Về phần mềm nguồn mở trong chương trình Máy tính kết nối mạng tri thức

Bộ Thông tin và Truyền thông đang lấy ý kiến về “ Dự thảo Quyết định Phê duyệt Chương trình Máy tính nối mạng tri thức ” (dưới đây gọi tắt là chương trình). Với chút ít kinh nghiệm về quản lý công nghệ thông tin và triển khai phần mềm nguồn mở, xin có vài ý kiến đóng góp.

1- Về trang bị máy tính cho các phòng máy

Theo kế hoạch, đến năm 2016 sẽ trang bị 100.000 máy tính cho 2.500 phòng máy tại các trường phổ thông và đến năm 2020, trang bị 200.000 máy tính cho 5.000 phòng máy.

Chi phí cho số lượng máy tính trên có thể giảm đi 80% (hoặc tăng số máy lên nhiều lần với cùng tổng chi phí) nếu áp dụng công nghệ ảo hóa theo kinh nghiệm của Brazin cũng trong lĩnh vực trang bị máy tính cho phòng máy các trường học năm 2009: chạy phần mềm ảo hóa (Useful Multiseat Linux 2011) trên một máy tính Linux và dùng thiết bị đấu nối USB hub nối ra 20 bộ máy trạm chỉ gồm màn hình, chuột, bàn phím (terminal, zero client). Tức là 20 người dùng chung 1 máy tính. Máy tính dùng trong giáo dục yêu cầu công suất không cao nên máy tính dùng chung cũng không cần quá mạnh. Dạng kết nối này có thể xem như bước phát triển xoáy trôn ốc lên một mức cao hơn của mô hình mainframe + terminal trước đây hoặc một dạng điện toán đám mây cục bộ.

Theo thông tin từ năm 2009, pha đầu của dự án bao gồm 18.750 máy cho các trường nông thôn đã hoàn thành và đang hoạt động tốt . Pha tiếp theo sẽ triển khai trên tất cả các trường của 5.560 thị trấn, thành phố của Brazin.

Theo thông tin mới nhất trên website của công ty Userful, công nghệ này hiện nay có thể hỗ trợ 20 máy tính kết nối qua mạng LAN hoặc thiết bị đấu nối USB. Hiện đã triển khai thành công 523.400 máy trạm trên 50.000 trường, phục vụ cho 23 triệu học sinh ( xem ).

Hệ điều hành dùng trên các máy này là bản Linux Educacional do bộ Giáo dục Brazil xây dựng hoặc Edubuntu hoặc bất kỳ bản Linux nào khác.


Mô hình kết nối như hình 1.

Không chỉ tiết kiệm chi phí đầu tư ban đầu, phương án này còn:

  • Giảm 80% lượng điện tiêu thụ hàng năm. Thay cho phải cấp điện cho 20 máy, nay chỉ cần cấp cho 1 máy. Tiết kiệm được 147,000,000 Kwh điện/năm. Với lượng điện tiết kiệm được sẽ giảm 250.000 tấn khí CO2 thải ra khí quyển của các nhà máy nhiệt điện hoặc tương đương với bớt được 41.000 ôtô khỏi lưu thông (tính theo số máy đã trang bị).

  • Giảm đáng kể chi phí quản lý, hỗ trợ, nâng cấp. Điều này là đương nhiên vì thay cho phải quản lý, bảo trì 20 máy, nay chỉ còn 1 máy.

Trên đây chỉ là những thông tin của hãng cung cấp. Cần có khảo sát, nghiên cứu cụ thể tại chỗ và tính toán chi tiết trước khi quyết định.

Giả sử đáng lẽ trang bị một phòng máy 40 chiếc cho các lớp lần lượt sử dụng thì với phương án này, 20 lớp đều có máy tính (mỗi lớp 2 cái và 40 zero client).

Điều có thể thấy trước là phương án này sẽ vấp phải sự lobby phản đối của các công ty chế tạo máy tính là đối tượng thụ hưởng sự hỗ trợ của chương trình Máy tính Nối mạng Tri thức.

Kinh nghiệm của Brazil cũng cho thấy:

  • Phần mềm nguồn mở hoàn toàn có thể dùng cho giáo dục được. Số học sinh, số máy tính và số trường của Brazil hiện đang dùng Linux lớn hơn các số tương ứng của chương trình Nối mạng Tri thức nhiều.

  • Cần phải xây dựng một hệ điều hành nguồn mở dành riêng cho giáo dục như Brazil đã làm.

( Năm 2009 tôi có bài giới thiệu sáng kiến này và cũng đã đưa link lên diễn đàn của bộ Giáo dục nhưng không thấy có động tĩnh gì )

2- Về xây dựng phần mềm nguồn mở và hỗ trợ.

Trong các nội dung của chương trình có hai nội dung: xây dựng phần mềm nguồn mở và trung tâm hỗ trợ người dùng.

