hành “Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”, trong đó nêu các nhiệm vụ rất cụ thể về ứng dụng công nghệ ICT vào hiện đại hóa quản lý nhà nước.
  • Đầu năm 2012, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bài viết quan trọng nêu quan điểm chỉ đạo tái cơ cấu nền kinh tếvi. Trong đó có nói rõ đặc điểm thứ ba của nền kinh tế thị trường: “thực hiện công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình về các chính sách quản lý, các đề án phát triển cũng như trong hoạt động của các chủ thể kinh doanh. Công khai minh bạch không những tạo cơ hội bình đẳng trong tiếp cận thông tin, mà quan trọng hơn, sẽ tạo điều kiện cho người dân giám sát các quyết định của các cơ quan quản lý, là biện pháp cơ bản để ngăn ngừa tham nhũng và sự tác động của các “nhóm lợi ích” vào quá trình ra quyết định.” Trong những đoạn nhấn mạnh trên, vai trò của CPĐT rất quan trọng. Quan điểm này rất giống với “Chính phủ minh bạch và mở” của Mỹvii cũng thực hiện bằng các công cụ ITC.

Trước những thay đổi quan trọng như vậy, CPĐT cũng cần có những bước ngoặt về chất phù hợp.

Từ trên xuống hay từ dưới lên?

Trong xây dựng CPĐT có hai cách làm: từ trên xuống (Singapor, Trung quốc,…) và từ dưới lên (Mỹ, Philipine,…). Mỗi cách có ưu nhược điểm riêng và được lựa chọn tùy thuộc vào đặc điểm từng nước, đặc biệt là vào hoạt động của hệ thống chính trị và năng lực công nghệ của các thành phần chính phủviii.

Những nước có chính quyền trung ương tập trung mạnh và/hoặc các cấp dưới (bộ, ngành, tỉnh, thành phố) yếu về công nghệ, cách triển khai chỉ huy thống nhất từ trên xuống là phù hợp.

Những nước có hệ thống phân quyền mạnh và/hoặc các cấp dưới mạnh về công nghệ, cách làm từ dưới lên hiệu quả hơn.

Nước ta cho đến thời điểm này CPĐT được triển khai theo cách từ dưới lên là chính. Nay đã đến lúc có những biện pháp theo hướng từ trên xuống một cách phù hợp.

Điều đó không có nghĩa là thay đổi 180 độ, chỉ huy tất cả, kiểm soát tất cả theo một cơ chế tập trung “cứng”. Nhưng cũng không có nghĩa là “khoán gọn” cho các nơi làm. Với đặc điểm nước ta, hài hòa được cả hai cách là hợp lý nhất.

Ngay cả Mỹ, làm theo cách từ dưới lên là chính cũng có Khung Kiến trúc Liên bang để chỉ đạo chung.

Có thể ví “thành phố CPĐT” hiện đã xuất hiện nhiều khu dân cư ít nhiều tự phát. Đã đến lúc cần có chiến lược phát triển và quy hoạch tổng thể để định hướng tương lai. Nếu không hậu quả sẽ như tình trạng đô thị hiện thời.

Vì tất cả những điều đã nói trên, những cái nên làm là:

  1. Một chiến lược quốc gia về CPĐT.
  2. Một khung kiến trúc và/hoặc kiến trúc quốc gia về CPĐT và các hướng dẫn xây dựng kiến trúc cho các cấp dưới.
  3. Một hệ thống tổ chức và cơ chế chỉ đạo, hỗ trợ triển khai hai thứ trên và kiểm soát tập trung những cái cần tập trung trong phạm vi cả nước.

3-Chiến lược quốc gia về CPĐT

Có lẽ không cần phải nói về tầm quan trọng và sự cần thiết phải có một chiến lược quốc gia về CPĐT. Khảo sát 20 nước tiêu biểu về CPĐT cho thấy hầu hết đều có chiến lược quốc giaix. Có thể tham khảo chiến lược một số nước tại đâyx

Có hai điểm cần lưu ý khi xây dựng chiến lược này.

a) Quan hệ hai chiều với cải cách hành chính

Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ICT) là một công cụ mạnh và không thể thiếu cho mọi chính phủ hiện đại.

Cho đến gần đây, các chính phủ đã đầu tư nhiều vào ICT để hoạt động hiệu quả hơn. Trong giai đoạn đó, ICT chủ yếu là thích ứng với mô hình chính phủ hiện có để hình thành nên CPĐT, tức là quan hệ một chiều, tin học hóa, web hóa những cái đang có.

Tuy nhiên, dần dần người ta nhận thấy rằng đầu tư nhiều vào ICT nhưng hiệu quả không được như mong đợi (đối với các nước tiên tiến), thậm chí là thất bại (đối với các nước đang phát triển).

