Lưu luyến GNOME2 ?

Hầu như các bản Linux hàng đầu hiện nay đều đã chuyển sang GNOME3. Nếu như bạn không thích nó, chỉ có cách dùng các version đời cũ hơn có GNOME2. Nhưng như vậy thì các phần mềm ứng dụng không được cập nhật bản mới nhất.

Một trong những cách dùng GNOME2 mà vẫn có cập nhật là Mandriva 2011. Bản chính thức đã giới thiệu ở đây có một số nhược điểm. Vì vậy cộng đồng người dùng tại Italia (MIB) và Rosa Lab ở Nga phối hợp cho ra đời bản Mandriva MIB 2011, tải về tại đây. Cách burn vào USB và cài như đã giới thiệu trong link trước.

Bản này dùng KDE4 nhưng chạy nhẹ và nhanh như các bản KDE4 khác (Fedora, OpenSUSE, Kubuntu), khắc phục vài lỗi nhỏ. Nếu muốn cài GNOME2, chọn cài một trong hai gói: meta-gnome-minimal hoặc meta-gnome (gói sau đầy đủ hơn, có cả các ứng dụng gnome), chú ý cài thêm các gói hỗ trợ gnome của các ứng dụng LibreOffice, Firefox,… Bộ gõ tiếng Việt tải gói ibus-unikey.rpm ở các kho dữ liệu của blog này về cài.Sau đó mở Configure Your Computer, chọn System -> Manage localisation (chọn English American) -> Next -> Other Country chọn IBUS rồi Next tiếp.

Vào Configure Your Desktop -> Login Screen đổi theme từ Mandriva thành Oxygen.

Restart, đến màn hình Log in, kích chuột vào icon có mấy giòng kẻ ngang, chọn GNOME rồi log in vào. Giao diện GNOME2 sẽ xuất hiện.

Một số chi tiết về cài đặt và sử dụng Mandriva xem trong chuyên mục Mandriva – PCLinuxOS của blog này. Đây là bản Linux được dùng rộng rãi ở Pháp, Italia, Nga, Brazin có một số ưu điểm như đã phân tích trong vài bài viết khác. Hai điểm tôi đánh giá cao là Control Center (Configure Your Computer) đầy đủ, dạng wizard và giao diện KDE4 đẹp, tỉa tót tỷ mỹ có bản sắc riêng. Trong KDE, giao diện toàn màn hình SimlyWellcome dùng tiện hơn, nhiều tính năng hơn các giao diện Unity, GNOME3.

Cá nhân tôi dùng bản Mandriva MIB này thấy khá ổn, chỉ có 2 điểm cần lưu ý:

  • Bản này khá mới (ra đời 8/2011), chưa nên update phần hệ thống ngay (trừ Firefox và LibreOffice) vì bản update còn có lỗi. Đợi khoảng 1 tháng nữa.
  • Đôi khi có lỗi treo màn hình. Ctrl+Alt+Del để log out ra hoặc Restart.
Advertisements

Mandriva 2011

Ngày hôm qua bản Mandriva 2011 vừa ra đời. Đây vẫn là bản Linux ưa thích của tôi, dưới đây tôi điểm vài nhận xét ban đầu.

File iso tải về tại đây. Ở góc dưới bên phải có chỗ để chọn các máy chủ mirror tại các nước khác nhau. Chọn xong, nhấn nút Reload this page rồi nhấn vào các link để download. Hiện tại, chỉ có file DVD 1,6GB, không thấy có file CD 700MB như trước. Tải từ các máy chủ ở Nhật mất khoảng 1,5 tiếng.

Ghi file vào đĩa DVD hoặc ghi vào USB bằng lệnh sau (với quyền root):

dd if=/duong_dan_den_file_iso/file_iso of=/duong_dan_den_USB bs=1M

trong đó: đường dẫn đến USB thường là /dev/sdb, nếu máy chỉ có 1 ổ cứng.

Khởi động máy ở chế độ boot từ USB, Mandriva sẽ chạy ở chế độ live DVD (hoặc chọn cài ngay từ menu khởi động). Nên chạy ở chế độ live DVD trước để xem có vấn đề gì về tương thích phần cứng không. Lưu ý là khi boot có thông báo cảnh báo về USB, bỏ qua.

Khi khởi động xong live DVD, nhấn vào nút menu ở góc dưới bên trái màn hình cho hiện Rosa Launcher (được đặt tên mới là SimpleWelcome)  đã nói ở đây. Nhấn vào nút Applications ở giữa rồi cuốn màn hình xuống dưới tìm icon Live Install.

Quá trình cài cũng bình thường như các bản Mandriva khác. Tuy nhiên, quá trình cài này không có đoạn bỏ qua các gói ngôn ngữ và phần cứng không dùng đến. Do đó, sau khi cài xong, khởi động lại máy, mở terminal, gõ lệnh su để chuyển sang root rồi chạy lệnh:

 /usr/sbin/remove-unused-packages​

Lệnh này chạy khá lâu.

Để gõ tiếng Việt, dùng bộ gõ ibus-unikey (tải ibus-unikey.rpm từ các kho phần mềm của blog này). Cách cài giống như các bản Mandriva cũ, nhưng cần cài thêm gói ibus-gtk để gõ được trong các phần mềm viết bằng GTK.

Khi gõ tiếng Việt bằng ibus-unikey trong trình duyệt Chromium có một lỗi nghiêm trọng: sau khi gõ được một lúc, nhấn space để kết thúc từ thì con trỏ nhảy ngược sang trái xóa một loạt từ đã gõ trước đó. Vì vậy nếu gõ tiếng Việt trên web thì dùng Firefox và bộ gõ AVIM thì hơn, mặc dù cũng có lỗi.

Nhận xét đầu tiên là giao diện được tân trang lại nhiều, khá đẹp. Thanh panel dưới đáy màn hình là một dạng panel mới gọi là Rocket bar, đẹp và tiện hơn thanh cũ nhưng chưa có khả năng tùy biến. Nếu bạn không thích, có thể remove nó đi rồi nhấn phím phải chuột trên màn hình Desktop, chọn Add panel -> Default panel để có panel quen thuộc.

Menu SimpleWelcome là dạng menu toàn màn hình thay cho kiểu menu Kickoff cũ. Menu này có 3 màn hình Welcome, Applications và TimeFrame. TimeFrame cho hiện các file đã truy cập theo thang thời gian. Nhìn chung thì tiện cho user bình thường, nhất là người mới làm quen máy tính.

Một dịch vụ mới xuất hiện là MandrivaSync, lưu trữ dữ liệu trên đám mây tương tự như Ubuntu One hoặc Dropbox. Tuy nhiên dịch vụ này đang ở giai đoạn beta, tôi dùng thử thì không làm việc. Tính năng cũng kém hơn hai dịch vụ kia: không tự đồng bộ theo thời gian thực mà phải làm bằng tay. Chăc phải chờ thêm ít nữa.

Mandriva 2011 chọn KDE4 là môi trường đồ họa chính, không có bản GNOME. Thời gian khởi động lâu hơn các bản linux KDE khác.

Một số phần mềm ứng dụng chính cũng có thay đổi: Thunderbird thay cho KMail, Clementine thay Amarok,  Shotwell thay DigiKam,…

Mandriva 2011 chạy tốt trên cái netbook Samsung N148-DP04VN của tôi tuy có hơi chậm, cảm giác nặng hơn các bản linux KDE khác, nhất là thời gian khởi động. Mới dùng cũng thấy vài lỗi:

  • Chế độ Suspend to Ram (Sleep) trục trặc: tắt đi được nhưng không bật lại được.
  • Dropbox không cài được.
  • Đôi khi không Restart được.

Danh sách các lỗi đã gặp và cách khắc phục xem tại đây.

Cài máy in Canon trong Mandriva 20010.0

Mandriva từ bản 2009.0 trở về trước cài các máy in Canon dùng driver CAPT tương đối dễ hơn Ubuntu. Gần đây, Ubuntu có scritp của Radu Cotescu cài những máy in này rất dễ dàng (xem tại đây).

Mandriva từ bản 2009.1 đến bản hiện nay là 2010.2 cài khó hơn nhiều. Tôi đã cài thành công trên 2010.0 như sau:

1-Mở Mandriva Control Center, nhấn vào Hardware -> Setup the printers để tự động tải về gần 300 MB các gói liên quan đến in ấn còn thiếu trong đĩa CD cài đặt.

2- Mở terminal, chạy lệnh su để chuyển sang user root rồi chạy lệnh:

lsmod | grep usblp

Kết quả phải là:

usblp                  12580  1
usbcore               185776  7 usblp,uhci_hcd,ohci_hcd,ehci_hcd,usbhid

Kết quả này cho biết kernel module usblp đang chạy trong nhân. Nếu usblp đang chạy thì phải có file /dev/usb/lp0 (hoặc lp1).

3- Vẫn trong terminal đang đăng nhập như root chạy tiếp các lệnh sau:

mkdir /var/ccpd
mkfifo /var/ccpd/fifo0
chmod 777 /var/ccpd/fifo0

2- Tải driver CAPT mới nhất (2.20) rồi cài tiếp đến hết như đã hướng dẫn tại đây. Chú ý trước khi chạy lệnh:

/usr/sbin/ccpdadmin -p [printer model] -o /dev/usb/lp0

phải kiểm tra xem file /dev/usb/lp0 có tồn tại không. Nếu nó là lp1 thì phải thay đổi lại lệnh.

Mandriva 2009.1 và 2010.2 không cài sẵn module usblp. Để cài module này làm như sau:

1- Mở trang http://urpmi.mandriva.ru/ nhấn vào nút Add EduMandriva medias để add kho phần mềm bổ xung.

2- Cài gói kernel-module-usblp.

3- Khởi động lại máy rồi kiểm tra theo bước 2 ở trên để xem usblp đã được tải vào bộ nhớ chưa.

4- Làm tiếp như phần trên.

Với cách này, tôi cài cho 2009.1 được, nhưng 2010.2 lại không thành công. Module usblp không tải vào bộ nhớ và cũng không có file /dev/usb/lp0.

Dùng lệnh modprobe -v usblp để tải usblp vào bộ nhớ bị báo lỗi:

FATAL: Error inserting usblp (/lib/modules/2.6.33.7-desktop586-2mnb
/kernel/drivers/usb/class/usblp.ko.gz): Invalid module format

Như vậy gói kernel-module-usblp 2.6.33.7-2 hiện tại chỉ tương thích với Mandriva 2010.1 trở xuống. Đợi đến version tiếp theo có lẽ sẽ cài được cho Mandriva 2010.2

Mandriva 2010.2 (bản Gnome) và bộ gõ tiếng Việt

Mandriva vừa ra bản 2010.2, nhưng cài bộ gõ tiếng Việt gặp nhiều trục trặc.

Theo cách cài thông thường đã nói ở những post trước, các bộ gõ ibus, scim, x-unikey đều không làm việc được. Cuối cùng tôi cài được ibus (và ibus-unikey-0.5.1-1.fc14.i686.rpm ) nhưng phải thêm các dòng sau đây vào file ẩn /home/<username>/.bash_profile:

export XMODIFIERS=@im=ibus
export GTK_IM_MODULE=ibus
export QT_IM_MODULE=ibus
export XIM_PROGRAM=”ibus-daemon”

Nếu ibus không tự khởi động được thì vào System -> Preferences -> Startup Applications thêm vào dòng lệnh sau:

ibus-daemon -d -x

Các dòng máy in Canon dùng driver CAPT vẫn chưa cài được vì trong kernel thiếu module usblp. Có một hướng dẫn (tiếng Nga) tại đây nhưng không thành công.

Brazin triển khai 1,5 triệu máy tính dùng Mandriva

Ngày 6/12/2010, công ty Mandriva ra thông cáo báo chí cho biết:

Bộ Giáo dục Brazin vừa quyết định chọn máy tính PC dạng classmate chạy Mandriva để trang bị cho hệ thống giáo dục toàn quốc. Đây là một trong những vụ triển khai dùng Linux có tổ chức lớn nhất thế giới , có thể đạt tới 1,5 triệu máy. Điều này cũng khẳng định vai trò của Linux như một lựa chọn về hệ điều hành máy tính cá nhân có hiệu quả về chi phí. Trị giá máy cho một học sinh kể cả phần cứng và phần mềm khoảng 200USD.

Bản Mandriva chạy trên máy này là bản dùng cho mini notebook có sửa đổi cho phù hợp với phần cứng.

Toàn văn thông cáo xem tại đây.

Thay apt-get bằng các phần mềm nhanh hơn

Ubuntu, PCLinuxOS dùng hệ thống quản lý gói phần mềm APT, lệnh cài đặt của nó là apt-get install, các giao diện đồ họa như Synaptic cũng dùng lệnh này để cài.  (Xem thêm tại đây)

Nhược điểm của apt-get là nó chỉ tải gói phần mềm từ một server bằng một kết nối nên tốc độ chậm và nếu kết nối với server đó bị đứt giữa chừng là không tải về được. Có ba shell script dưới đây nhằm khắc phục các nhược điểm đó. Các script này dùng các phần mềm tăng tốc download khác nhau, chia file cần tải về thành nhiều phần, tải về từ nhiều nguồn khác nhau.

(Các script là các chương trình tập hợp nhiều lệnh lần lượt thực hiện, tương tự như chương trình bat trong DOS).

apt-fast: apt-fast dùng phần mềm tăng tốc download Axel. Tác giả nói rằng nó nhanh hơn apt-get 26 lần. Cài apt-fast bằng ba lệnh sau:

sudo add-apt-repository ppa:tldm217/tahutek.net

sudo apt-get update

sudo apt-get install apt-fast

Sau đó nếu muốn cài gói phần mềm xyz thì dùng lệnh

sudo apt-fast install xyz

thay cho lệnh sudo apt-get install xyz.

apt-proz: apt-proz dùng phần mềm tăng tốc download ProZilla. Tác giả nói rằng apt-proz nhanh hơn apt-fast. Cài apt-proz bằng ba lệnh như với apt-fast đã nói ở trên, riêng lệnh cuối cùng thay apt-fast bằng apt-proz. Cách dùng cũng tương tự:

sudo apt-proz install xyz

apt-metalink: apt-metalink dùng phần mềm tăng tốc download Aria2. Aria2 là phần mềm đã được dùng trong Mandriva hình như từ bản 2009 và có thể dùng thẳng trong giao diện đồ họa. Aria2 có ưu điểm hơn hai phần mềm Axel và ProZilla là có thể tự kiểm tra trị số hash của file.

Để dùng apt-metalink trước tiên phải cài gói aria2:

sudo apt-get install aria2

Sau đó dùng quyền root mở file /etc/apt/sources.list rồi bổ xung vài địa chỉ kho mirror vào, ví dụ:

deb http://ftp.jaist.ac.jp/pub/Linux/ubuntu/ maverick universe

Sau đó chạy lệnh sudo apt-get update để cập nhật danh sách các gói phần mềm

Download gói apt-metalink-0.1.0.tar.gz , giải nén ra, trong thư mục sẽ có file apt-metalink. Để cài gói xyz, chạy lệnh sudo apt-metalink install xyz từ thư mục chứa file apt-metalink.