A/ Về chủ trương dùng phần mềm nguồn mở.

Chủ trương dùng phần mềm nguồn mở trong chương trình này là rất đúng. Tiết kiệm lớn về tiền bản quyền chỉ là một khía cạnh. Điều quan trọng hơn là về lâu dài nó góp phầnbảo đảm an ninh và chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực phần mềm, tránh bị trói buộc vào một số nhà cung cấp bằng cách đào tạo ra đông đảo người biết sử dụng phần mềm nguồn mở và tạo thế đứng cho những trường hợp đàm phán mua bản quyền phần mềm nguồn đóng.

Điều này nên được coi là một mục tiêu của chương trình, cách phát biểu cụ thể có thể cân nhắc thêm. Cao hơn nữa, nó phải được coi là một mục tiêu trong chiến lược phát triển ICT quốc gia.

Chuyến đi vừa rồi của Tổng giám đốc Microsoft sang Việt nam chắc chắn là nhằm mục đích lobby chống lại việc sử dụng phần mềm nguồn mở trong chương trình này.

Tuy nhiên:

  • Có những trường hợp, tính năng của phần mềm nguồn mở chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng.

  • Một số dữ liệu cũ soạn bằng phần mềm nguồn đóng, phần mềm nguồn mở tuy đọc được nhưng không tương thích hoàn toàn. Ví dụ: các file doc, xls, ppt phức tạp.

  • Phần mềm nói chung đều là sản phẩm kết tinh trí tuệ, có một quá trình phát triển lâu dài, có hiệu quả nếu dùng đúng chỗ. Không nên cực đoan bài xích hoàn toàn một loại nào.

Vì vậy chủ trương chung nên là “ Dùng phối hợp phần mềm nguồn mở và nguồn đóng một cách hợp lý”. Cụ thể với trường hợp các phòng máy, nên có một tỷ lệ nhỏ máy sử dụng phần mềm nguồn đóng.

B/ Xây dựng bộ phần mềm nguồn mở dành cho giáo dục.

Kinh nghiệm của Nga ( xem ), Brazil và một số nước khác khi dùng phần mềm nguồn mở cho giáo dục đều phải xây dựng một bộ phần mềm riêng. Do đó chủ trương xây dựng bộ phần mềm nguồn mở của chương trình này là rất đúng đắn.

Một số điểm nên lưu ý khi xây dựng bộ phần mềm này:

  • Việt hóa là phần quan trọng nhưng không phải duy nhất. Chọn bản Linux gốc, giao diện đồ họa, các phần mềm ứng dụng, bổ xung các gói phần mềm hệ thống, bỏ đi những cái không cần, thậm chí sửa đổi, tùy biến cho phù hợp,… có rất nhiều việc phải làm.

  • Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, việc thực hiện nên do một vài công ty phần mềm đảm nhiệm. Có kinh phí riêng cho việc này do nhà nước và doanh nghiệp cùng đóng góp.

  • Hệ điều hành Linux dành cho giáo dục không khó. Nhưng phải đầy đủ, cài một lần là xong. Do đó sẽ phải có một số phần mềm, công nghệ có bản quyền (mp3, …). Cần lưu ý giải quyết các khía cạnh pháp lý của vấn đề này nhất là khi nhà nước đứng ra trang bị số lượng lớn.

  • Hệ điều hành gốc phải là bản chính của một công ty và có thời gian hỗ trợ dài hạn. Theo tiêu chuẩn này các bản Fedora, OpenSUSE không đạt vì đó là các bản cộng đồng, thử nghiệm các tính năng mới cho các bản chính Red Hat Enterprise Linux Desktop và SUSE Linux Enterprise Desktop.

  • Môi trường đồ họa của hệ điều hành (desktop environment) sẽ là vấn đề cần cân nhắc kỹ. Môi trường này phải đáp ứng được các tiêu chuẩn: thân thiện, ít phải học mới và đủ ổn định. Xét theo các tiêu chuẩn này thì Gnome3 hoặc Unity không đạt yêu cầu.

  • Vấn đề phức tạp nhất có lẽ là các phần mềm ứng dụng dành cho giáo dục. Đối tượng sử dụng là các giáo viên phổ thông, học sinh trình độ máy tính không cao, vì vậy phần mềm không chỉ cần đủ tính năng nhưng phải thân thiện, dễ dùng. Đánh giá tính dễ dùng phải là những người sử dụng nó, không phải các chuyên gia open source đang lơ lửng … trên các đám mây. Một ví dụ: tính năng viết công thức toán học của LibreOffice hiện tại khó dùng nếu phải soạn nhiều công thức, dàn trang cho một trang đề toán phổ thông. Có thể phải đặt hàng lập trình để cải tiến nó cho dễ dùng như Microsoft Office hoặc kết hợp với một giải pháp khác (KFormula, …). Chương trình nên có phần kinh phí dành riêng cho những loại công việc này.