Nguyên nhân chủ yếu là mô hình hoạt động của chính phủ hiện tại không cho phép tận dụng hết khả năng của ICT. Vì vậy, từ những năm 2003-2005 một số nước đã đi tiên phong cải cách chính phủ sao cho có thể ứng dụng được công nghệ (transformational government enabled by technology)

Các chính phủ hiện đại có ý định cải cách nghiêm chỉnh sẽ xem công nghệ không chỉ như một công cụ chiến thuật mà là một tài sản chiến lược. Một mình công nghệ không thể cải cách được chính phủ nhưng chính phủ cũng không thể cải cách đáp ứng sự mong đợi của công dân hiện đại mà không có công nghệxi

Đó là quan hệ hai chiều: chính phủ dùng công nghệ để hoạt động hiệu quả hơn, phục vụ dân tốt hơn và ngược lại, công nghệ cũng đòi hỏi chính phủ hoàn thiện hơn để tận dụng được năng lực của nó.

Xu hướng mới này được xem như sự phát triển tiếp theo của e-government, gọi là transformational governmentxii,xiii.

Với nước ta, điều đó có phải quá xa vời, không thực tế không?

Với những nhiệm vụ Hiện đại hóa hành chính mà Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã đặt ra:

“ ….bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan; hầu hết các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau;

b) Ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công;

Không thể hoàn thành những nhiệm vụ này mà không cải cách hành chính theo hướng ứng dụng được công nghệ, tức là làm cái transformational government nói trên.

Vì vậy chiến lược (và cả kiến trúc sẽ nói ở phần dưới) cho tầm nhìn đến 2020 phải thể hiện được quan hệ hai chiều nói trên: công nghệ không chỉ uốn mình phục vụ hành chính mà hành chính cũng phải được cải cách sao cho tận dụng được tối đa công nghệ, xem việc ứng dụng được công nghệ là một tiêu chuẩn đánh giá kết quả của cải cách hành chính.

Điều này thực ra không có gì mới. Những ai đã từng làm tin học hóa trước đây đều biết rằng nếu cải cách hành chính không thành công thì tin học hóa thất bại là chắc chắn.

b) Các công cụ hỗ trợ soạn thảo chiến lược.

Soạn thảo chiến lược CPĐT được đánh giá là một công việc “các chính phủ phải mất nhiều năm và dùng nhiều nguồn lực giá trị”xiv để thực hiện.

Nếu như các nước đi đầu về CPĐT có lẽ phải tự mày mò nghiên cứu soạn ra chiến lược thì nay đã đủ dữ liệu để có các công cụ hỗ trợ sau:

  • Kinh nghiệm của các nước (best-practice)
  • Các hướng dẫn (Guidelinesxv,xvi,xvii)
  • Các Khung chiến lược (The strategic framework of e-government ). Ví dụ mô tả tổng quan một khungxviii:

Mô hình khung nêu trên cho thấy nội dung chiến lược CPĐT không hề đơn giản.

Việc chọn lựa, tham khảo các hướng dẫn (guidelines), khung (framework) và kinh nghiệm các nước (best-practice) rồi tùy biến chúng cho phù hợp với điều kiện nước ta là nội dung của những nghiên cứu nghiêm chỉnh ra ngoài phạm vi bài báo này.

(còn tiếp)

Tài liệu trích dẫn:

i‘Chuyên Gia Đài Loan Tư Vấn Khung Chính Phủ Điện Tử Cho Việt Nam’, Baomoi.com <http://www.baomoi.com/Home/CNTT/ictnews.vn/Chuyen-gia-Dai-Loan-tu-van-khung-Chinh-phu-dien-tu-cho-Viet-Nam/8039174.epi&gt; [accessed 17 March 2012].

ii‘United Nations E-Government Survey 2010’ <http://unpan1.un.org/intradoc/groups/public/documents/un/unpan038851.pdf&gt; [accessed 23 March 2012].

iii‘United Nations E-Government Survey 2012’ <http://unpan1.un.org/intradoc/groups/public/documents/un/unpan048065.pdf&gt; [accessed 23 March 2012].

iv‘Sẽ “mổ Xẻ” Những Vấn Đề Nóng Để Xây Dựng Chính Phủ Điện Tử’, Baomoi.com <http://www.baomoi.com/Home/CNTT/ictnews.vn/Se-mo-xe-nhung-van-de-nong-de-xay-dung-Chinh-phu-dien-tu/7981685.epi > [accessed 26 March 2012].