Cả ba script trên ngoài lệnh install cũng có thể dùng để upgrade (vd: sudo apt-fast upgrade)

Chú ý:

Các phần mềm download nói trên đều có thể:

  • Nếu chỉ có một server được chọn (như Ubuntu thông thường vẫn làm) thì chúng thiết lập đồng thời nhiều kết nối (connection) vào server đó, chia file cần tải về thành nhiều phần để tải đồng thời. Do đó tăng tốc được quá trình download.

Trong ví dụ ở hình trên, tốc độ download đạt 1528 KB/s

  • Nếu có nhiều mirror server được chọn (bằng cách bổ xung vào file sources.list trong Ubuntu hoặc chọn nhiều server trong PCLinuxOS) thì chúng kết nối với nhiều server đồng thời, cũng chia file thành nhiều phần nhưng tải về từ các server khác nhau. Ưu điểm của cách này là khi kết nối với một server bị ngắt giữa chừng, quá trình download vẫn tiếp tục được cho đến hết. Nhược điểm là nếu các server có tốc độ tải về chênh lệch nhau thì server chậm sẽ làm chậm quá trình chung.

Các script trên chỉ dùng được dưới dạng dòng lệnh, chưa tích hợp được vào Synaptic, do đó hơi khó dùng. Riêng mặt này thì Ubuntu kém Mandriva. Bộ quản lý gói phần mềm Rpmdrake của Mandriva đã tích hợp sẵn Aria2 nên có thể dùng giao diện đồ họa được. Các mirror server của Mandriva lại được tổ chức sẵn dưới dạng mirror list nên không bao giờ phải quan tâm chọn server nhanh nhất như Ubuntu.

Tôi mới thử apt-fast thì có cảm giác nhanh hơn apt-get. Chưa thử các script khác và chưa thử với PCLinuxOS.

Hai kho phần mềm bổ xung của Ubuntu và Mandriva

Hai kho phần mềm bổ xung cho Ubuntu và Mandriva.

1- Ubuntu:

Super OS là một bản Linux biến thể của Ubuntu, bổ xung nhiều phần mềm ứng dụng hơn, dễ dùng hơn nhưng vẫn hoàn toàn tương thích với Ubuntu.

Phiên bản Super OS 10.04 dựa trên Ubuntu 10.04 hiện chưa có, nhưng vẫn có thể dùng kho phần mềm (repository) của Super OS để cài thêm các phần mềm vào Ubuntu 10.04 được.

Để add kho này vào Ubuntu, mở terminal chạy hai lệnh sau (lệnh trên dài, viết thành một dòng liên tục, không xuống dòng):

echo "deb http://hacktolive.org/repo/lucid lucid main restricted 
multiverse universe partner #Super OS repository"
 | sudo tee -a /etc/apt/sources.list
sudo apt-get update

Sau khi add xong, dùng Synaptic tìm và cài các phần mềm cần thiết.

Danh sách đầy đủ các phần mềm có trong kho xem tại đây. Ví dụ trong đó có Adobe Reader, Adobe Air, Skype, win32 codecs,….

2- Mandriva

Mandriva có một cộng đồng người dùng mạnh tại Italia. Cộng đồng này thiết lập kho phần mềm MIB (Mandriva International Backport) bổ xung nhiều phần mềm mà kho chính thức không có. Danh sách các phần mềm trong MIB xem tại đây .

Để add kho này vào Mandriva, mở trang http://urpmi.mandriva.ru/ cuốn xuống dưới rồi nhấn vào nút Add MiB Medias.

Khi màn hình sau xuất hiện:

đánh dấu chọn mục Open with Add urpmi media. rồi nhấn OK.

3- Chú ý:

Cả hai kho nói trên của Ubuntu và Mandriva đều không phải kho chính thức của công ty. Vì vậy khi cài các phần mềm trong các kho đó, bạn buộc phải tin là nó an toàn dưới sự quản lý, soi xét của cộng đồng.

Tắt touchpad khi gõ phím

Khi gõ phím trên notebook, một trong những điều khó chịu là con trỏ hay nhảy lung tung do tay vô tình chạm vào chuột touchpad (?).

Trong Mandriva, có thể khắc phục hiện tượng này bằng cách vào Configure Your Desktop -> General -> Keyboard&Mouse -> Touchpad -> Disable touchpad when typing.

Ubuntu thì touchpad đã bị tắt sẵn khi gõ (Preferences -> Mouse -> Touchpad)

Các bản Linux khác tôi chưa thử, không biết có tính năng đó không? Riêng trong Mandriva, sau khi làm như trên, không bị hiện tượng nhảy con trỏ nữa.

Mandriva 2010.1 (Mandriva 2010 Spring)

Mandriva 2010.1 (Mandriva 2010 Spring)

Cuối cùng bản Mandriva 2010.1 cũng ra đời, chậm hơn lịch dự kiến khoảng 1 tháng do những khó khăn tài chính của công ty.

Sau khi có các nhà đầu tư mới, công ty đang tái cấu trúc nhằm đến mục tiêu đầy tham vọng là “ European leadership”.

Đang khó khăn nên con ra đời cũng lập cập. Sau khi nhận được mail thông báo, tôi không thể nào download trực tiếp được. Khoảng vài tiếng sau thì download được bằng Bittorrent khá nhanh.

Cho đến thời điểm viết bài này, server của FPT đã có các kho phần mềm mirror của Mandriva 2010.1, nhưng chưa có các file iso.

Trong danh sách các kho phần mềm lần này có thêm kho Restricted chứa các phần mềm có hạn chế về license.

Nhìn chung, đây là một phiên bản nâng cấp, không có các tính năng đột phá, nhưng có rất nhiều cái mới (xem tại đây., bài viết về bản beta xem tại đây).

Một số lỗi đã biết xem tại đây. Card màn hình Intel thì ngon, cài trơn tru trên những máy mà Ubuntu 10.04 bị lỗi. Nhưng card Nvidia không dùng được driver nguồn đóng của chính hãng, phải dùng driver nouveau nguồn mở.

Vẫn còn lỗi treo khi shutdown hoặc restart trên một số máy. Theo hướng dẫn thì nhấn Alt+F1.

Tiếng Việt gõ bằng ibus-unikey được (mới thử trên Firefox và Writer, chưa thử kỹ nhiều ứng dụng khác). Vào Mandriva Control Center → System → Manage Localization for your system, nhấn Next, chọn Other countries rồi chọn input method là IBUS. Sau đó đừng logout vội, vào site này tải ibus-unikey-0.5-1.fc13.i386.rpm về cài. Bản ibus-unikey này dùng cho Fedora 13 nhưng cũng chạy được trên Mandriva. Điểm tốt là ibus-unikey không cần phím kết thúc từ. Nhược điểm khi chạy trên Mandriva KDE là nhả dấu hơi chậm nếu gõ nhanh.

Để cài máy in, vào Mandriva Control Center → Hardware → Setup the printer, phải cài thêm 287 MB phần mềm nữa.

Thử cài máy in Canon LBP-1210 theo hướng dẫn ở đây . Quá trình cài trơn tru, không báo lỗi nhưng khi in thử không được. Gõ lệnh captstatusui -P LBP1210 thì bị báo lỗi Communication Error . Chưa rõ nguyên nhân.

Khởi động mặc dù được quảng cáo là nhanh nhưng cũng xêm xêm như Ubuntu. Shutdown hoặc Restart thì chậm hơn Ubuntu.

PCLinuxOS cũng mới có bản PCLinuxOS 2010.7 là bản cập nhật hàng quý. Kiểu này khác hẳn các bản Linux khác.

Mandriva 2010.1 Beta 2

Mandriva 2010.1 Beta 2

Mandriva 2010.1 còn gọi là Mandriva 2010 Spring đã có bản Beta 2, dự kiến tới 19/5 có bản RC và 3/6 thì ra bản chính thức.

Giới thiệu chung nằm ở Mandriva wiki. Trong đó có:

  • Các ý tưởng ( Mandriva Ideas) do cộng đồng kiến nghị. Mỗi phiên bản Mandriva sẽ có một số trong những ý tưởng đó được thực hiện.

  • Đặc tả kỹ thuật ( technical specifications): các chi tiết kỹ thuật.

  • Release Notes : các thay đổi và tính năng mới

  • Errata.: các lỗi đã biết.

Thông tin về bản Beta 2 và các địa chỉ tải về ở đây. Tôi cài thử và thấy có vài điểm đáng lưu ý:

Tiếp tục cải tiến các công cụ cấu hình: công cụ mạnh và dễ dùng vẫn là điểm mạnh của Mandriva. Trong các công cụ của bản này có hai cái đáng chú ý:

  • Quản lý an ninh và theo dõi hệ thống (MSEC): trong các bản Linux hình như duy nhất Mandriva có bộ công cụ này. Nó cho phép thiết lập các cấu hình an ninh, tự động chạy kiểm tra hàng ngày và đưa ra báo cáo trực quan. MSEC có từ các phiên bản trước, tiếp tục được cải tiến. Người dùng có thể chọn các level an ninh khác nhau: tiêu chuẩn, netbook, secure (an ninh tối đa), … Ngoài tự động kiểm tra, user có thể nhấn Run now để cho test bất kỳ lúc nào.

  • Khóa ứng dụng (drakguard): Admin của máy có thể quyết định khóa không cho một user dùng một số ứng dụng. Cái này rất hay với máy dùng chung. Ngoài ra còn có Parental Control để bố mẹ kiểm soát con cái dùng máy.

Gnome dùng bản mới nhất 2.30 và có một công cụ mới là Gnome Activity Journal. Công cụ này tự động theo dõi và ghi lại mọi hoạt động hàng ngày của người dùng. Giao diện của nó như thế này:

Rất tiện nhưng cũng đáng sợ nếu có người khác xem được.

Đã có thể log vào session GNOME3Preview (nếu card màn hình hỗ trợ 3D) để xem trước GNOME 3.

KDE là bản 4.4.2. nhưng chạy chậm hơn so với Mandriva 2010.0. Nếu dùng scim-unikey thì khi gõ tên file tiếng Việt lúc save hoặc save as không hiện nổi các ký tự, phải space mới xuất hiện các ký tự đã gõ. Ibus-unikey hoặc bản Gnome không bị hiện tượng này. Chắc vẫn do driver card màn hình, hy vọng đến bản chính thức sẽ hết.

Nepomuk bây giờ chạy trơn tru hơn các phiên bản trước (xem thêm về Nepomuk tại đây). Tuy nhiên search hơi chậm, không nhanh bằng Google Destop Search. Nepomuk là một công cụ tổ chức thông tin mới rất hay nhưng đòi hỏi phải tập thói quen mới và mất thì giờ hơn đôi chút. Nếu là người bận rộn, giải quyết nhiều công việc trên máy tính, không dùng Nepomuk là phí nửa đời người.

Một điểm mới dễ chịu là phần Config printer đã được cài sẵn, không còn phải tải về hàng trăm MB như các phiên bản trước. Tôi nhầm, vẫn phải tải về 293 MB.

Trong thông báo lỗi Errata, chỉ thấy có lỗi với card màn hình ATI và Nvidia. Không có lỗi với card Intel.

Tôi đã cài thử vào vài máy có card Intel đều trơn tru không bị lỗi như khi cài Ubuntu 10.04

PCLinuxOS 2010

PCLinuxOS 2010

PCLinuxOS sau một hồi sóng gió mới hồi phục lại từ PCLinuxOS 2009 vẫn dùng KDE3. Bản PCLinuxOS 2010 mới ra ngày 20/4/2010 chuyển hẳn sang KDE 4.4. Do tính đầy đủ và dễ dùng nên nó vẫn đứng trong TOP 10 của Distrowatch.

PCLinuxOS cũng còn các phiên bản khác dùng GNOME, LXDE, v.v… Đặc biệt có hai phiên bản mini là Zen Mini (GNOME) và MiniMe (KDE), file cài đặt chỉ khoảng hơn 300MB, dành cho ai thích tự mình chọn cài các phần mềm ứng dụng.

Các bản từ 2008 về trước, PCLinuxOS dựa hẳn trên Mandriva, chỉ bổ xung các gói phần mềm và ứng dụng cần thiết tương tự như cách Linux Mint dựa trên Ubuntu. Từ bản 2009 trở đi, PCLinuxOS có một số thay đổi trong phần nền so với Mandriva. Điểm thấy rõ nhất là vẫn dùng phần mềm đóng gói dạng rpm, nhưng lập kho phần mềm riêng, dùng trình quản lý phần mềm apt-get với frontend là Synaptic giống như Ubuntu, bỏ không dùng urpmi của Mandriva nữa. Nhưng apt-get ở đây vẫn chưa hoàn chỉnh, thiếu apt-get autoremove, một lệnh rất cần để dọn các gói mồ côi. Synaptic khắc phục được nhược điểm của trình quản lý phần mềm trong Mandriva là có thể search các gói phần mềm theo các từ khóa nằm trong phần Description.

Việc lập kho phần mềm riêng là một điều dở, nhất là với tổ chức kiểu tình nguyện của PCLinuxOS. Số lượng kho ít, tốc độ download chậm (với Việt nam có mấy kho ở Nhật là nhanh) và phần mềm trong đó không đầy đủ.

Do nhược điểm trên, cài bộ gõ tiếng Việt khó và mất công hơn Mandriva. Với Mandriva, chỉ cần vào Control Center -> System -> Manage localization for your system rồi chọn scim hay ibus là xong. Trong PCLinuxOS không có ibus, cài scim bị báo lỗi thiếu scim-tables, quá trình cài không kết thúc nên không gõ được. Tôi thử làm như sau:

  • Vào Control Center -> System -> Manage localization for your system rồi chọn scim (hoặc scim-bridge, không nhớ rõ). Khi bị báo lỗi không log out ra.
  • Mở file ẩn  /home/username/.bash_profile thêm vào ba lệnh:
      export XMODIFIERS=@im=SCIM
      export GTK_IM_MODULE=xim
      export QT_IM_MODULE=xim
  • Vào Configure Your Desktop ->Advanced User Settings -> Autostart rồi nhấn nút Add Program gõ vào ô trắng lệnh scim -d . Sau khi OK, lệnh này xuất hiện bên dưới mục Desktop File.
  • Cài scim-unikey-0.3.1-2.i386.rpm tải về từ các kho phần mềm của blog này. PCLinuxOS chưa có trình cài đặt đồ họa để nhấn vào file rồi cài như Ubuntu và Mandriva, do đó phải mở Terminal tại thư mục chứa file trên rồi chạy lệnh su chuyển sang root, chạy tiếp lệnh apt-get install ./scim-unikey-0.3.1-2.i386.rpm để cài.
  • Trong terminal, chạy tiếp lệnh scim, biểu tượng scim xuất hiện trên panel, nhấn phím phải chuột vào đó để setup.
  • Khởi động lại.

Đã thử gõ tiếng Việt trong Firefox, OpenOffice (các trình viết bằng GTK) và KMyMoney, Konqueror (viết bằng QT) đều ổn. Nhưng khi gõ trong các trình viết bằng QT thì nhả dấu khá chậm. Đặc biệt là không gõ được tiếng Việt trong KWrite, Dolphin. Trình chat của PCLinuxOS là Pidgin viết bằng GTK nên gõ tiếng Việt tốt. Chỉ có Firefox và OpenOffice thử kỹ, các trình khác mới thử qua.