  • Sinh quyển của bộ phần mềm mới nên được đặc biệt coi trọng. Nó gồm có: các tài liệu hướng dẫn sử dụng, thông tin đủ loại trên các phương tiện truyền thông, đội ngũ phát triển ăn lương, cộng đồng đóng góp tình nguyện, danh mục các loại phần cứng hỗ trợ và mức độ tương thích, kỹ năng và kinh nghiệm tích tụ từ nhiều nguồn khác nhau, … tóm lại là một kho thông tin và nhân lực các loại giúp cho phần mềm sống và phát triển được. Các phần mềm của Microsoft qua hàng chục năm đã có được một sinh quyển lớn tại Việt nam một cách tự phát (gặp khó khăn chỉ cần hỏi người bên cạnh một câu cũng có thể có lời giải đáp). Phần mềm mới muốn sống và phát triển nhanh, phải chủ động và mất tiền để xây dựng sinh quyền này. Dăm tài liệu hướng dẫn, vài ba lớp đào tạo là hoàn toàn không đủ.

  • Số người biết sử dụng phần mềm nguồn mở hiện còn rất ít, nhất là tại các vùng sâu vùng xa. Vì vậy, trung tâm hỗ trợ phải có trước khi phát hành phần mềm. Trung tâm này được tổ chức sao cho có thể nhanh chóng hỗ trợ, giải quyết mọi vấn đề phát sinh từ khắp nơi trên cả nước. Nó là một thành phần quan trọng trong cái sinh quyển chủ động tạo ra đã nói ở trên.

  • Nên và cần phải huy động được sự hỗ trợ của các cộng đồng Linux Việt (*lug). Tuy nhiên, các cộng đồng này cũng phải thể hiện được sức mạnh có tổ chức của mình thông qua cạnh tranh lành mạnh, đáp ứng nhanh và chính xác các yêu cầu đặt ra.

C/ Tuyên truyền, phổ biến về phần mềm nguồn mở.

Các bạn trẻ bây giờ chắc khó mà hình dung được mới cách đây không lâu, vào những năm 80, một trong những việc khó khăn nhất mà những người làm tin học gặp phải là đi giải thích cho mọi người, nhất là các cấp lãnh đạo, tin học dùng để làm gì trước khi có thể cung cấp máy tính, phần mềm cho họ!

Chủ trương dùng phần mềm nguồn mở trong quản lý nhà nước có cũng đã lâu nhưng hầu như rất ít thông tin tuyên truyền về nó.

Ngay cả các fan nhiệt thành của một bộ Linux có thể sử dụng thành thạo nó nhưng hoàn toàn không biết phần mềm nguồn mở đã được sử dụng ở khắp nơi trên thế giới vào đủ loại công việc khác nhau bởi đủ loại người khác nhau.

Tình trạng không khác lắm một bản vùng xa, lần đầu tiên lắp được máy phát thủy điện nhỏ để thắp sáng sẽ tin rằng điện chỉ có thế. Và mỗi lần máy trục trặc, họ lắc đầu “Cái đèn điện không tốt bằng cái bếp lửa nhà tao vớ!”.

Ngay trong các ý kiến góp ý về chương trình này cũng có những ý kiến phản đối dùng phần mềm nguồn mở do thiếu thông tin hoặc thông tin sai.

Vì vậy, chương trình nên đặc biệt coi trọng công tác thông tin tuyên truyền cụ thể về các điển hình trên thế giới đã dùng phần mềm nguồn mở (ví dụ xem ). Một kế hoạch tuyên truyền hiệu quả, đa dạng và không tốn kém sẽ rất nhanh làm thay đổi nhận thức của mọi người, tạo được niềm tin và sự ủng hộ.

Khắp nơi người ta dùng được mà mình không dùng được đó là mình kém, không phải phần mềm kém!

Một ví dụ: trình độ quản lý nhà nước và ứng dụng tin học của thành phố Munich (Đức) chắc chắn là hơn xa Hà nội. Nếu họ dùng được phần mềm nguồn mở ( xem ) thì không có lý gì Hà nội không dùng được.

Advertisements

3 thoughts on “Về phần mềm nguồn mở trong chương trình Máy tính kết nối mạng tri thức

  1. theo em có 3 vẫn đề cản trở MNM ở VN
    1. Lợi ích nhóm, các hãng sản xuất MNĐ chi tiền cho một nhóm nào đó để vận động ít nhất là trì hoãn việc sử dụng MNM.
    2. Do thói quen của người dùng
    3. Lãnh đạo các cấp hoặc ngành trong CNTT đéo biết MNM(nói hơi tục một tý)

  2. Pingback: Về lựa chọn, ứng dụng phần mềm tự do nguồn mở trong ngành giáo dục. | ZXC232-Phần mềm tự do nguồn mở – Free and open source software

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s