v‘Nghị Quyết 30c/NQ-CP Chương Trình Tổng Thể Cải Cách Hành Chính Nhà Nước’ <http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-30c-NQ-CP-Chuong-trinh-tong-the-cai-cach-hanh-chinh-nha-nuoc-vb131576t13.aspx&gt; [accessed 28 March 2012].

vi‘VTV – Bài Viết Của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng Nhân Dịp Năm Mới 2012’ <http://vtv.vn/Article/Get/Bai-viet-cua-Thu-tuong-Nguyen-Tan-Dung-nhan-dip-nam-moi-2012–26c921dfda.html&gt; [accessed 28 March 2012].

vii‘Đánh Giá Mức Độ Minh Bạch Và Mở Của Chính Phủ Mỹ | ZXC232-Phần Mềm Tự Do Nguồn Mở – Free and Open Source Software’ <http://wp.me/p2VXH-Qw&gt; [accessed 29 March 2012].

viii‘E-government – Wikibooks, Open Books for an Open World’ <https://en.wikibooks.org/wiki/E-government&gt; [accessed 27 March 2012].

ix‘A Strategic Framework of e-Government: Generic and Best Practice’ <http://www.ejeg.com/issue/download.html?idArticle=196&gt; [accessed 19 March 2012].

x‘Factsheets | ePractice’ <http://epractice.eu/en/factsheets/&gt; [accessed 24 March 2012].

xi‘Transformational Government Enabled by Technology’, p. 3 <http://www.cabinetoffice.gov.uk/media/141734/transgov-strategy.pdf&gt; [accessed 28 March 2012].

xii‘Transformational Government Enabled by Technology’.

xiii‘Transformational Government – Wikipedia, the Free Encyclopedia’ <http://en.wikipedia.org/wiki/Transformational_Government&gt; [accessed 27 March 2012].

xiv‘E-government/The Importance of a National Strategic Framework for E-Government – Wikibooks, Open Books for an Open World’ <https://en.wikibooks.org/wiki/E-government/The_Importance_of_a_National_Strategic_Framework_for_E-Government > [accessed 28 March 2012].

xv‘Guidelines for the Formulation of e-Government Strategies’ <http://egov.comesa.int/index.php/fr/e-government-toolkit/30-guidelines-for-the-formulation-of-e-government-strategies&gt; [accessed 27 March 2012].

xvi‘Guidelines for the Formulation of e-Government Strategies’ <http://unpan1.un.org/intradoc/groups/public/documents/unpan/unpan032960.pdf&gt; [accessed 27 March 2012].

xvii‘Guidelines_for_Country_Participants.pdf’ <http://www.caricad.net/UserFiles/File/Guidelines_for_Country_Participants.pdf&gt; [accessed 27 March 2012].

xviii‘A Strategic Framework of e-Government: Generic and Best Practice’, p. 253.

Thông báo

“Môi trường” nơi tôi đang làm việc “ô nhiễm” nặng nề. Tôi đang phải tìm chỗ khác để di chuyển. Những việc đang và định làm tạm thời không thực hiện được. Vì vậy bài viết trên blog này sẽ thưa thớt hơn. Mong các bạn thông cảm!

Trò chuyện với muôn đời con cháu

Bạn có muốn trò chuyện với muôn đời con cháu mai sau không? Ngay cả khi bạn đã đi vào cõi vĩnh hằng, thân thể đã tan thành cát bụi.

Đây không phải là chuyện viễn tưởng. Hãng Intellitar vừa cho ra đời dịch vụ Virtual Eternity (tạm dịch là Vĩnh hằng ảo) để bạn có thể trở thành bất tử về phương diện tinh thần mà không cần phải là người nổi tiếng.

Đại thể thì hãng sẽ dùng các công nghệ mô phỏng, trò chơi số, trí thông minh nhân tạo, nhận dạng/tổng hợp tiếng nói và cơ sở dữ liệu để tạo cho bạn một bức chân dung số  hóa có trí thông minh nhân tạo. Sau đó bạn sẽ huấn luyện bức chân dung đó, truyền cho nó tư duy, kiến thức, cách suy nghĩ, kinh nghiệm sống, cá tính và cả mọi cung bậc giọng nói của bạn lưu vào cơ sở dữ liệu. Tất nhiên là thời gian huấn luyện càng lâu, cường độ huấn luyện càng mạnh thì bức chân dung số đó càng giống bạn nhiều hơn.

Theo ảnh quảng cáo thì nó như thế này (trong ảnh là hai người đồng sáng lập ra công ty: Mike Remus, bên trái và Don Davidson):

Sau đó, người khác có thể trò chuyện với bức chân dung số đó như với chính bạn. Giọng nói, sắc thái tình cảm, cách suy nghĩ, trình độ hiểu biết, mức độ thông minh v.v… sẽ gần giống như nói chuyện với chính bạn. Do có bộ óc nhân tạo nên các câu nói của bức ảnh số đó là do bộ óc tự nghĩ ra trên cơ sở những hiểu biết về bạn nó đã được huấn luyện và tích lũy, không phải là cái máy ghi âm những câu đã có sẵn.