KDE 4.4 chạy tốt, không chậm. Nhưng Nepomuk thì không kích hoạt được (nút Apply bị mờ). PCLinuxOS có một điểm hay là các phiên bản phần mềm mới (Firefox, OpenOffice, …) khi xuất hiện được thử và đưa vào kho phần mềm khá nhanh.

Chưa dùng nhiều nên không biết còn lỗi gì không.

NEPOMUK – một cách tổ chức, chia sẻ dữ liệu mới.

NEPOMUK – một cách tổ chức, chia sẻ dữ liệu mới.

I. Hai vấn đề hiện tại

I.1-Tổ chức, quản lý và tìm kiếm dữ liệu cá nhân

Giả sử bạn đang thực hiện một công việc (task A) nào đó trên máy tính. Các dữ liệu liên quan đến công việc đó gồm có:

  • Các file văn bản, hình vẽ, ảnh, … được tập hợp trong một thư mục task A mở trong phần mềm Dolphin.

  • Các cá nhân có liên quan được tập hợp trong một Distribution List cũng có tên là task A trong sổ địa chỉ Contacts của phần mềm Kontact.

  • Các email trao đổi về công việc đó được tập hợp trong một thư mục task A của Inbox hoặc trong một thread có chung subject là task A của phần mềm KMail.

  • Các trang web liên quan được tập hợp trong một thư mục task A của Bookmarks của phần mềm Firefox.

  • v.v… và v.v…

Dữ liệu liên quan đến một công việc nằm rải rác trong nhiều format, nhiều ứng dụng và được tập hợp trong nhiều chỗ khác nhau.

Như vậy khó tìm kiếm, mất thì giờ và dữ liệu không có liên kết với nhau.

I.2-Tìm dữ liệu cho mình hoặc chia sẻ dữ liệu cho người khác

Những dữ liệu nói trên, ngoài tên file, subject của email hoặc địa chỉ trang web, có rất ít thông tin hiển thị ra ngoài. Ngay cả người tạo ra dữ liệu đó, nếu lâu ngày cũng không nhớ nội dung nó nói gì.

Vì vậy khi tìm kiếm mất rất nhiều thì giờ. Một trong những điển hình là khi Google Search theo các từ khóa nào đó mất nhiều công mở từng trang web trong kết quả tìm kiếm mới phát hiện được trang cần thiết.

Một trong những cách để khắc phục là có các công cụ để người tạo ra dữ liệu hoặc người đã dùng nó:

  • Ghi chú thêm thông tin (annotate – chú giải) về dữ liệu dưới dạng gán từ khóa (tag), comment hoặc note và các dạng thông tin khác nữa đi kèm với file.

  • Những thông tin thêm đó phải có nghĩa (semantic), đọc được và tìm kiếm được (queryable) bằng các công cụ tìm kiếm.

Ví dụ: một bức ảnh về Hồ Hoàn kiếm, khi chia sẻ lên mạng nếu được gán các tag “phong cảnh”, “Hà nội”, “Việt nam” v.v…, một người nước ngoài tìm ảnh theo các từ khóa trên sẽ nhận thấy ngay đây là cái mình cần trước khi mở ảnh ra xem. Nếu có người đã xem, cho một comment “ảnh đẹp” thì lại càng đáng mở ảnh. Rõ ràng như vậy tiện hơn nhiều khi chỉ có mỗi tên file “Hoan Kiem lake.jpg”.

Văn bản giấy khi xếp trong các cặp hồ sơ là tổ chức giống kiểu thư mục máy tính. Nhưng phần trích yếu V/v và các mẩu giấy notepad dán vào chính là một dạng ghi chú thêm như trên, có điều công cụ tìm kiếm là bằng mắt.

Việc ghi chú như trên tạo thuận lợi cho chính người lập ra dữ liệu và người được chia sẻ nhưng đòi hỏi phải thay đổi thói quen, mất thêm thì giờ khi lưu dữ liệu. Bản thân tôi khi viết blog cũng rất ngại phần tag.

II. Dự án NEPOMUK.

Một trong những tính năng mới được giới thiệu trong Mandriva 2010.0 là Smart Desktop mà theo lời hãng giới thiệu một cách ngắn gọn thì:

Máy tính của bạn sẽ thông minh hơn, hỗ trợ bạn trong công việc hàng ngày. Bạn có nhiều tài liệu, thư từ, dữ liệu, ảnh, video. Giờ bạn có thể tổ chức chúng theo các dự án (task) . Có thể ghi chú, bình luận, gán từ khóa chỉ bằng vài lần kích chuột.

Nhờ thế, dữ liệu sẽ luôn tìm được dễ hơn nhiều khi bạn cần đến chúng

Smart Desktop xây dựng trên nền tảng của NEPOMUK tên viết tắt của “ Networked Environment for Personalized, Ontology-based Management of Unified Knowledge” tạm dịch là “ Môi trường kết nối mạng quản lý kiến thức thống nhất trên cơ sở bản thể luận cá biệt hóa”. Nghe hơi triết và ù tai!

NEPOMUK là một dự án phần mềm nguồn mở hiện thời trị giá $17 triệu, trong đó Liên minh châu Âu (EU) tài trợ $11,5 triệu. Như thế cũng đủ biết nó là một dự án lớn và quan trọng.


Hình 1: Logo của NEPOMUK

Mục tiêu của dự án là NEPOMUK xây dựng và triển khai một giải pháp toàn diện (gồm các phương pháp, các cấu trúc dữ liệu và một bộ công cụ) để hòa nhập máy tính cá nhân vào môi trường cộng tác, cải tiến việc cộng tác qua mạng, cải tiến việc quản lý dữ liệu cá nhân và tăng cường hiểu biết của con người bằng cách cung cấp và tổ chức thông tin do cá nhân và tập thể tạo ra.

Đại khái thì Nepomuk giúp cho việc quản lý và tìm kiếm dữ liệu cá nhân dễ hơn, đầy đủ hơn (khác cách quản lý theo file hiện thời) và dễ chia sẻ hơn qua mạng .

Giải pháp toàn diện nói ở trên được gọi là Social Semantic Desktop , khó mà dịch ra tiếng Việt một cách ngắn gọn dễ hiểu được. Nó gồm:

Về máy tính:

Mục tiêu của NEPOMUK là xây dựng các phương pháp, cấu trúc dữ liệu và các dịch vụ cần thiết để:

  • Ghi chú vào và link các thông tin bất kỳ, ở mọi loại file, trong mọi ứng dụng và trên mọi thiết bị lưu trữ trên máy tính

  • Biểu diễn rõ ràng và trực quan các suy nghĩ của người dùng và biến chúng thành thông tin có nghĩa. Sẽ dùng công nghệ wiki và tích hợp nó với cơ chế ghi chú.

  • Tích hợp việc tạo và xử lý nội dung với cách người dùng tổ chức công việc. Quan điểm chính là tích hợp phương pháp mô hình xử lý agile với việc tạo và tổ chức thông tin.

Ví dụ: một file ảnh thông thường chỉ có một thông tin có nghĩa và tìm kiếm được là tên file nhưng cũng rất không đầy đủ. Nepomuk sẽ cho phép người dùng bổ xung thêm (annotate) thông tin có nghĩa (semantic) và tìm kiếm được (queryable) vào ảnh đó.

Về mặt xã hội (social aspect)

Để đáp ứng việc kết nối và trao đổi với các máy tính khác, NEPOMUK sẽ xây dựng:

  • Các công cụ để xây dựng các quan hệ xã hội và trao đổi kiến thức hỗ trợ việc chia sẻ kiến thức trong một cộng đồng. Người dùng không chỉ trao đổi hồ sơ và các mẩu thông tin cô lập mà còn tất cả các thông tin liên hệ và sự đóng góp của cộng đồng vào đó.

  • Các kỹ thuật để tìm kiếm và lưu trữ thông tin nằm rải rác trên mạng, tập hợp thành kho lưu trữ thông tin chung cho cộng đồng.

Dự án này tương đối mới và còn đang trong giai đoạn phát triển. Mới có một phần các mục tiêu trên thực hiện được. Hiện nay, nó đã triển khai được bước đầu (tổ chức lại thông tin) trong KDE4 và trên Java.

GNOME cũng đang có một dự án kiểu này, dự kiến sẽ ra mắt trong GNOME3, trong đó có sự đóng góp ý tưởng của một bạn người Việt (Le Hoang Nhi), xem thêm ở đây .


III.Smart Desktop trong Mandriva 2010.0 KDE.

Mandriva 2010.0 KDE đã tích hợp NEPOMUK như một tính năng mới.

III.1-Cài đặt:

Mở Install & Remove Software, cài thêm soprano-plugin-redland, soprano-plugin-sesam2, gõ từ “ nepomuk” rồi chọn cài tất cả những gói chưa cài trong đó, trừ ba gói nepomuk-scribo-devel, libepomuk-contact4, libepomukpeopletag0 (hai gói sau bị lỗi không cài được nên phần contact chưa dùng được ở các mục dưới đây).

Mở Configure Your Desktop > Advanced > Desktop Search > Basic Settings rồi đánh dấu chọn hai mục Enable Nepomuk Semantic Desktop Enable Strigi Desktop File Indexer.

Chuyển sang tab Advanced Settings rồi thay đổi thư mục cần tìm kiếm (nếu cần). Mặc định là thư mục /home/<username> . Thư mục quy định ở đây là thư mục chứa dữ liệu hay tìm kiếm nhất (ví dụ My Documents) để trình tìm kiếm Strigi lập chỉ mục (index) trước, khi tìm sẽ nhanh.

Làm xong các bước trên, nhấn nút Apply, biểu tượng của Nepomuk sẽ xuất hiện trên panel và việc lập chỉ mục bắt đầu. Tùy theo dung lượng thư mục, thời gian lập chỉ mục có thể mất vài tiếng và máy sẽ hơi chậm.

Khi đã lập chỉ mục xong, mỗi lần có file mới hoặc file bị thay đổi, chỉ mục sẽ tự động cập nhật.

III.2-Siêu dữ liệu (metadata)

Mỗi dữ liệu (data: một file, một email, một trang web, v.v…) đều có thể có ba loại siêu dữ liệu (metadata) sau:

  • Metadata có sẵn đi kèm với file lưu trên ổ cứng: các thuộc tính (properties: tên file, đường dẫn, dung lượng, …), các từ khóa tag gán cho file audio, các mốc thời gian khởi tạo, truy cập và sửa, các đoạn text chỉ mục (index), … Các công cụ tìm kiếm như Beagle, Strigi có thể tách các metadata đó và lập chỉ mục được để tìm kiếm cho nhanh.

  • Metadata do người dùng tạo ra gán cho dữ liệu: comment hoặc note vào file hoặc email, gán từ khóa (tag), chấm điểm (Numeric rating) file.

  • Metadata không thuộc hai loại trên, ví dụ: đường link gốc của một file tải về từ Internet, kết nối của một file đính kèm theo email. Một khi những file trên đã lưu trên ổ cứng thì các kết nối trên bị mất, không thể biết file được tải về từ đâu hoặc nằm trong email nào.

NEPOMUK cung cấp các công cụ để tạo, quản lý, tìm kiếm các loại metadata đó.

Hiện nay một số chương trình cũng có công cụ để người dùng ghi chú (tag, note, comment) vào dữ liệu. Nhưng những ghi chú đó chỉ đọc và tìm kiếm được trong nội bộ một chương trình đó. Các ghi chú của Nepomuk có giá trị liên chương trình (cross-applications), có thể đọc và tìm kiếm được trên mọi phần mềm có tích hợp Nepomuk.

III.3-Tổ chức thông tin theo công việc (task):

Nhấn phím phải chuột vào Panel, chọn Panel Settings rồi chọn tiếp Add Widgets. Trong danh sách các widgets, chọn Task Management Widget rồi nhấn nút Add, các icon sau xuất hiện trên panel:

Nhấn vào icon bên trái để chạy chương trình Tasktop. Đây là bước đầu cho một cách tổ chức dữ liệu mới. Tasktop cho phép tập hợp tất cả các dữ liệu có liên quan với một Task về một mối.

Nhấn vào New Task để tạo Task. Sau đó nhấn vào các nút dấu cộng để gán các dữ liệu liên quan vào Task. Tuy nhiên, hiện chỉ có mỗi phần Files hoạt động được. Contact thì không do không cài được hai file đã nói ở trên. Email và Web Pages phải gán từ KMail và Konqueror (xem bên dưới).

Một Task có thể gồm nhiều Task con bên dưới.

Còn một cách tổ chức dữ liệu nữa là dựa trên Tag. Mọi dữ liệu được gán chung một Tag, khi dùng Nepomuk Search sẽ tập hợp chung lại một chỗ.

III.4-Tích hợp với trình duyệt file Dolphin:

III.4.1-Ghi chú thêm vào file:

Trong Dolphin, người dùng có thể thêm “ý kiến” của mình đối với mỗi file bằng ba loại metadata (xem hình bên, cột Infomation ở bên phải màn hình Dolphin):

  • Chấm điểm file (Numeric rating): nhấn vào các hình sao ở cột bên phải. Mỗi sao là 2 điểm. Kết quả hiện ở bên dưới, ví dụ ảnh trong hình có Numeric rating=9. Loại metadata này để người dùng đánh giá nội dung file.

  • Ghi chú (comments): file chưa có ghi chú thì bên dưới dãy sao có Add comment. Nhấn vào đó để thêm ghi chú tùy ý. Sau đó, nội dung ghi chú hiện lên bên dưới dãy sao như hình trên.

  • Gán từ khóa (tag) cho file: từ khóa ở đây là các từ khóa có liên quan đến file. Trong ví dụ trên, file được gán từ khóa “Ảnh màn hình” và “compiz”. Có thể nhấn vào Change Tags để thêm nhiều từ khóa nữa hoặc xóa bớt.

Khi nhấn chuột phải vào một file, chọn tiếp Actions trong menu con, sẽ có ba mục mới trong menu kế tiếp:


  • Associate to task:
    gán file vào một công việc. Chi tiết xem bên dưới.

  • Annotate: Ghi chú vào file. Đây là lệnh cao cấp có rất nhiều kiểu trường ghi chú ngoài comment và tag nói trên.

  • Run semantic analysis: tìm các thông tin có nghĩa bên ngoài nội dung file.

III.4.2-Tập hợp dữ liệu theo tag:


Nhấn Ctrl+L để chuyển thanh địa chỉ của Dolphin sang dạng edit được. Gõ vào đó lệnh tìm kiếm như trên hình. Kết quả bên dưới là hai file có tag compiz.

III.5-Tích hợp với Kontacts

Mỗi email trong KMail có thể gán tag, comment và liên kết với một task được. Mỗi địa chỉ trong Contacts cũng vậy (nhưng hiện chưa làm được vì các file tương ứng bị lỗi chưa cài được như nói ở trên).