Tên công ty Intellitar là viết tắt của Intelligent Avatar.

Ứng dụng đầu tiên của chân dung số là bạn có thể đưa nó vào các site gia phả như ancetry.com. Con cháu muôn đời sau của bạn có thể trò chuyện với cụ tổ như bạn còn đang sống, hiểu sâu về bạn hơn là vài giòng tiểu sử vắn tắt trên gia phả thông thường.

Ngoài ra nó còn có các ứng dụng thiết thực hơn. Nếu bạn là người mê toán, bạn có thể có những buổi học trực tuyến tay đôi với ông giáo sư Ngô Bảo Châu ảo. Và Ngô Bảo Châu có thể đồng thời phân thân ra giảng dạy tay đôi cho hàng nghìn học sinh tại khắp nơi trên thế giới.

Nếu có câu hỏi nào mà Ngô Bảo Châu ảo không thể trả lời được, nó sẽ bảo bạn: “Tôi không biết”, nhưng câu hỏi đó được ghi lại gửi về cho Ngô Bảo Châu thật và lần sau bạn sẽ có câu trả lời.

Hiện tại công ty cung cấp ba mức dịch vụ: Free, Personal (5,95USD/tháng) và Family (24,95USD/tháng). Nghe rất hấp dẫn, để khi nào rỗi tôi thử rồi chia sẻ với các bạn.

Thực ra đây là một dạng nhân bản tư duy bằng công nghệ thông tin. Còn một dạng nhân bản cử chỉ hành động. Giả sử diện mạo của bạn phù hợp với một vai nào đó trong một bộ phim, nhưng bạn lại không có năng khiếu đóng phim. Người ta sẽ gắn lên khắp người bạn một mớ thiết bị cảm ứng điện tử kết hợp với máy quay video ghi lại mọi cử chỉ hành động cho đến nụ cười của bạn. Các dữ liệu đó dùng tổng hợp nên một diễn viên ảo giống hệt bạn. Và đạo diễn phim có thể điều khiển diễn viên ảo hành động sao cho hợp với nội dung phim.

Còn một dạng nhân bản sinh học vô tính nữa đã thành công năm 1996 với sự ra đời của con cừu Dolly. Từ một tế bào của bạn, người ta có thể tạo ra một thằng bé giống hệt bạn về bộ gien, không lẫn các gien của vợ và do đó giống hệt bạn về hình thức, cử chỉ, tính cách. Tuy nhiên, quá trình thằng bé lớn lên trong một môi trường khác với môi trường của bạn, nó vẫn là một con người khác. Hình như cái việc nhân bản người này hiện nay bị cấm đoán gắt gao vì nhiều lý do.

Kải tiến kách fiên âm tiếng Việt, tại sao không?

(Post này thử ngiệm thay PH bằng F, Đ bằng D, C ở đầu từ bằng K, D bằng Z, GI bằng J, QU bằng KO, NGH bằng NG)

Mới dây tôi kó dọc dược hai bài viết liên tiếp trên báo Người Lao độngVietnamNet dề xuất việc kải tổ bảng chữ kái tiếng Việt. Bài viết dó gợi lại dúng diều mà tôi dã thử ngịch cách dây nhiều năm: kải tiến kách fiên âm tiếng Việt.

Zùng kác chữ kái latinh dể fiên âm tiếng Việt là kông trình kủa kác jáo sỹ châu Âu kách dây gần 300 năm nhằm mục dích truyền dạo zễ zàng. Và nó không fải là chân lý tuyệt dối, tối ưu dến mức không thể thay dổi, kải tiến dược.

Trước dây, tổ tiên ta dã từng zùng chữ Hán dể fiên âm tiếng Việt và tạo ra chữ Nôm. Một thời jan zài, chữ Nôm bị khinh miệt “Nôm na là cha mách koé” cho dến khi ý thức tự kường zân tộc zùng nó dể tạo ra những tác fẩm bất hủ “Sự sáng tạo đó đã để lại cho đời sau những di sản thơ Nôm vô giá từ những bài thơ của Nguyễn Thuyên đến Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, từ Hồng Đức quốc âm thi tập của Lê Thánh Tông đến Bạch Vân am thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, từ Đại Nam quốc sử diễn ca đến Đoạn trường tân thanh; từ những bài thất ngôn bát cú thơ Nôm của Hồ Xuân Hương đến dạng song thất lục bát trong Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, truyện thơ lục bát với Truyện Kiều của Nguyễn Du hay Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu. Ngoài ra thi ca hát nói của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, và không ít những tác phẩm truyện Nôm khuyết danh khác như Thạch Sanh, Trê Cóc, Nhị độ mai, Phan Trần, Tấm Cám, Lưu Bình Dương Lễ, Ngư tiều vấn đáp y thuật, Kim thạch kỳ duyên, Nữ tú tài, v.v. Đó là chưa kể những vở tuồng hoặc chèo cũng được soạn bằng chữ Nôm.” (Theo Wikipedia)

Ngay chữ Hán fồn thể tồn tại ổn dịnh suốt từ thế kỷ 5 dến nay kũng dã dược chính kuyền mới kải tiến thành chữ Hán jản thể hiện dược zùng chính thức tại Trung kuốc.

Nếu dể ý thì trong kác bài viết kủa mình, chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên “viết sai chính tả” như ví zụ zưới dây:

Và kả kuốn “Dường Kách mệnh” nữa. Tiếc là không search dược nguyên bản dể xem bên trong.

Nhưng một cái blog chuyên về Fần mềm tự do nguồn mở thì nêu việc này lên làm zì?

Tinh thần chủ dạo kủa fong trào là “Tự do – Free”, open-minded: tự zo, fóng khoáng, tìm tòi, khám phá, ủng hộ kái mới, không muốn bị trói buộc, gò bó vào những kái zì bất biến. Kũng chính tư tưởng này trước dây dã làm nảy sinh ra fong trào “Thơ mới” ở Việt nam, kác trường fái ngệ thuật hiện dại ở châu Âu và kả kuộc “Kách mạng tình zục” hiện dang ziển ra ở Việt nam nữa.

Bạn dọc post này nhức mắt lắm fải không? Bạn hãy nhớ lại những bước dầu tiên khi mới chuyển sang zùng Linux. Chỉ mới vài năm trước, fần mềm nguồn mở còn bị koi là “kăn bệnh ung thư” kia mà! Bản thân chữ “Kuốc ngữ” ta zùng hiện nay xuất hiện từ thế kỷ 16 mà dến tận dầu thế kỷ 20 mới trở thành chính thức. Fong trào Fần mềm tự do xuất hiện từ năm 1983, gần 30 năm sau mới có vị thế như bây jờ. Thói koen là môt kái khó bỏ, không riêng jì việc chuyển từ Windows sang Linux.

Ở dây tôi chưa muốn bàn dến chuyện kải kách thế nào cho hợp lý, kó nên triệt dể như kái post này không hay chỉ thay vài chữ thôi?. Tôi chỉ muốn ủng hộ một ý tưởng mới và không muốn koi Bill Gate kũng như kác jáo sỹ châu Âu ngày xưa là những ông thánh zuy nhất trong thế jới này.

(Tôi chỉ thử một post này thôi. Bắt những bạn dang dánh vật với Linux lại fải dánh vật với chữ ngĩa nữa thì gây khó khăn không kần thiết. Mà dể gõ dược nó không fải zễ. Các bộ gõ hiện nay có kiểm tra ngữ fáp dều không gõ dược kiểu này. Tôi zùng ibus kết hợp với kiểu gõ vi-telex-locdt dã nói vài lần trong blog này mới gõ dược)

Đám mây đen trên đầu dân IT

Trong một post trước về Điện toán đám mây tôi có dự báo:

“Nhưng lúc đó, dân tin học làm gì? Máy tính chỉ còn như cái TV, ít hỏng và cũng chẳng cần cài đặt. Phần mềm “tây” đầy trên Internet, mua thẻ rồi dùng như học ngoại ngữ online bây giờ, học sử dụng cũng qua web. Cái thị trường rộng lớn mà vố số “kỹ sư tin học” với trình độ cao nhất là biết cài Windows, MS Office hiện đang lĩnh lương sống được sẽ không còn nữa.

Nhưng có nhanh chắc cũng phải 10-20 năm nữa. Khi nào thấy Internet wifi cao tốc miễn phí khắp hang cùng ngõ hẻm lo cũng vừa.”

Nhưng đám mây đen với dân tin học có vẻ đã bắt đầu xuất hiện sớm hơn dự kiến:

“20% các công ty sẽ đóng cửa bộ phận IT

Trung bình cứ 5 doanh nghiệp sẽ có một quyết định xóa bỏ bộ phận CNTT do sự phổ biến của điện toán đám mây vào năm 2012, theo dự đoán của hãng nghiên cứu Gartner.”

Nguồn: VnExpress.

Đó là thông tin ở Tây. Còn ở Việt nam thì sao? và bao giờ?