III.6-Tích hợp với trình duyệt web Konqueror

Mỗi trang web mở trong Konqueror, khi nhấn chuột phải sẽ xuất hiện các menu sau:


Theo menu trên, với mỗi trang web có thể (cũng tương tự như với file):

  • Rate this page: chấm điểm (numeric rating) như với file đã nói ở trên.

  • Tag this page: gán từ khóa vào trang.

  • Associate to task: liên kết trang vào một công việc.

Ngay trên toolbar cũng có hai nút lệnh liên quan đến Nepomuk.

Trình duyệt Firefox và trình thư điện tử Thunderbird cũng có một extension là nepomuk-mozilla nhưng hiện chưa tương thích với Firefox 3.5

III.7-Tìm kiếm bằng Nepomuk + Strigi

Strigi là trình tìm kiếm mặc định trong KDE4 được tích hợp vào trình duyệt file Dolphin (không có lệnh chạy riêng). Hiện tại, strigi được tích hợp với Nepomuk, lập chỉ mục và tìm kiếm được trên:

  • Tên file và trong nội dung file (ODF hoặc Microsoft Office). Tìm được cả các từ tiếng Việt unicode bên trong file.

  • Các comment hoặc tag của file. Tìm được các từ tiếng Việt trong comment nhưng không tìm được các tag tiếng Việt.

  • Không tìm được trong Kmail.

  • Ví dụ một lệnh tìm trong nội dung file (xem hình dưới).


Gõ từ “thú chơi” vào ô Search ở bên phải toolbar như trong hình. Kết quả tìm được file “Cac dai cong ty va phan mem nguon mo.doc”.

Còn một phần mềm tìm kiếm nữa là KFind (trong Dolphin: Tools > Find Files). KFind có nhiều options tìm hơn Strigi (tìm theo ngày tháng, dung lượng file v.v..) và tìm được từ tiếng Việt bên trong các file ODF, nhưng không tìm được trong các file Microsoft Office. KFind không có liên hệ gì với Nepomuk.

III.8-Nepomuk Shell

Nepomuk Shell là một chương trình tổng hợp quản lý mọi thứ có trong Nepomuk. Chạy nó từ Run Command với lệnh nepomukshell.

IV. Kết luận

Nepomuk là một dự án lớn, đầy tham vọng hiện mới thực hiện được một phần. Mandriva có lẽ là bản Linux đầu tiên tích hợp nó vào ở mức độ đáng kể như trình bày ở trên (Các bản Linux KDE khác chắc cũng có thể cài bổ xung Nepomuk nếu chưa có). Tuy nhiên vì là bước đầu nên các tiện ích còn chưa hoàn thiện, giao diện chưa thân thiện, dễ dùng, nhiều khái niệm khá mới và phức tạp với người dùng bình thường.

Nhưng triển vọng thì rất sáng sủa. Chúng ta cùng chờ xem.

Vài thủ thuật dùng Mandriva

VÀI THỦ THUẬT SỬ DỤNG MANDRIVA.

Các thủ thuật dưới đây trình bày cho Mandriva 2010.0 RC2 KDE4 nhưng cũng có thể dùng cho các bản Mandriva khác.

1- Tài liệu hướng dẫn:

Tôi có soạn hai tài liệu tiếng Việt hướng dẫn cài và sử dụng Mandriva, nhưng còn thiếu nhiều. Tải về tại đây hoặc đây.

Hướng dẫn đầy đủ nhất cho Mandriva 2009.1 xem tại đây (tiếng Anh).

2- Xóa các gói phần mềm thừa.

Trong Mandriva có một số gói phần mềm thừa, có thể xóa đi. Tiết kiệm ổ cứng chỉ là một phần nhưng cái chính là để không mất công tải các file update những phần mềm đó khi có update.

Các gói phần mềm “địa phương”: Nhấn vào Menu > Install & Remove Software. Trong màn hình của Software Management (Rpmdrake), gõ từ “locales” vào ô Find rồi Enter. Trong danh sách các gói locales xuất hiện, bỏ dấu chọn bên trái tất cả các gói locales đã cài, chỉ để lại hai gói là localeslocales-en. Mỗi lần bỏ chọn một gói (ví dụ locales-pt), màn hình sau xuất hiện:

Đây là các gói ngôn ngữ liên quan đến gói địa phương vừa bỏ chọn (từ điển, giao diện, kiểm tra chính tả,…). Nhấn OK để đồng ý.

Chọn xong, nhấn nút Apply. Giải phóng được khoảng 400MB ổ cứng.

Driver máy in : Do không đủ dung lượng một đĩa CD cài đặt nên các phần mềm liên quan đến in ấn không có trên CD. Khi cài máy in lần đầu, trong Control Center, nhấn vào Hardware > Setup the printers , sẽ phải tải về gần 270MB phần mềm (giá bỏ cái đám locales trên, cho phần mềm máy in vào có phải hay hơn không?). Trong đó mặc định có các gói liên quan đến máy in HP. Nếu không dùng máy in HP, gỡ gói libhpip0 . Giải phóng được 21MB .

3- Gỡ bỏ các file “mồ côi”

Khi cài mới các gói phần mềm, các gói “phụ thuộc” – dependency cần thiết cũng được cài. Nhưng khi gỡ bỏ thì các gói phụ thuộc không được gỡ và trở thành “mồ côi – orphans” không cần nữa. Một số driver phần cứng (ví dụ: x11-driver-input-calcomp – X.org input driver for Calcomp devices) lúc đầu được cài nhưng nếu không có phần cứng đó cũng là mồ côi.

Mandriva thường xuyên duyệt danh sách phần mềm và thỉnh thoảng hiện lên thông báo có file mồ côi dưới dạng sau:

Để gỡ các gói mồ côi, mở terminal ( Menu > Tools > Konsole) rồi chạy lần lượt hai lệnh sau:

su (để chuyển sang user root)

urpme  --auto-orphans (để gỡ các gói mồ côi)

Chú ý: việc gỡ gói mồ côi chỉ nên áp dụng với các phiên bản Mandriva 2009 trở lên. Tuy nhiên, lệnh vẫn chưa trơn tru lắm. Nếu bị báo lỗi (chỉ một gói không gỡ được là các gói khác cũng không được gỡ), có thể theo danh sách, đánh dấu gỡ từng gói trong Install & Remove Software mà không dùng urpme.

Lệnh tương tự trong Ubuntu là sudo apt-get autoremove.

4- Tìm phần mềm để cài vào Mandriva:

Trước tiên bao giờ cũng tìm trong các kho của Mandriva và cài bằng trình Software Management (Rpmdrake, gọi lên bằng Menu > Install & Remove Software). Tuy nhiên, trình này chỉ tìm được theo tên phần mềm mà không tìm được trong phần mô tả phần mềm (Description). Ví dụ, wammu là phần mềm quản lý mobile phone có trong kho của Mandriva, nhưng nếu gõ “mobile phone” trong ô Search thì sẽ không tìm được phần mềm này.

Vì vậy, nếu không biết tên phần mềm phải gúc trước theo từ khóa, ví dụ “mobile phone linux”, xem để biết tên phần mềm.

Ngoài các kho chính, cộng đồng người dùng Italia cũng có một kho riêng khá tích cực (các phần mềm mới nhất thường xuất hiện ở đây). Add các kho này bằng các lệnh sau với quyền root (cho máy i686, Mandriva 2009.1):

urpmi.addmedia  –update MIB-FREE_i686 http://mib.pianetalinux.org/2009.1/i686/MIB-free/ with media_info/synthesis.hdlist.cz

urpmi.addmedia  –update MIB-NOFREE_i686 http://mib.pianetalinux.org/2009.1/i686/MIB-nonfree/ with media_info/synthesis.hdlist.cz

(Chú ý trước từ update là hai dấu gạch ngắn. Chi tiết xem thêm tại đây )

Ngoài ra, có thể tìm rất tốt bằng các site rpm ví dụ:

Trong Firefox, tìm cài add-on Fedora-pkgdb sẽ bổ xung thêm Search Engine Fedora-pkgdb ở ô Search có thể dùng tìm các gói rpm của Fedora rồi tải về thử cài lên Mandriva.

Tìm theo các cách trên được rồi cũng nên quay về Rpmdrake để tìm lại, nếu không có mới tải từ Internet về cài.

Một số trường hợp chỉ có file deb (dành cho Debian, Ubuntu,…) có thể convert thành file rpm để cài vào Mandriva như sau:

  • Tìm cài gói alienrpm-build vào Mandriva.

  • Mở terminal rồi chạy lệnh su để chuyển sang root.

  • Chạy tiếp lệnh alien -r -c <đường dẫn và tên gói deb>

  • Một gói rpm sẽ được tạo ra, nhấn vào gói đó để cài vào Mandriva.

Có những trường hợp gói rpm của Red Hat cài vào Mandriva không được, nhưng convert gói deb của Ubuntu như trên lại cài được.

Cài máy in Canon trong Madriva 2009.1 và Ubuntu 9.04

Khi cài máy in Canon LBP 2900 trong Mandriva 2009.1 và Ubuntu 9.04 theo các hướng dẫn tại đâytại đây thì có vài trục trặc nhỏ:

  1. Với Mandriva 2009.1: Phải bật máy in trước khi bật máy tính mới in được.
  2. Với Ubuntu 9.04: trước khi in, mở terminal chạy lệnh sudo /etc/init.d/ccpd restart mới in được.

Không rõ các máy in Canon khác dùng CAPT driver có bị như vậy không? Các hướng dẫn nói trên viết cho trường hợp máy in LBP 1210 (cũng dùng CAPT driver) với các phiên bản trước của Mandriva và Ubuntu không thấy có lỗi này.

Lại card màn hình Intel

Trong một post trước có nói về vấn đề mà card màn hình Intel (một số, không phải tất cả) đang gặp với các công nghệ đồ họa mới mà driver chưa tìm được giải pháp tối ưu.

Điều này xảy ra với các hệ Linux đời mới nói chung, không riêng gì Ubuntu. Ví dụ Mandriva 2009.1 khi cài trên máy có card màn hình onboard Intel 82G33/G31 sẽ gặp lỗi “rendering”: khi nhấn vào các menu, cửa sổ, màn hình của menu hoặc cửa sổ đó thoạt đầu hiện lên vạch ngang lằng nhằng, một lúc mới hiện lên đầy đủ.

Mỗi bản Linux đều có trang liệt kê các lỗi đã gặp mà tới lúc phát hành vẫn chưa sửa được và nêu cách sửa tạm. Ubuntu nêu các lỗi đó trong trang Release Note, Mandriva thì đặt ở trang Errata.

Hai trang đó đều nêu cách chữa lỗi nói trên như sau (nhưng không đảm bảo là mọi trường hợp đều chữa được):

Mở file /etc/X11/xorg.conf với quyền root rồi thêm vào bên dưới dòng “Device Intel” một dòng sau:

Option "AccelMethod" "UXA"

Với Mandriva 2009.1, sau khi sửa như trên, khởi động lại máy thì hết lỗi nhòe cửa sổ. Ngoài ra để tăng tốc đồ họa có thể thêm các dòng sau:

Option "MigrationHeuristic" "greedy"

Option "DRI" "off"

(tắt DRI sẽ tắt các hiệu ứng màn hình).

Trước vẫn biết là có các trang báo lỗi như trên nhưng quên không xem. Có lỗi gì, xem trang đó trước tiên là hay nhất.

Hậu cung của nhà vua

(Nghỉ cuối tuần mà trời nóng quá, ngại ra đường nên ngồi nhà nổi máu văn chương)

Sau khi đã lập xong hậu cung và trở thành một cao thủ trong tình trường Linux, đức Hoàng thượng rùng mình nghĩ lại thời mình còn lẽo đẽo đi theo bà Hoàng hậu già Windows khó tính, bệnh tật virus đầy người, hơi một tý lại lăn ra ngất. Nói cho công bằng, không có bà dìu dắt, Người cũng chẳng có ngày hôm nay. Bây giờ, Người ngạc nhiên nhìn lũ trai trẻ trong vương quốc cam tâm cúc cung tận tụy với Windows mà không biết rằng cả một chân trời mới đang ở ngay bên cạnh. Bởi vậy, Người mới quyết định giới thiệu hậu cung của mình để làm gương.

Và cũng bởi Người bắt đầu thấy nhàm rồi, đang tiến quân đi chinh phục những vùng đất mới.

Nước nhỏ và nghèo nên hậu cung xây trên một miếng đất khá chật: notebook Dell INSPIRON 700m với CPU Pentium M 1.6MHz, 1.256 GB RAM, 40 GB HDD, 82852/855GM Intel Integrated Graphics Device.

Đất hẹp nên mỗi quý phi chỉ được có khoảng 4-5 GB ext3 partition và có một phòng sinh hoạt chung My Documents (ntfs partition, 10 GB) thừa hưởng lại của hoàng hậu Windows XP đã quá cố (xóa sạch rồi chỉ còn lại có My Documents) và cái sảnh swap partition 500 MB cũng dùng chung nốt. Menu list là cái danh sách quyết định cô nào được ân sủng vua vời sẽ nói sau.

Mandriva 2009.1 KDE

snapshot1

Cô này vốn xuất thân từ một dòng họ quý tộc lâu đời (Mandrake 1.0, 7/1998). Cái tính quý tộc thể hiện từ hình thức đến nội dung. Mọi sinh hoạt đều tuân thủ theo nề nếp gia phong của Control Center và System Settings rất đầy đủ, chặt chẽ, rõ ràng, có lớp có lang từng bước một (wizard). Riêng cái nề nếp đó chưa có cô nào theo kịp, kể cả openSUSE. Bảo cô làm việc gì cũng dễ dàng và ngoan ngoãn.

Bộ áo KDE 4.2 cô đang diện vốn là một bộ áo thời thượng nhất, đẹp nhất hiện nay nhưng cũng khó mặc nhất. Nhiều cô khác cũng cố khoác nó lên người nhưng rồi phải bỏ hoặc lụng thụng trông chẳng ra sao (Kubuntu chẳng hạn). Mandriva hòa nhập với KDE4 nhuần nhuyễn và có bản sắc riêng từ cái màn hình khởi động (splash) đến screensaver và nhiều tiểu tiết khác được may cắt riêng chứ không dùng cái có sẵn của KDE.

Nhìn sâu hơn thì cô thuộc loại quý tộc không nghèo nhưng cũng không phải là giầu. Các kho của hồi môn (repositories) khá lớn nhưng chưa bằng được một số cô khác. Và bố trí bên trong cũng hơi lộn xộn.

Tuy dòng dõi cao sang nhưng Mandriva nổi tiếng bình dân. Đặt vào đâu cô cũng hòa nhập rất tốt, không kén cá chọn canh gì (tương thích phần cứng tốt). Chỉ có đến đời 2009.1 này là thấy có chuyện. Cô sống rất thoải mái, nhanh nhạy với cái card màn hình Intel 82852/855GM, nhưng đưa sang chỗ khác có card  82G33/G31 cũng của Intel là chậm chạp hẳn. Đời trước 2009.0 thì lại không sao. Nguyên nhân có lẽ do cái driver Intel mới nhất hiện còn chưa ổn như đã nói trong một post trước.

Mandriva còn có một cô em diện áo GNOME, không xinh bằng chị nhưng nhìn thoáng hơn, nhanh nhẹn hơn vì bớt cầu kỳ. Hoa thơm đánh cả cụm nhưng đất chật đành cho hai cô ở chung một phòng (Install & Remove sofware -> Meta package -> GNOME -> task-gnome-minimal thế là xong). Thích ngắm cô nào thì ở cửa ra vào (màn hình Log in), nhấn vào hình quyển sổ bút chì đăng ký gặp cô đó. Hình cô em đây:

snapshot

Nếu để ý trên hình sẽ thấy, mặc dù cô em khoác áo GNOME nhưng vẫn dùng được đồ KDE của chị (Kontact) và ngược lại. Như thế hay hơn là chỉ có một thứ.

Đức vua hiện nay sủng ái cô chị Mandriva nhất. Hồi mới lập hậu cung, nghe thiên hạ đồn thổi người vời Ubuntu đầu tiên nhưng rồi chê vì hình thức màu mè xấu quá (hồi đó bản lĩnh người còn thấp chưa biết mua sắm trang điểm cho quý phi). Tiếp sau, có thời người sủng ái Kubuntu vì có nhiều nét hao hao giống hoàng hậu Windows. Bây giờ Mandriva với nền nếp gia phong dễ bảo lại xinh đẹp thì vượt lên không có gì là lạ.

Còn sau này thì chưa biết.

Ubuntu 9.04

snapshot1

Ubuntu là con gái nhà giàu mới nổi. Bố cô sau khi quăng một đống tiền đi du lịch vũ trụ về mới sinh ra cô. Tài kinh doanh, tổ chức của bố, tiền của bố và một chiến dịch lăng xê ngoạn mục đã làm cho Ubuntu nhanh chóng nổi như cồn. Chính nhà vua khi mới lập hậu cung cũng nghe đến tên Ubuntu đầu tiên. Đến bây giờ những kẻ chết mê chết mệt cô đông vô kể và đó chính là sức mạnh vô địch của cô. KDE 4.3 mới ra đời có mấy hôm đã có kẻ dâng lên cô rồi là một ví dụ. Đội ngũ fan người Việt cũng khá đông đảo và có một diễn đàn riêng (www.ubuntu-vn.org), cần gì lên đấy mà hỏi. Đó cũng là thế mạnh của Ubuntu ở cái xứ sở còn sơ khai về opensource này.

Kho của hồi môn (repositories) của Ubuntu thừa kế từ cụ bà Debian và bổ xung liên tục đứng vào hàng nhất nhì thiên hạ. Ngay kho Việt nam cũng được chăm sóc cẩn thận hơn các cô khác. Khi đức vua nổi máu phiêu lưu muốn thử cái mới, bao giờ người cũng dùng Ubuntu. Gia đình giàu có, đội ngũ fan đông đảo, thông tin tràn lan trên Internet, Ubuntu dễ dàng giải quyết được những việc mới đề ra.

Con gái nhà giàu mới lớn nên hơi khó bảo so với Mandriva. Có nhiều việc tề gia nội trợ bình thường, Mandriva có sẵn công cụ làm êm ru thì Ubuntu phải tìm kiếm cách làm, cài thêm công cụ,… hết hơi. Mặt khác vì là tầng lớp thượng lưu nên hay sợ điều tiếng, những cái gì không phải opensource là không dùng, báo hại người dùng phải tự bổ xung hơi bị mệt. Nhưng về lâu dài, tiềm năng của Ubuntu là vô địch và tương lai chắc còn sáng lạn.

Cô em Kubuntu khoác bộ cánh KDE4 lộng lẫy cũng được cho ở chung với chị (System -> Administration -> Synaptic Package Manage rồi tìm cài kubuntu-desktop). Nếu muốn diện bộ áo mới nhất KDE 4.3 (vừa may xong hôm 4/8/2009) thì theo hướng dẫn ở đây. hoặc ở đây. Mặc áo xong, ra khỏi phòng (log out) rồi trước khi vào lại, ở màn hình Log in nhấn vào Options -> Sessions để chọn. Kubuntu mặc áo KDE4 không được nhuyễn như Mandriva. Dung nhan Kubuntu 9.04 với KDE 4.3 như thế này:

snapshot2

Sống chung nên hai cô có thể dùng lẫn đồ của nhau. Ubuntu có thể dùng Kontact viết cho KDE và ngược lại Kubuntu cũng dùng được Brasero vốn viết cho GNOME. Thực ra cái đó không phải là mới. Thời các cụ tổ Red Hat (còn miễn phí) và Mandrake, bộ CD cài có 5-6 đĩa, cài xong là có cả KDE và GNOME cùng một đống phần mềm hỗn hợp. Bắt đầu từ Ubuntu nhằm mục đích phổ biến cho nhanh, mọi thứ được co gọn lại về bộ cài một đĩa CD mới có sự phân biệt như ngày nay.

Linux Mint 7

Screenshot

Trong 12 tháng qua (và kể cả trước đây), Linux Mint luôn đứng trong TOP 5 Người đẹp Linux Hoàn vũ. Về cô này đã có bài chi tiết trước đây. Khi cần giới thiệu người đẹp Linux với một người mới (bạn bè, người thân) đưa cô này ra là tiện nhất vì các lý do sau:

  • Mất độ 20 phút cài vào ổ cứng là xong. Hầu như không phải cài thêm gì (trừ bộ gõ tiếng Việt). Ubuntu và Mandriva phải cài bổ xung nhiều. Linux Mint con nhà bình dân không thượng lưu như Mandriva và Ubuntu nên không câu nệ tiểu tiết hay nói đúng hơn là không sợ điều tiếng. Cái gì cần là có không phân biệt cái đó có thuộc đẳng cấp mình (opensource) hay đẳng cấp khác (proprietary).
  • Giao diện nhẹ (GNOME) phù hợp với mọi cấu hình máy, thoáng, đẹp và menu dễ dùng.
  • Linux Mint cũng họ nhà Ubuntu. Do đó thừa hưởng được mọi ưu thế (và cả nhược điểm) của Ubuntu như đã nêu ở trên, nhất là phần hướng dẫn tiếng Việt cho người mới học. Mặt khác vì sinh sau nên Linux Mint có những phần bổ xung mà Ubuntu không có.

PCLinuxOS 2009.2

PCLinuxOS năm ngoái liên tục đứng trong TOP 5 Người đẹp Linux Hoàn vũ. Năm nay thì tụt hạng còn có thứ 7 nhưng vẫn còn có hạng. Con nhà nghèo (nhóm phát triển hoàn toàn là tình nguyện), bố mẹ lại lục đục nên cô chịu nhiều thiệt thòi. PCLinuxOS thuộc họ nhà Mandriva nên cũng thừa hưởng được nền nếp gia phong vốn có (Administration Center).

snapshot1

PCLinuxOS 2009.2 vẫn giữ nguyên bộ áo KDE3. KDE3 nhẹ hơn KDE4 dù không lộng lẫy bằng nhưng phát triển lâu nên khá chín, nhiều công cụ tiện ích bổ xung và chạy cũng nhanh hơn. PCLinuxOS cũng như Linux Mint có tính thực dụng cao nên cái gì cần là có và có khá nhiều tiện ích.

PCLinuxOS có một bộ cánh GNOME khá độc đáo như thế này (cái theme này chắc cài được lên các bản GNOME khác):

Screenshot

Tuy nhiên hai cô này hơi khó ghép ở chung với nhau.

Một trong những điểm chơi trội gần đây của PCLinuxOS là bản Firefox 3.5 vừa ra đời chỉ ít lâu sau đã được chính thức đươưa vào kho và tự động upgrade được. Các cô khác còn đang ngắm nghía, thử nên nếu muốn phải tự cài riêng từ ngoài vào.

Thực tình trước đây openSUSE, Fedora, Debian, Mepis, DreamLinux, Knopix,… và thậm chí cả openSolaris cũng đã lần luợt đi qua hậu cung này. openSUSE dung nhan không có gì đặc biệt, nề nếp gia phong rất bài bản nhưng lại quá rắc rối khắt khe, Fedora và Debian dòng dõi lâu đời nhưng không có gì nổi bật đối với người dùng bình thường, Solaris là một nhánh trực hệ của cụ cố Unix, khó tính khó nết không chịu sống chung với các cô khác nên đều bị loại. Bởi vì mục đích lập hậu cung là thực dụng, không phải nghiên cứu.

Những lúc vui đùa với đám mỹ nữ này, coi khinh các loại virus, nghĩ đến những kẻ đang mê muội bám đuôi bà lão Window mà thấy thương và ái ngại.

(còn tiếp, nếu trời còn nóng).

Ubuntu 9.04 và card màn hình Intel

2 May 2009, 11:31

Ubuntu 9.04 and Intel graphics

by Dr. Oliver Diedrich

Lược dịch Zxc232

Đối với người dùng Linux không cần đến tốc độ 3D cực cao, card màn hình Intel là giải pháp ưu thế, ít nhất là vì công ty phát triển driver dưới dạng nguồn mở trong khuôn khổ dự án X.org. Tuy nhiên hiện nay, việc phát triển các driver card màn hình Intel đang ở tình trạng lộn xộn (do chưa theo kịp tiến bộ công nghệ -ND)

Trong release note của Ubuntu 9.04 công nhận rằng driver Intel bị giảm tốc độ (“performance regressions”) thậm chí một số loại chíp card màn hình Intel còn làm cho X Server bị treo. Cách khắc phục tạm (workaround) xem tại đây.

Vấn đề trên có nhiều triệu chứng khác nhau. Một số người dùng Ubuntu báo cáo rằng video Flash chạy ở chế độ toàn màn hình bị giật, game 3D chạy rất chậm, nếu kích hoạt các hiệu ứng 3D thì màn hình khó sử dụng và trong trường hợp xấu nhất, khi di chuyển cửa sổ chậm đến mức máy tính hầu như treo. Chúng tôi cũng quan sát thấy một số hiệu ứng đó khi test các card màn hình Intel.

Các driver đồ họa Intel hiện vẫn đang được phát triển. Trong nhân Linux version 2.6.28 (dùng trong Ubuntu), trình quản lý thực hiện đồ họa (Graphics Execution Manager – GEM) được chuyển vào trong nhân. Điều đó nghe có vẻ đơn giản và tăng hiệu quả quản lý bộ nhớ màn hình của X Server nhưng yêu cầu driver đồ họa phải thay đổi.

Trong phiên bản nhân Linux mới nhất version 2.6.29 (Mandriva 2009.1 dùng nhân này -ND), chức năng điều khiển card màn hình Intel được chuyển giao cho kernel (kernel-based mode setting – KMS). Thay cho X Server, nhân Linux sẽ thiết lập cấu hình đồ họa, tạo nên hiệu quả lớn với driver đồ họa. Theo nhà phát triển Keith Packard của Intel, khoảng một nửa mã driver đồ họa Intel chịu trách nhiệm thiết lập cấu hình.

Ngoài ra, X.org cũng đưa vào một hệ thống gia tốc 3D mới Direct Rendering Infrastructure 2 (DRI2)  thay cho các hệ thống gia tốc 3D cũ. Intel cũng đang phát triển một hệ thống gia tốc 2D mới có tên là UXA tận dụng các ưu điểm của GEM. UXA sẽ thay cho EXA và kiến trúc XFree86 cũ (XXA).

Như Packard đã tính toán một cách đầy hy vọng, GEM hay không GEM (điều khiển đồ họa bằng kernel hay bằng driver), bốn cách gia tốc 2D khác nhau (không gia tốc, XAA, EXA, UXA) và ba cách gia tốc 3D (không gia tốc, DRI, DRI2) tạo nên 48 tổ hợp lý thuyết mà driver cần đáp ứng. Ngoài ra còn một khó khăn khác: driver cần phải kiểm soát được một dải rộng các bộ xử lý đồ họa của Intel và các version khác nhau của cùng một bộ xử lý. Tất cả những điều đó làm cho việc test thử một cách có hệ thống gần như là điều không thể.

Mục đích cuối cùng của tất cả các phát triển trên là dùng GEM, kernel đặt cấu hình đồ hoạ, DRI2 và UXA để giảm nhẹ vai trò của driver và tăng tốc đồ hoạ. Các vấn đề nảy sinh là ở quá trình chuyển tiếp công nghệ: kernel trước đời 2.6.29 (không có KMS hoặc không có cả KMS và GEM), vẫn còn đang được dùng trong hầu hết các bản Linux hiện tại.

Ubuntu 9.04 rơi vào đúng giai đoạn chuyển tiếp sống còn đó. GEM có, KMS không, EXA và DRI bị disable, UXA và DRI2 vẫn còn đang loạng choạng và hình như không có ai biết rõ tổ hợp nào trong các công nghệ nói trên chạy nhanh nhất và ổn định nhất với bộ xử lý màn hình nào. Danh sách dài những kinh nghiệm mâu thuẫn nhau có trong Ubuntu’s UXA testing cho thấy không có nhiều hy vọng là sẽ có câu trả lời sớm. Vì vậy mà lời khuyên trong Ubuntu release notes khá mơ hồ: “Một số người dùng thấy có thể tăng tốc độ bằng cách…” hoặc “cải thiện được đáng kể tốc độ trong một số trường hợp…” hoặc “có thể không may gặp những vấn đề nghiêm trọng về ổn định hệ thống…”. Người dùng gặp những vấn đề đó không có cách nào khác ngoài cách thử các lời khuyên khác nhau và hy vọng sẽ tăng được tốc độ màn hình mà không có hiệu ứng phụ quá đáng nào. Cũng có cả một mục Hướng dẫn sửa lỗi đưa ra vài thủ thuật.

Điều đáng buồn là sự cố trên lại xảy ra với Intel. Trong nhiều năm ròng, người dùng Linux không cần tốc độ đồ họa 3D cao đã được khuyên dùng card màn hình Intel vì Intel là một công ty mẫu mực đã phát triển các driver màn hình nguồn mở cho Linux trong khuôn khổ dự án X.org. Hai nhà sản xuất card màn hình lớn khác là Nvidia và AMD chỉ cung cấp driver Linux nguồn đóng.

Thêm vào đó, từ khi giới thiệu nền tảng Centrino đầu năm 2003, Intel đã không ngừng tăng thị phần trong thị trường card màn hình laptop, gần một nửa số laptop hiện nay dùng card màn hình có bộ vi xử lý Intel. Với máy PC để bàn có card màn hình Intel onboard, trong trường hợp cần bạn có thể cắm thêm card màn hình rời AMD hoặc NVIDIA, nhưng với laptop thì bạn phải chung sống với card màn hình onboard.

Hy vọng duy nhất hiện nay là các nhà phát triển phần mềm nhanh chóng sửa được các vấn đề trên và Ubuntu sẽ được cập nhật khi đã sửa xong. Nếu không tiếng tăm của Ubuntu có thể bị ảnh hưởng.