Mở rộng “kinh doanh” blog, khỏi lo mất blog! (cập nhật 23/9/09)

Tôi mở “cửa hàng” zxc232.wordpress.com với hai mục đích:

  1. Ghi lại những cảm nhận, thông tin có được trong những chuyến đi khám phá vào vùng đất mới “Phần mềm nguồn mở” mà “từ bé đến giờ” chưa hề biết khi vẫn còn quanh quẩn trong lũy tre làng Windows.
  2. Chia sẻ, rủ rê các bạn cùng làng mạnh dạn đến những chân trời mới.

Khi công cuộc “kinh doanh” trên đã ổn định và có hướng phát đạt, điều đương nhiên là nghĩ cách mở rộng (và khỏi lo mất blog khi một nhà cung cấp dở chứng như Yahoo). Tôi đã làm như sau:

  1. Dùng chức năng “Xuất ra – Export” trong bảng điều khiển của blog WordPress để xuất toàn bộ nội dung blog thành một file xml. Đây cũng là một bản sao lưu.
  2. Vào trang này để convert file xml nói trên thành một file tương thích với Blogger. Vào trang Blogger tạo một blog mới http://zxc232.blogspot.com. Nhấn vào Import Blog Tool để nhập file vừa convert. Khi nhập xong, toàn bộ các bài viết, bình luận, chuyên mục, … từ WordPress sẽ được chuyển sang Blogger. Ta có blog mới giống như blog cũ.
  3. Vào trang multiply.com tạo tiếp một blog mới nữa (). Nhấn vào Post – Blog, màn hình để viết post xuất hiện. Dưới đáy màn hình này, chọn Import Blogs – Blogger để nhập toàn bộ nội dung Blogger vừa lập sang Multiply.
  4. Sau ba bước trên ta được ba blog nội dung giống nhau về các post. Blogger nhập được các comment của WordPress, Multiply không nhập được comment của Blogger. Khi import xong cũng nên duyệt qua vì một số định dạng của post có thể bị sai lệch.

Một số dịch vụ blog nổi tiếng khác như Windows Live, Yahoo! 360plus, LiveJournal thì không có công cụ để chuyển blog. Tuy nhiên vẫn có thể dùng được bằng cách treo blast hay thông báo là các bài cũ xem ở WordPress, trên các blog đó chỉ post bài mới. Riêng trang profile của Windows Live, mục Web activities cho phép tự động cập nhật link các post của WordPress.

Để đăng một post mới, tất cả các blog trên đều có tính năng gửi post qua email. (trừ Yahoo). Mỗi blog trên cho phép tạo một địa chỉ email riêng để nhận post (và dĩ nhiên là phải giữ bí mật địa chỉ đó nếu bạn không muốn người khác post linh tinh lên blog của bạn). Trong chương trình soạn mail thường dùng (Gmail, Yahoo Mail, Outlook, Thunderbird, …) tạo một nhóm nhận thư với tất cả các địa chỉ trên. Soạn post mới như một email rồi gửi đăng cho cả nhóm.

Nhưng gửi post qua email có cái dở là không xếp chuyên mục (categories) và gán tag được. Phải vào từng blog sửa lại bằng tay.
Các blog đều có chức năng thông báo comment mới qua email. WordPress còn cho phép trả lời comment bằng email (các blog khác thì chưa kip xem có hay không). Khai một địa chỉ email chung là theo dõi được comment trên tất cả các blog.
Multiply có chức năng cross-posting với Blogger và copy post sang một số blog khác nhưng hoạt động có vẻ không tốt lắm.
Trong các blog nói trên, WordPress vẫn có vẻ nhiều tính năng nhất và lại là phần mềm nguồn mở. Bảng điều khiển của nó ban đầu hơi ngợp nhưng khi quen rồi thì rất tiện. Multiply tuy được nhiều blogger của Yahoo cũ dùng nhưng các tính năng quản lý không bằng WordPress.

Thực ra làm như trên cũng để nghịch nữa. Chẳng cần thiết phải quảng cáo blog cầu kỳ đến thế. Tuy nhiên cách làm trên (tối thiểu với hai blog) còn có hai điểm hay quan trọng là:

  1. Bạn luôn có mặt trên Internet, dịch vụ blog này trục trặc thì có dịch vụ khác.
  2. Các post của bạn có nhiều bản ở nhiều nơi (trong email và trên các blog). Khỏi sợ mất hay lo sao lưu như khi chỉ có một blog.

Mới thử sơ sơ thì ba blog WordPress, Blogger và Multiply có vẻ đáp ứng tốt nhất với cách làm trên. Những cái còn lại không trục trặc kiểu này thì kiểu khác.