Lời người dịch: đúng là gần đây khi thử K/Ubuntu 9.04, Mandriva 2009.1, có gặp một số trục trặc về màn hình. Té ra là do  driver màn hình Intel chưa theo kịp tiến bộ công nghệ. Vậy tốt nhất với laptop là cứ dùng các phiên bản Linux cũ, với PC thì tùy. Tôi dùng Ubuntu 9.04 cho các ứng dụng văn phòng (card onboard của Intel) thì không thấy có vấn đề gì.

Mandriva 2009.1 (Spring)

Ngày 29/4/2009, Mandriva chính thức công bố phiên bản Mandriva 2009.1 (Mandriva 2009 Spring) cũng theo chu kỳ 6 tháng một bản. Các đặc điểm mới chính (so với bản 2009.0):

1- Cập nhật các gói phần mềm mới nhất: KDE 4.2.2, GNOME 2.26, X.Org Server 1.6, Linux kernel 2.6.29, Xfce 4.6, OpenOffice 3.0.1 (để so sánh với Ubuntu 9.04: KDE 4.2, GNOME 2.26, X.Org Server 1.6, Linux kernel 2.6.28, Xfce 4.6, OpenOffice 3.0)

2- Có thêm bản dùng môi trường đồ họa nhẹ và nhanh LXDE (Lightweight X11 Desktop Environment) hỗ trợ các netbook của Acer, Asus, Classmate PC, MSI, Lenovo và Samsung (chi tiết). Màn hình LXDE như sau:

mandriva_spring2009_lxde3- Thiết kế mới công cụ quản trị an ninh (msec), quản lý mạng. Thời gian khởi động nhanh hơn 25%. Dùng Syslinux 3.75 gồm một công cụ phát hiện phần cứng mới (Hardware Detection Tool) .

Chi tiết những điểm mới xem ở đây. Một số lỗi đã biết nêu ở đây.

Phần trên là theo quảng cáo của Mandriva. Căn cứ vào quảng cáo thì phiên bản này chủ yếu là phiên bản bảo trì (maintenance version): cập nhật các phần mềm mới, sửa chữa đôi chút, không có gì thay đổi lớn. Vì vậy các ưu điểm mới sẽ tập trung vào phần mềm. Ví dụ KDE 4.2.2 nhuyễn hơn và có một số tính năng mới so với KDE 4.0, OpenOffice 3.0.1 cũng có một số cải tiến so với 3.0 v.v…

Dưới đây liệt kê một số nhận xét ban đầu:

Mandriva không nổi tiếng như Ubuntu. Có lẽ vì vậy mà đến hôm nay vẫn chưa được cập nhật vào site của FPT. Tôi tải về từ một site của Séc, khá nhanh.

Bản Mandriva 2009.1 Gnome cài tốt trên notebook Dell Inspiron 700m (khá cũ và yếu: Pentium M 1.6GHz, 485 MB RAM). Tuy nhiên, khi cắm thêm màn hình LCD ngoài, không khởi động lại được. Phải khởi động xong mới cắm màn hình ngoài và màn hình này cũng chỉ dặt được độ phân giải 1024×768 (đúng ra 1280×1024). Lỗi này giống Ubuntu, nhưng Ubuntu khá hơn: khi khởi động còn tự nhận màn hình ngoài được.

Trên bản Gnome này cũng cài được scim-unikey-0.2 nhưng cách cài hơi phức tạp hơn Mandriva 2009.0.

Font chữ hiển thị trên màn hình hơi gai, không đẹp như cùng font trên Mandriva 2009.0 KDE4 và Ubuntu 9.04.

Bản Mandriva 2009.1 KDE không khởi động được trên máy Dell nói trên và trên một máy để bản khác. Vì vậy chưa thể nhận xét được.

Tóm lại có vẻ như cái Hardware Detection Tool mới có vấn đề. Xưa nay, Mandriva vẫn có tiếng là tương thích phần cứng tốt và qua sử dụng cũng thấy vậy. Đây là lần đầu có những trục trặc như trên.

Có điểm này cũng cần lưu ý: nếu dùng bản One (một đĩa CD) thì do không đủ chỗ trên đĩa, sau khi cài xong, mở Control Center nhấn vào Setup printer sẽ phải tải về khoảng 280MB phần mềm cần thiết cho in ấn nữa.

Add kho phần mềm của FPT cho Mandriva 2009.0

Kho phần mềm của FPT hiện đã có cho Mandriva 2009.0 (thanks FPT!). Không rõ kho này có đăng ký chính thức vào mirror list của Mandriva không nên tốt nhất là add bằng tay vào để dùng (tốc độ rất cao tới 1000 KB/s trong khi các kho cũ chỉ đạt 80-100 KB/s). Cách add như sau:

1- Nhấn vào nút Menu trên panel rồi nhấn tiếp Install & Remove Software để mở màn hình Software Management.

2- Trong màn hình Software Management, nhấn vào menu Options -> Media Manager

3- Trong màn hình Configure Media, nhấn vào menu File -> Add a custom medium, màn hình sau xuất hiện:

fptmain4- Trong màn hình trên:

– Mục Type of medium chọn là HTTP server

– Mục Medium name: gõ vào FPT main

– Mục URL: http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/mandriva/official/current/i586/media/main/release/  (copy rồi paste)

– Các mục Create media … để nguyên không chọn. Đánh dấu chọn mục  Tag this medium …

– Nhấn OK

5- Lặp lại bước 3 và 4 với các kho phần mềm sau:

FPT main backports

http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/mandriva/official/current/i586/media/main/backports

FPT main updates

http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/mandriva/official/current/i586/media/main/updates

FPT non-free

http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/mandriva/official/current/i586/media/non-free/release

FPT non-free  backports

http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/mandriva/official/current/i586/media/non-free/backports

FPT non-free  updates

http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/mandriva/official/current/i586/media/non-free/updates

(copy các URL ở đây rồi paste vào màn hình add cho nhanh)

6- Sau khi add xong, quay lại màn hình Configure Media sẽ thấy các kho FPT như sau:

fptmain1Có thể bỏ chọn các kho Mirror list ở trên rồi nhấn vào menu File -> Update để cập nhật các kho vừa add.

Chưa dùng nhiều nên không rõ chất lượng thế nào nhưng tốc độ download thì nhanh hơn hẳn.

Điểm qua vài hệ Linux gần đây

Kubuntu 8.04.2

Kubuntu 8.04.2 là bản cập nhật của 8.04 KDE3, với lời thừa nhận rằng:” bản Kubuntu 8.10 KDE4 hiện chưa thích hợp cho mọi người dùng”. Nhóm Kubuntu có vẻ trầy trật với KDE4, ngay bản Jaunty sắp tới cũng có một phiên bản remix dùng KDE3.

Bản này cập nhật hơn 200 mục, nhẹ, ổn định, gõ tiếng Việt được bằng x-unikey-0.9.2. Không có gì mới hay nổi bật so với 8.04.

Update 28/4/09: bộ gõ unikey có một nhược điểm là khi gõ trên web (blog, gmail, …) không gõ nhanh được.

PCLinuxOS 2009

Sau gần hai năm (PCLinuxOS 2007 ra tháng 5/2007) đến nay PCLinuxOS mới ra được phiên bản mới: PCLinuxOS 2009.1 KDE3 và GNOME. Một hiện tượng đáng ngạc nhiên là mặc dù cập nhật chậm như thế nhưng trong hai năm qua, PCLinuxOS luôn nằm trong TOP10 của site DistroWatch, chứng tỏ sự quan tâm đến nó không giảm.

Trong thời gian đó, nội bộ nhóm phát triển có nhiều mâu thuẫn. Một bộ phận bỏ nhóm đi nơi khác. Như đã nhận xét trong một post trước, mô hình kinh doanh yếu của PCLinuxOS đã thể hiện rõ trong thời gian vừa qua.

Hai bản PCLinuxOS KDE3 và GNOME 2009.1 vẫn giữ nguyên được các ưu điểm cũ: thừa kế tính năng dễ dùng của Mandriva, cài sẵn các gói non-free và các phần mềm ứng dụng tương đối đầy đủ (trừ bản GNOME không có OpenOffice!), giao diện độc đáo và đẹp. Gõ tiếng Việt trên bản KDE3 vẫn dùng được x-unikey-0.9.2 ổn định không lỗi như x-unikey-1.0.4. Gõ tiếng Việt trên bản GNOME dùng scim với file vi-telex-locdt.mim.

PCLinuxOS chú ý đến những tiểu tiết sử dụng của người dùng Windows. Ví dụ trong bản KDE, nhấn phím phải chuột vào một thư mục có lệnh zip thư mục đó.

Tóm lại nếu muốn có một bản Linux đẹp để dùng (không phải để nghịch), cài đặt đơn giản thì nên chọn PCLinuxOS.

Nhược điểm lớn nhất là hai bản này chạy không thoát và nhanh như phiên bản cũ, nhất là trên các máy cấu hình thấp. Mô hình kinh doanh yếu tạo cảm giác không yên tâm.

openSUSE 11.1 (GNOME)

SUSE là một cây đại thụ trong làng Linux (bắt đầu năm 1996). Công ty hiện đang kinh doanh SUSE là Novell, một trong hai công ty Linux thành công nhất cho đến nay (công ty kia là RedHat). Chỉ đến năm 2005, theo mô hình Fedora của RedHat, Novell mới lập dự án openSUSE cho cộng đồng nguồn mở rộng rãi tham gia. Bản openSUSE nguồn mở miễn phí, luôn tích hợp các công nghệ và phần mềm mới nhất để làm con chuột thí nghiệm cho Novell lấy ý kiến từ người dùng, rút kinh nghiệm xây dựng bản SUSE Enterprise Linux bán cho các khách hàng doanh nghiệp.

Quá trình cài đặt và cấu hình openSUSE phức tạp và hoành tráng hơn các bản Linux phổ biến khác nhiều. Trong mỗi bước thực hiện, có nhiều những options, những thông số, những khái niệm để lựa chọn. Thực ra, những cái đó trong các bản Linux khác cũng có nhưng thường được ẩn đi theo những lựa chọn mặc định.Vì vậy nếu định tìm hiểu hơi sâu về Linux dùng openSUSE rất có ích.

Toàn bộ quá trình cài đặt và cấu hình dựa trên một công cụ trung tâm là YaST (Yes another Setup Tool). YaST có cả hai loại giao diện: giao diện đồ hoạ trên nền KDE hoặc Gnome và giao diện đơn giản chạy trên nền terminal (kiểu như giao diện các chương trình chạy trên nền DOS).

Control Center của openSUSE có lẽ là phong phú đầy đủ nhất trong các bản Linux. Trong đó có cả những tính năng mà chỉ do quan hệ với Microsoft mới có như Windows Domain Member. Dễ dùng thì không bằng Mandriva vì các mục cấu hình không ở dạng wizard như Mandriva nhưng số lượng mục cấu hình nhiều hơn (Ví dụ có các mục /etc/sysconfig Editor, Kernel Settings chắc không mấy user thường dám thử) và chi tiết hơn (ví dụ các Network Services).

Trình quản lý phần mềm (Software Manager) có vẻ chặt chẽ bài bản nhưng cũng phức tạp, rắc rối hơn các bản Linux khác. Mỗi lần chạy, nó đều tự động kết nối và kiểm tra lại danh sách các gói phần mềm hiện có trong các kho, hơi lâu nhưng cẩn thận (các bản Linux khác, phần này thường không tự động). Khi có xung đột, nó đưa ra ba bốn lựa chọn chắc sẽ làm cho user thường hoa mắt. Đặc biệt nó kiểm tra rất kỹ chữ ký số của các gói phần mềm, thấy lạ là hỏi. Quá trình cài đặt hiện lên màn hình thành bốn năm bước, cho cảm giác rất cẩn thận.openSUSE dùng dạng đóng gói file cài đặt là rpm.

Khi update phần mềm, các file tải về đều có tên delta RPM. Theo suy đoán thì có lẽ đây là các bản vá (patch) vào các gói đã có. Nếu đúng vậy thì dung lượng tải về sẽ nhỏ hơn là tải toàn bộ gói mới như phần lớn các bản Linux hiện đang dùng.

Tuy thế cũng vẫn có những lỗi khó hiểu. Khi lần đầu tìm cài thêm FreeFont, ta phải cài thêm cả đống phần mềm khác mà không hiểu tại sao. Chắc là trong cách thiết lập dependencies có lỗi. Mandriva cũng có lỗi kiểu này: thỉnh thoảng sau khi gỡ một phần mềm nào đó, nó hiện lên thông báo một danh sách dài các phần mềm không cần nữa và bảo ta dùng urpme –auto-orphans gỡ đi, nhưng nếu nghe theo là đi luôn, phải cài lại từ đầu. Về quản lý phần mềm, đến nay có lẽ Kubuntu với trình Adept Manager vẫn là hay và tiện nhất.

Khi định chạy một file mp3 lần đầu tiên trong trình duyệt Firefox, openSUSE sẽ dẫn người dùng qua 5-6 màn hình với những lời giải thích rất kỹ lưỡng về codecs để cuối cùng yêu cầu cài gói codecs-gnome (tương tự như ubuntu-restricted-extras). Dân kỹ thuật ham hiểu biết sẽ thích nhưng người dùng thường thì choáng váng. Tuy vậy, chỉ có những công ty kinh doanh lớn, lâu đời mới làm tỷ mỷ được như vậy.

Tiếng Việt trong bản Gnome gõ được bằng scim (cài gói m17n rồi add thêm file vi-telex-locdt.mim vào thư mục /usr/share/m17n). Tuy nhiên thỉnh thoảng lại bị mất tiếng Việt phải Ctrl+Shift bật lại tiếng Việt mới gõ tiếp được.

Giao diện của openSUSE chân phương, không màu mè. Nhược điểm lớn nhất là menu chính (Computer). Menu này theo kiểu kick-off mới nếu không quen hơi khó dùng và phải nhấn chuột nhiều lần mới tới được chỗ cần. Một số bản Linux khác cho phép chuyển về kiểu menu cũ nhưng openSUSE thì không. Phải remove menu đó đi rồi chọn add  Traditional Main Menu vào panel.

Các phần mềm ứng dụng cũng tương tự như các bản Gnome khác. Riêng OpenOffice là bản riêng của Novell dựa theo bản OpenOffice nguồn mở của Sun, hình như hỗ trợ tốt VBA macro và các dịnh dạng file của MS Office 2007 hơn bản gốc.

Sau khi cài openSUSE lên một máy notebook Dell Inspiron 700m (cấu hình khá thấp) chạy vẫn tốt. Nhưng sau lần update đầu tiên, không khởi động được vào màn hình đồ hoạ nữa.

Cũng một lần dùng Boot Loader của Control Center để sửa Boot Menu, khi khởi động lại, máy báo “Error No Operating System” tức là MBR bị lỗi. May mà dùng cách trong post “Sửa một số lỗi Linux 1” cứu lại được.

Những nhận xét trên đều dựa trên kinh nghiệm mới dùng openSUSE lần đầu được hai ba ngày. Nếu đã tương đối thạo Linux thì cũng nên thử cho biết. Nếu mới làm quen thì không nên.

Vài vấn đề khi sử dụng Mandriva Free 2009.0

Mở file WinWord (file doc):

Khi mở các file WinWord (file doc) bằng OpenOffice, thỉnh thoảng có gặp vấn đề sau:

Trong Mandriva 2008.1 + OpenOffice 2.4 và Mandriva 2009.0 + OpenOffice 3.0, có những file WinWord mở ra bị read-only, không sửa được. Format toolbar bị mờ và khi định sửa sẽ xuất hiện màn hình thông báo:

read-onlyTuy nhiên, permission của file vẫn cho phép write và vì vậy trên đỉnh màn hình, tên file không đi kèm từ read-only như những file không có permission write. Mở kiểm tra lại file trong Windows + WinWord, khi nhấn vào menu Tools thì trong menu xổ xuống có hàng lệnh Unprotect Document, tức là trước đó khi soạn trong Word file đã được đặt chế độ protect. Nhấn vào đó để gỡ bỏ chế độ protect (không thấy hỏi password) rồi save lại thì sang Mandriva mở và soạn thảo bình thường.

Tuy nhiên, cũng file trên khi chưa unprotect vẫn mở soạn thảo được trong Ubuntu 8.10, Kubuntu 8.04.2 và OpenSUSE 11.1 (+ OpenOffice 2.4 và 3.0). Tức là ba hệ sau vượt qua được chế độ Protect của Word, còn Mandriva thì không. Theo đúng nghĩa thì như vậy, Mandriva tương thích tốt hơn với Windows + Word. Sơ bộ như vậy, vấn đề protect file sẽ trình bày kỹ hơn trong một post sau.

Điều nói trên cũng chỉ đúng với Mandriva Free (2 đĩa CD), bản Mandriva One Live CD (1 CD) cũng vượt qua được Protect.

Treo bàn phím:

Lỗi này xảy ra khá nhiều với Mandriva Free 2009.0. Sau một thời gian sử dụng, bàn phím bị treo, không gõ được. Khởi động lại máy hoặc thay bàn phím khác cũng không được. Cách chữa nhanh nhất hiện nay là xoá thư mục /home/<username>/.kde4/config (chú ý kde4 là thư mục ẩn có dấu chấm đằng trước). Sau đó phải config lại KMail.

Tuy nhiên, điều khó là lỗi này không phải mọi máy đều bị nhưng tỷ lệ bị cũng khoảng 15-20% số máy. Kubuntu hầu như không bị lỗi này.

SCIM-UNIKEY trên Mandriva 2009 và Linux Mint 6

UDATE: tin buồn. scim-unikey-0.1.2a có hai lỗi nặng:

  • Xung đột với OpenOffice, đang gõ thì OpenOffice bị đóng bất thình lình (crash).
  • Trong OpenOffice Calc, trong một ô khi đặt con trỏ gõ chen vào giữa hoặc đầu một hàng ký tự đã có thì tiếng Việt nhảy lung tung (gõ chen ở trên thanh nhập liệu thì được).

Bản scim-unikey-0.2 đang sửa khắc phục được lỗi thứ nhất nhưng chưa khắc phục được lỗi thứ hai. Vẫn bị thỉnh thoảng đang gõ thì mất tiếng Việt (lỗi này nguyên bản của x-unikey-1.0.4).

Một món quà mừng Tết tuyệt vời đối với cá nhân tôi: cuối cùng đã có thể gõ tiếng Việt trên Mandriva ở mọi chỗ bằng scim-unikey! Cám ơn các tác giả!

Cách đây ít lâu, tôi đã thử scim-unikey cài bằng tay trên Mandriva 2009 KDE thấy gõ tốt trong các ứng dụng nhưng hoàn toàn không gõ được trên web.

Nay thử lại theo bản cài đặt mới nhất scim-unikey-0.1.2a-1.i386.rpm tải về tại đây với cách làm như sau:

1- Mở Control Center – System – Manage localization for your system. Khi đến bước chọn bộ gõ thì chọn SCIM-BRIDGE.

2- Tải file scim-unikey-0.1.2a-1.i386.rpm nói trên về cài.

3-  Nhấn vào Menu – Run Command rồi chạy scim lần đầu. Nhấn chuột phải vào biểu tượng scim trên panel, chọn SCIM Setup. Trong mục IMEngine – Global Setup – Vietnamese chỉ chọn riêng cách gõ Telex – Unicode.

4- Khởi động lại máy. Xong.

Đã thử gõ trong Mandriva 2009 cả KDE lẫn GNOME: OpenOffice, KMail, Evolution, Google Desktop Search, các ứng dụng web như Gmail, GDocs, Zoho Mail, Zoho Writer, … đều tốt.

Vẫn còn hai lỗi nhỏ: 1/ thỉnh thoảng mất tiếng Việt phải Ctrl+Space hai lần bật tắt tiếng Việt mới gõ tiếp được (lỗi của bản x-unikey-1.0.4), 2/ phải tắt Word Completion trong AutoCorrect.

Trước đây vẫn cố gắng dùng scim với vi-telex-locdt.mim, nhưng cái phím kết thúc từ khá khó chịu. Nay thì thoát.

Đã thử scim-unikey trên Linux Mint 6. Gõ tốt ( nhớ chọn Menu-Administration-Language support-Enable support to enter complex characters).

Những ai yêu Ubuntu nên thử Linux Mint. Linux Mint dựng trên nền Ubuntu, có Control Center gần sánh được với Control Center của Mandriva (thiếu các wizards) và một số thứ bổ xung khá hay. Không trách nó luôn nằm trong TOP 10 của DistroWatch.

CAD trong Mandriva 2009 (update 14/2/09)

Trên blog này đã có hai post nói về các phần mềm vẽ thiết kế CAD trong Kubuntu 7.10 (nhấn vào tag cad để xem). Về cơ bản, các nhận xét trong hai post đó cũng đúng cho Mandriva 2009:

1- Xem bản vẽ CAD (dạng file dwg, dxf,…): có thể dùng VariCAD Viewer miễn phí tải về từ đây. Chương trình này xem file CAD cũng giống như dùng Adobe Reader xem file pdf: chỉ xem, không sửa được. Các chức năng zoom dùng phím Ctrl kết hợp với chuột thì tiện hơn. Nhược điểm: chưa xem được các file 3D phức tạp. Thời gian mở file lâu.

2- Vẽ bản vẽ CAD 2D đơn giản: dùng Qcad nguồn mở miễn phí có sẵn trong kho phần mềm của Mandriva. Nhược điểm: chỉ tương thích với dạng file dxf.

3- Các phần mềm CAD khác: có khá nhiều công ty với nhiều sản phẩm CAD tập hợp trong tổ chức IntelliCAD. Tổ chức IntellịCAD chịu trách nhiệm nghiên cứu xây dựng phần mềm nền tương thích với định dạng file DWG của AutoCAD, các công ty thành viên tự xây dựng và bán sản phẩm của mình trên nền đó.

Tôi đã thử progeCAD 2008 của progeSOFT trên Mandriva 2009. Đây là bản CAD chạy trên Windows, vì vậy trước tiên phải cài wine từ kho phần mềm của Mandriva. Tải file exe của progeCAD tại đây. Sau khi tải về nhấn vào file, quá trình cài đặt sẽ diễn ra hệt như trong Windows. Có vài báo lỗi nhỏ nhưng cứ bỏ qua, chương trình vẫn chạy.

Nhìn sơ bộ, progeCAD có giao diện khá giống AutoCAD. Mở các file DWG 2D và 3D phức tạp khá nhanh và hiển thị tốt. Hỗ trợ các phiên bản DWG từ 2.5 đến 2008. Bản so sánh tính năng xem tại đây, theo bảng này thì xấp xỉ AutoCAD và có cả những tính năng mà AutoCAD không có (ví dụ convert file pdf thành dwg). Đánh giá sâu hơn về tính năng xin dành cho các nhà thiết kế chuyên nghiệp.

Còn một phương án nữa để chạy progeCAD (và các phần mềm Windows nói chung) trên Linux là dùng phần mềm máy ảo. Trước tiên cài phần mềm máy ảo, tiếp theo cài Windows lên máy ảo và cuối cùng cài progeCAD lên Windows. Chi tiết xem thêm tại đây.

Bản progeCAD Professional 2009 trên mạng có giá 400USD (so với AutoCAD 2009 4000USD!). Bản progeCAD Professional 2008 có một công ty Việt nam chào bán với giá 375USD tại đây. Bản 2009 chưa thử cài lên Mandriva.

Đặc biệt, progeSOFT có bản progeCAD 2008 Smart miễn phí dành cho mục đích cá nhân, không thương mại là một công việc từ thiện ủng hộ tổ chức “Bác sỹ không biên giới” để giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh tại Dafur, Sudan.

UPDATE (14/2/09): progeCAD chạy khá tốt trên Mandriva, có thể dùng thay AutoCAD cho những bản vẽ thông thường được. Nhược điểm: chưa hiển thị được một số font Windows.

Nén và giải nén trong Mandriva 2009

Trong Linux, nhiều file được đóng gói thành một file sẽ có đuôi file là tar, hai dạng file nén phổ biến nhất là gzbz2. Đóng gói nhiều file rồi nén thì file đó có đuôi là tar.gz, tar.bz2 hoặc tgz, tbz2.

Ngoài ra các dạng file nén khác như 7z, ace, rar, zip cũng được hỗ trợ mặc dù trừ 7z là nguồn mở, các dạng file khác nguồn đóng. Riêng rar chỉ giải nén được mà không nén được.

Muốn biết dạng nào đã được cài, mở Package Manager, kiểm tra xem các file sau đã cài chưa: gzip, bzip2, p7zip, zip, unzip, unrar.Sau khi đã cài các file đó thì chương trình nén và giải nén như Ark (KDE) hoặc File Roller (GNOME) sẽ nén và giải nén được các file tương ứng.

Để tiện hơn, trong Mandriva KDE có thể bổ xung các menu vào service menu của Dolphin như sau (service menu là menu xuất hiện khi nhấn phím phải chuột vào thư mục hoặc file):

  • Vào site này, tải file ExtractAndCompress_v1.4.3.tar.gz về. Giải nén file đó thành thư mục ExtractAndCompress_v1.4.3.
  • Mở Install & Remove Software  xem kdialog đã được cài chưa. Nếu chưa thì chọn cài.
  • Trong Dolphin, mở thư mục trên, nhấn chuột vào file install.sh. Một màn hình xuất hiện cho chọn hoặc là install kiểu local (chỉ cho user hiện tại) hoặc kiểu system wide (cho mọi user, cần có password của root). Tuỳ chọn rồi OK.
  • Đóng Dolphin lại rồi mở ra. Nhấn phím phải chuột vào một thư mục hoặc file định nén, trong menu Compress sẽ có các menu con mới để chọn.

Trên site http://www.kde-apps.org, search từ “service menu” còn rất nhiều thứ khác có thể cài tương tự như trên.

So sánh công cụ cấu hình của Mandriva và Ubuntu (update 7/1/09)

Một trong những điểm mạnh và hay nhất của Mandriva là các công cụ cấu hình hệ thống nằm trong Mandriva Control Center (MCC). Hầu hết các mục cấu hình trong MCC đều là dạng wizard (hướng dẫn từng bước qua các màn hình). Tối thiểu cũng là giao diện đồ họa, không phải dùng lệnh hoặc sửa trực tiếp vào các file cấu hình. Do đó dễ sửa, dễ làm và không bị nhầm lẫn.

Các mục dưới đây ghi Ubuntu “không có” không có nghĩa là nó không làm được. Nhưng để làm các mục đó trong Ubuntu đầu tiên phải đi tìm hiểu cách làm trên các diễn đàn, sau đó làm bằng tay và nhiều trường hợp phải dùng dòng lệnh, sửa file config khá phức tạp.

CÁC CÔNG CỤ CẤU HÌNH HỆ THỐNG CỦA MANDRIVA 2009 VÀ SO SÁNH VỚI UBUNTU (bản GNOME).

I.Bố trí tập trung

Tất cả các bản Mandriva GNOME, KDE, IceWm đều có hai nơi cấu hình giống nhau:

  • Mandriva Control Center (MCC, tên khác là Configure Your Computer) dùng để cấu hình chung cho hệ thống (chung cho mọi user). Nhập mật khẩu root một lần là vào được.

Trong MCC còn một option rất hay là Display Log. Khi cấu hình, trong màn hình Log sẽ cho biết phần mềm nào chạy, kết quả, lỗi.

  • Configure Your Desktop: thiết lập các cấu hình riêng theo ý thích của từng user.

Ubuntu tập hợp các công cụ cấu hình thành hai nhóm menu: Administration và Preferences.

Dưới đây là các công cụ nằm trong Mandriva Control Center.

II. Quản lý phần mềm (Software Management).

II.1 Quản lý các kho phần mềm (Configure media sources for install and update)

Lần đầu tiên có wizard hướng dẫn khai báo tự động các kho phần mềm trên Internet. Sau đó có màn hình quản lý để Enable, Disable, Add hoặc Remove các kho (kể cả đĩa CD, ổ cứng).

Có option chọn một trong ba chương trình download: curl, wget, aria2.

Các kho trên Internet được tổ chức dưới dạng Mirror list tập trung, không tách thành các địa chỉ kho riêng biệt như Mandriva 2008 hoặc Ubuntu. Chương trình aria2 có thể (trên lý thuyết): chia file thành nhiều phần, tải đồng thời từ nhiều kho; từ một kho, tải nhiều file đồng thời; khi một kho tắc, tự động chuyển sang kho khác; tiếp tục download khi kết nối bị ngắt sau đó nối lại. Tuy nhiên trên thực tế, hiện tại aria2 có vẻ làm việc không tốt bằng wget.

Trên máy chủ của FPT (http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/) cũng có thư mục Mandriva nhưng đã lâu không cập nhật, phiên bản trên đó quá cũ.

Ubuntu: khi cài lần đầu sẽ tự nhận các kho dành cho Việt nam. Tổ chức kho theo địa chỉ máy chủ, nhưng có công cụ test để tìm kho nhanh nhất. Không có khả năng chọn chương trình download, do đó không biết có các tính năng như aria2 không.

Ưu điểm lớn nhất là có kho đặt tại Việt nam (vd: của FPT). Do đó tốc độ tải phần mềm rất nhanh.

II.2 Cập nhật phần mềm

Tự tìm kiếm các bản cập nhật phần mềm và thông báo. Cho phép user bình thường được cập nhật phần mềm.

Ubuntu: cũng tự tìm và thông báo có cập nhật nhưng có option cho tự động tải các bản cập nhật về trước (đỡ mất thời gian hơn). Chỉ cho các user thuộc nhóm root có quyền cập nhật.

II.3 Cài và gỡ bỏ phần mềm

Trình quản lý là Rpmdrake. Nhược điểm lớn nhất là chỉ cho tìm phần mềm theo tên, không tìm được theo phần mô tả (Description). Do vậy phải biết tên phần mềm, không tìm được theo tính năng.

Ubuntu: trình quản lý Synaptic có thể tìm theo cả Description (rất hay). Ví dụ muốn tìm phần mềm liên quan đến điện thoại Nokia là sẽ tìm được.

II.4 Trạng thái sử dụng các gói phần mềm đã cài (Package Stats)

Cho biết số ngày không sử dụng đến của từng gói phần mềm đã cài. Do đó, về nguyên tắc có thể gỡ bỏ bớt các gói không dùng đến.