Cập nhật 23/9/2009: qua một thời gian thử thì thấy:

  • Khi gửi post bằng Gmail tới WordPress, Windows Live, Blogger và Multiply, ba blog đầu nhận tốt, giữ nguyên định dạng đã format trên Gmail. Riêng Multiply rất dở: xuống dòng linh tinh, thêm nhiều dòng trắng phải sửa lại rất mệt.
  • Nếu trong post có ảnh đã chèn khi soạn trong Gmail, lúc gửi sang blog hơi chập chờn, có lúc nhận tốt có lúc không.
  • Trong các dịch vụ email, trình soạn thảo mail của Gmail và Zoho (zoho.com) cho phép chèn ảnh vào mail. Yahoo Mail, Hotmail, Mail.com không chèn được ảnh. Riêng Zoho còn cho phép chèn cả bảng.
  • Giữa Multiply và Blogger có chế độ liên thông với nhau (cross-posting). Nếu post lên Blogger thì sau vài tiếng, post cũng xuất hiện trên Multiply. Chiều ngược lại (Multiply -> Blogger) chưa thử. Như vậy nếu tối thiểu có hai blog Blogger và Multiply là ổn.
  • WordPress, Multiply và Blogger đều gửi được thông báo có comment về Gmail. Wordpres còn có thể trả lời comment bằng Gmail. Windows Live chỉ cho phép gửi về Hotmail.

Điện toán đám mây (cloud computing)

Định viết một bài về ổ cứng ảo, nghĩ lan man sang cái này.

Có một quy luật triết học nói rằng mọi sự trên đời phát triển theo vòng xoáy trôn ốc. Sự việc phát triển đến một mức nào đó thì lặp lại những cái trước đó nhưng ở một trình độ cao hơn. Điều đó cũng đúng với máy tính.
Thời kỳ bình minh của điện toán, mọi thứ xoay quanh vài cái mainframe (bây giờ dịch là siêu máy tính). Tất cả mọi thứ: bộ xử lý, bộ nhớ, ổ cứng, phần mềm đều nằm trên đó. Xung quanh mỗi mainframe có hàng chục cái gọi là terminal chỉ gồm màn hình, bàn phím (chưa có cả chuột). Mỗi user dùng bàn phím màn hình đó truy cập vào mainframe, chạy các phần mềm trên đó cho công việc của mình, dùng chung bộ xử lý, bộ nhớ, phần mềm, … và mọi thứ khác từ một nơi cấp phát tập trung.
Bây giờ mọi thứ có vẻ sắp quay về thời kỳ đó. Internet đã tạo nên một cái mainframe khổng lồ gồm hàng ngàn máy chủ kết nối với nhau chứa đựng sức mạnh xử lý, bộ nhớ, ổ cứng và phần mềm. Các máy tính cá nhân rồi ra sẽ chỉ còn dùng để chạy trình duyệt, cài phần mềm tối thiểu và ổ cứng cũng tối thiểu. Nối máy vào Internet, mở trình duyệt ra là có thể soạn văn bản, bảng tính (bằng Google Docs và Zoho Writer chẳng hạn), soạn xong lưu ngay vào ổ cứng máy chủ, yên tâm rằng mọi việc quét virus, sao lưu, bảo trì cho phần mềm luôn luôn sẵn sàng có người khác lo. Mua bán cũng qua trình duyệt, thậm chí ngồi nhà làm việc qua trình duyệt luôn. Còn mỗi một cái phải quan tâm là Bookmarks (hoặc Favorites).
Hiện tại thì tốc độ Internet còn chập chờn và chưa đủ nhanh, điểm kết nối còn chưa đủ rộng, phần mềm trên Internet cũng chưa có tính năng bằng phần mềm cài trên máy để bàn. Nhưng cứ theo đà này, máy tính cá nhân rồi sẽ teo lại chỉ còn là bàn phím, màn hình, chuột với một cái case bé xíu lắp ngay sau lưng màn hình là đủ để chạy trình duyệt web. Giống cái terminal ngày xưa nhưng hiện đại hơn. Các nhà sản xuất phần mềm sẽ không còn bán các bộ phần mềm đóng gói cho từng cá nhân mà cài lên máy chủ Internet rồi bán dịch vụ sử dụng cho người dùng. Game online là một dạng dịch vụ như thế.

Một xu hướng rõ ràng là không cưỡng lại được, chỉ có điều nó đến nhanh hay chậm mà thôi.

Nhưng lúc đó, dân tin học làm gì? Máy tính chỉ còn như cái TV, ít hỏng và cũng chẳng cần cài đặt. Phần mềm “tây” đầy trên Internet, mua thẻ rồi dùng như học ngoại ngữ online bây giờ, học sử dụng cũng qua web. Cái thị trường rộng lớn mà vố số “kỹ sư tin học” với trình độ cao nhất là biết cài Windows, MS Office hiện đang lĩnh lương sống được sẽ không còn nữa.

Nghĩ cho cùng nó cũng giống như chuyện sát nhập tỉnh, thừa ra khối thứ từ lãnh đạo đến ôtô. Đáng lo không?

Nhưng có nhanh chắc cũng phải 10-20 năm nữa. Khi nào thấy Internet wifi cao tốc miễn phí khắp hang cùng ngõ hẻm lo cũng vừa.

Kế thừa Opera blog

Để tránh lỗi hiển thị font tiếng Việt của blog Opera khi duyệt bằng Internet Explorer và sử dụng được một số tính năng mà Opera không có, tôi quyết định chuyển blog http://my.opera.com/zxc232 sang WordPress kể từ hôm nay.

Địa chỉ của blog này là https://zxc232.wordpress.com

Các comment cũ vẫn để lại trên site Opea.

Tên của blog mới là “Phần mềm nguồn mở” vì nó sẽ đề cập đến những vấn đề rộng hơn là chỉ có KUBUNTU trong blog cũ.

Blog này dành cho ai?

Blog dành cho những người sử dụng máy tính muốn có một phần mềm miễn phí thay thế Windows+MS Office. Đó là bộ Linux Kubuntu.
Mục đích của blog là giúp những người biết sử dụng máy tính bình thường có thể tự cài đặt và sử dụng Kubuntu cho những công việc văn phòng.
Một cách vắn tắt, Kubuntu hoàn toàn có thể đáp ứng các nhu cầu máy tính văn phòng hiện nay, dễ sử dụng, không phải thay đổi thói quen, không phải học mới nhiều, giao diện có phần đẹp hơn cả WindowsXP (nhất là trên màn hình LCD). Bạn có thể cài Kubuntu trong vòng 1 giờ và 1 giờ tìm hiểu nữa là sử dụng được ngay. Các dữ liệu cũ vẫn sử dụng lại được.
Dùng Kubuntu hầu như không phải lo lắng về virus, về các phần mềm gián điệp.
Ðiểm quan trọng hơn: Kubuntu là hệ điều hành mã nguồn mở, miễn phí hoàn toàn. Bạn không phải mang mặc cảm trộm cắp gì của Bill Gate, có thể đàng hoàng xách laptop đi khắp thế giới mà không sợ bị kiểm tra.
Lý do chi tiết để chọn Kubuntu sẽ được nói kỹ trong tài liệu nêu đưới đây.
Vì vậy tôi cố gắng soạn tài liệu “Cài đặt và sử dụng Kubuntu 6.10” ở dạng chi tiết và dễ hiểu nhất. Bạn cứ tuần tự làm theo đúng từng bước trong hướng dẫn đó. Ngoài ra, để giảm nhẹ công việc lúc đầu bỡ ngỡ, tôi thu thập sẵn một số file bổ xung cần thiết (LinuxB.zip 31MB).
Xin chú ý: các tài liệu và phần mềm đã đưa lên sẽ được liên tục bổ xung, sửa lỗi. Vì vậy con số trong tên các file là số phiên bản của file, không phải của Kubuntu. Bản Kubuntu nói đến ở đây là Kubuntu Edgy 6.10.
Hiện nay file “Su dung Kubuntu” đã có bản mới là 1.01.
Theo tinh thần mã nguồn mở, bạn có thể tùy ý sao chép, sửa đổi và công bố lại các file nói trên nhưng phải ghi chú rõ các phần bạn đã sửa đổi, bổ xung.
Xin cám ơn các lời nhận xét, động viên mà tôi đã nhận được trên các diễn đàn.

UPDATE: từ 1/2008, các vấn đề được đề cập ở đây sẽ mở rộng ra ngoài Kubuntu. Các nội dung chính gồm:

1- Vấn đề phần mềm nguồn mở: ứng dụng phần mềm nguồn mở ở khắp nơi, nhằm có được cái nhìn tổng quan hơn về khả năng của phần mềm nguồn mở và xu hướng phát triển hiện nay.

2- Các loại phần mềm Linux chạy trên máy chủ và khả năng ứng dụng.

3- Các hệ Linux khác ngoài Kubuntu và phần mềm ứng dụng trên máy để bàn

Tất cả vẫn theo một quan điểm nhất quán là chia sẻ với những người hầu như chưa có kinh nghiệm gì về Linux và phần mềm nguồn mở như bản thân tác giả, khuyến khích mọi người cùng khám phá một chân trời mới.

ZXC