Ubuntu: không có.

III. Cấu hình phần cứng:

III.1 Liệt kê và cấu hình phần cứng (Browser and configure hardware)

Tương tự Device Manager của Windows (xem màn hình trên). Với mỗi phần cứng có hai chức năng: Thiết lập các option của driver (Set current driver options) và Chạy công cụ cấu hình (Run config tool).

Ubuntu: không có.

III.2 Đặt cấu hình âm thanh (Sound Configuration)

Màn hình này cho chọn driver của sound card, đặt các options.

Ubuntu: có ở Preferenes – Sound

III.3 Đặt các hiệu ứng 3D của màn hình (Configure 3D desktop effects)

Lần đầu nhấn vào, sẽ xuất hiện màn hình thông báo thiếu gói mesa-demos, có cài không? Nhấn OK, phần mềm sẽ tự tải về từ Internet và cài. Sau đó xuất hiện màn hình cho chọn các chế độ: không 3D, Metisse, Compiz Fusion.

Trong tất cả các phần cấu hình, nếu thiếu phần mềm nào, Mandriva sẽ tự tải về và cài. Cách cấu hình các hiệu ứng 3D đã trình bày trong post này.

Ubuntu: có compiz fusion cài sẵn nhưng không có một menu nào liên quan và nếu không tìm hướng dẫn ngoài thì không biết cách kích hoạt nó như thế nào.

III.4 Cấu hình card màn hình và màn hình (Setup the graphical server)

Mục này cho chọn loại card màn hình (nếu Mandriva tự chọn không đúng), loại màn hình (với màn hình có tên tuổi), độ phân giải và các option khác. Có chức năng Test thử cấu hình đã chọn.

Ubuntu: chỉ có phần đặt độ phân giải đơn giản trong Preferences (từng user)

III.5 Cấu hình bàn phím (Setup the keyboard layout)

Cho chọn lại loại bàn phím (keyboard type) và kiểu bố trí bàn phím (keyboard layout).

Ubuntu: có nhưng chỉ có một layout USA.

III.6 Cấu hình chuột (Setup the pointer device)

Cho chọn lại kiểu chuột và cấu hình touchpad của notebook.

Ubuntu: có trong Preferences, không thấy có touchpad.

III.7 Cấu hình máy in (Setup the printers)

Mandriva tự nhận và tự cấu hình được khá nhiều loại máy in trực tiếp và máy in trên mạng. Mục này cho phép cài đặt, đặt cấu hình, test máy in.

Ubuntu: có,

III.8 Cấu hình scanner

Cài đặt, cấu hình và test scanner.

Ubuntu: không có.

III.9 Cấu hình máy tính thành máy fax (Configure a fax server).

Nhấn vào đây lần đầu, phần mềm hylafax-server sẽ được tải về cài. Nếu có modem và đường điện thoại, máy tính sẽ thành máy fax.

Ubuntu: không có.

III.10 Cấu hình UPS (Setup a UPS for power monitoring)

Nếu UPS có cáp dữ liệu nối với máy tính, dùng mục này để cấu hình các chức năng theo dõi công suất.

Ubuntu: không có.

IV.Mạng LAN và Internet

IV.1 Cài đặt một kết nối mạng mới

Có hướng dẫn từng bước (wizard) để thiết lập kết nối với mạng LAN, vệ tinh, modem cable, DSL, IDSL, Wireless, GPRS/Edge/3G, mạng quay số qua bluetooth, mạng quay số qua modem cap điện thoại.

Ubuntu: quản lý kết nối bằng network-manager truy cập qua network manager applet. Không quản lý được nhiều loại kết nối như ở trên.

IV.2 Quản lý các kết nối (Network Center)

Theo dõi tình trạng tất cả các kết nối đang hoặc không hoạt động. Thiết lập cấu hình. Ngắt hoặc kết nối lại.

Ubuntu: không có.

IV.3 Cá biệt hóa và an toàn kết nối trong mạng LAN

Gồm các mục:

  • Khai báo proxy của mạng

  • Cho các máy khác dùng chung kết nối Internet của máy.

  • Quản lý các network profile khác nhau (ở cơ quan, ở nhà, ngoài quán,…)

  • Cấu hình kết nối mạng riêng ảo VPN

Ubuntu: không có.

V.Cấu hình hệ thống

V.1 Xác thực để đăng nhập mạng (Authentication)

Hướng dẫn từng bước (wizard) để cấu hình đăng nhập các loại mạng sau:

  • Mạng LDAP

  • Mạng Windows Active Directory

  • Mạng Windows NT

  • Mạng nhóm (NIS)

  • Đăng nhập cục bộ vào máy

Ubuntu: không có.

V.2 Quản lý font, cài, gỡ font và nhập font Windows

Với các hệ Linux khác, chỉ cần copy file font vào thư mục /usr/share/fonts là được. Riêng quá trình cài font của Mandriva có 4 bước, xử lý thế nào đó nên mọi font hiển thị trên màn hình đều đẹp.

Có thể tự tìm và nhập toàn bộ font Windows nếu trên máy có cài Windows.

Ubuntu: không có. Cài thêm font bằng cách copy vào /usr/share/fonts.

V.3 Quản lý các dịch vụ hệ thống

Cho phép enable, disable các dịch vụ hệ thống (system service).

Ubuntu: có.

V.4 Ngôn ngữ hệ thống

Chọn ngôn ngữ, nước và bộ gõ tiếng tương ứng. Với tiếng Việt, cài scim và x-unikey bằng công cụ này (có sẵn x-unikey trong kho phần mềm).

Ubuntu: có. Chỉ cài được scim để gõ tiếng Việt bằng công cụ này.

V.5 Nhập các văn bản và settings của Windows

Nếu trên máy có cài Windows, công cụ này cho phép import từ Windows vào Mandriva (cũng theo hướng dẫn từng bước): user của Windows thành user của Mandriva, các file văn bản, bảng tính, … từ Windows sang thư mục Home, bookmarks của trình duyệt web, màn hình nền.

Ubuntu: không có. Khi cài đặt có mục nhập user từ các hệ điều hành khác.

V.6 Backup

Có hướng dẫn từng bước backup cái gì, ở đâu, vào đâu, khi nào, … rất rõ ràng và dễ thực hiện.

Ubuntu: không có.

V.7 Backup toàn bộ hệ thống (Snapshot)

Công cụ này cho phép backup toàn bộ hệ thống (giống Ghost trong Windows).

Ubuntu: không có.

VI.Chia sẻ tài nguyên trong mạng LAN

VI.1 Truy cập các tài nguyên đã share của máy Windows

Công cụ này sẽ tự cài gói samba-client và các gói liên quan để Mandriva truy cập được các tài nguyên đã share của máy Windows (thư mục, file, máy in, …). Cũng theo hướng dẫn từng bước.

Ubuntu: không có.

VI.2 Chia sẻ các tài nguyên cho các máy khác

Công cụ này hướng dẫn từng bước cài samba-server, biến Mandriva thành máy chủ file, máy chủ in ấn để share các thư mục, file, máy in của Mandriva cho các máy khác trong mạng (Windows, Linux).

Ngoài cách share dùng samba, còn có các công cụ tương tự để truy cập và share theo hệ thống file NFS của Linux và WebDAV (chia sẻ file trên Internet).

Ubuntu: không có.

VII.Quản lý ổ cứng

VII.1 Quản lý các partition của ổ cứng

Công cụ này tương tự Partition Magic của Windows cho phép: resize, create, delete, format partition (kể cả các partition FAT và NTFS); mount, umount partition và đặt các option cho lệnh mount (read-only, read-write, …).

Ubuntu: không có.

VII.2 Share partition

Dùng share hoặc không share các partion đối với các user khác của cùng máy Mandriva.

Ubuntu: không có.

VII.3 CD/DVD burner

Dùng đặt các option cho việc mount ổ CD/DVD.

Ubuntu: không có.

VIII.Security

VIII.1 Thiết lập mức độ an ninh và kiểm soát của hệ thống

Thiết lập được 5 mức an ninh cho hệ thống tùy theo nhu cầu. Có cảnh báo khi có hiện tượng không và gửi cảnh báo cho địa chỉ email nào.

Có các option rất chi tiết và tương đối dễ hiểu cho an ninh hệ thống, an ninh mạng, chế độ kiểm soát an ninh định kỳ, quyền truy cập vào các thành phần hệ thống.

Kèm theo có công cụ kiểm soát quyền truy cập đến từng thư mục hệ thống.

Ubuntu: không có.

VIII.2 Thiết lập tường lửa cá nhân

Thiết lập tường lửa bằng giao diện đồ họa.

Ubuntu: không có.

VIII.3 Kiểm soát trẻ con truy cập Internet (Parental Control)

Thiết lập các chế độ truy cập Internet khác nhau cho các user khác nhau, quy định giờ được truy cập, lập danh sách các website được và không được truy cập.

Ubuntu: không có.

IX.Kiểm soát quá trình khởi động (Boot)

Sửa đổi boot menu (khi trên máy cài đồng thời nhiều hệ điều hành): thời gian chờ, đặt hệ nào là mặc định, thêm bớt các hệ có thể khởi động bằng boot menu. Thiết lập các dạng màn hình khởi động, chế độ tự động đăng nhập (autologin).

Ubuntu: không có.

Hướng dẫn cài Mandriva 2009 trong mạng LAN.

Tài liệu hướng dẫn cài Mandriva 2009 FREE (dùng được cả cho Mandriva One 2009) trong một mạng LAN dùng Samba + LDAP làm Domain Controller đã có trong kho dữ liệu Mediafire.

Cũng có thể dùng cài máy cá nhân (bỏ các phần liên quan đến LAN đi).

Gõ tiếng Việt telex bằng scim trong Mandriva 2009.

Trong những post trước đã trình bày hai cách gõ tiếng Việt trong Mandriva 2009 bằng scim (nguyên bản) và x-unikey. Cách nào cũng có nhược điểm:

  • x-unikey-1.0.4 thỉnh thoảng bị mất tiếng Việt hoặc treo bàn phím. x-unikey-0.9.2 bị lỗi dấu nặng.
  • scim dùng file vi-telex nguyên bản thì bị đánh dấu ký tự. Không quen rất khó chịu.

Có thể khắc phục được tất cả các nhược điểm trên bằng cách dùng scim với file vi-telex-locdt.mim. Cách làm như sau:

  • Gỡ x-unikey (nếu đã cài):
    • Nhấn vào Menu – Install & Remove Software rồi gỡ bỏ x-unikey.
    • Mở file .bash_profile xoá ba lệnh export đã thêm vào khi cài x-unikey.
    • Disable hoặc remove lệnh khởi động x-unikey trong Autostart.
  • Cài scim như đã hướng dẫn trong post Tiếng Việt trong Mandriva 2009“.
  • Tải file vi-telex-locdt.mim Mediafire về.
  • Mở terminal, chạy lệnh su để đăng nhập như root, dùng mc (nếu đã cài) hoặc dùng lệnh:
    cp    vi-telex-locdt.mim    /usr/share/m17n

    để copy file vi-telex.locdt.mim vào thư mục /usr/share/m17n. Mở lại thư mục đó để kiểm tra xem file được copy chưa.
  • Mở Run Command, chạy lệnh scim rồi vào Scim Setup, chọn cách gõ vi-telex-locdt. Khởi động lại máy.
  • Biểu tượng của cách gõ này trên panel là vi-telex-locdt

Gõ telex tiếng Việt unicode bằng scim dùng file này không bị đánh dấu ký tự (chỉ còn dấu gạch chân đánh dấu vị trí bỏ dấu tiêng Việt). Chỉ còn một lỗi nhỏ là không chọn điền địa chỉ trong Gmail bằng chuột được (dùng phím mũi tên). Trong OpenOffice Calc, không bị lỗi xoá từ như x-unikey.

CHÚ Ý: Khi gõ kiểu này trong OpenOffice, Kmail, …, dưới mỗi từ có dấu gạch chân đánh dấu ký tự ở mút trái là ký tự nhận dấu tiếng Việt. Phải có ký tự báo kết thúc từ: nhấn phím Space, đánh dấu chấm, dấu phẩy hoặc phím mũi tên phải, dấu gạch chân sẽ mất. Nếu vẫn còn dấu gạch chân, khi dùng chuột nhấn sang chỗ khác sẽ bị mất các ký tự gạch chân.

Khi soạn thảo trong Web (Gmail, Zoho, YahooMail, …) thì không cần báo kết thúc từ, ký tự gạch chân vẫn không bị mất.

Các bộ gõ “nội” xvnkb và x-unikey khi Linux phát triển đã bộc lộ nhiều nhược điểm. Mặc dù scim cũng chưa phải hoàn thiện nhưng có lẽ đây là hướng có tương lai.

Sơ bộ thấy rất ổn. Để kiểm tra thêm một thời gian nữa xem sao.

kdesu và root menus trong Mandriva 2009

Trong Mandriva 2009, một số lệnh với quyền root bị các tác giả dấu kín hoặc không cài nhằm bảo đảm an toàn cho hệ thống, ngăn không cho user “nghịch ngợm”. Có thể bổ xung chúng như sau:

UDATE (28/3/2009): hiện Root Actions Servicemenus 2.4.2 tại đây đã có bản cài rpm cho Mandriva 2009 KDE.

1- kdesu : lệnh này dùng chạy các phần mềm KDE từ Run Command được dấu sâu trong một thư mục hệ thống. Để đưa nó “nổi lên” ta sẽ tạo một link vào thư mục lệnh /usr/bin:

  • Mở terminal, chạy lệnh su để đăng nhập như root.
  • Gõ tiếp lệnh sau rồi Enter

ln   -s    /usr/lib/kde4/libexec/kdesu      /usr/bin/kdesu

Bây giờ có thể chạy các phần mềm với quyền root, ví dụ kdesu  konqueror từ Run Command.

2- Root Actions Servicemenus:

Trong Dolphin hoặc Konqueror, khi nhấn phím phải chuột vào một file hay thư mục trong menu xuất hiện chỉ có các lệnh thông thường với quyền user. Để bổ xung các lệnh với quyền Root làm như sau:

  • Tải file nén 48411-rootactions_servicemenu_2.4.tar.gz từ địa chỉ này về thư mục Home.
  • Mở Dolphin. Nhấn phím phải chuột vào file, chọn Extract Here để giải nén file thành thư mục Root_Actions_2.4.
  • Nhấn phím phải chuột vào tên thư mục trên, chọn tiếp Actions – Open Terminal Here.
  • Trong màn hình Terminal, chạy lệnh su để đăng nhập như Root.
  • Copy file bằng lệnh sau: cp rootactions-servicemenu.pl   /usr/bin
  • Trong Dolphin, mở thư mục Root_Actions_2.4/dolphin-KDE4, copy hai file trong đó.
  • Nhấn vào menu View – Show Hidden Files cho hiện các thư mục, file ẩn. Mở thư mục ẩn /.kde4/share/kde4/services/ServiceMenus rồi paste hai file vừa copy vào đó. (nếu chưa có thư mục ServiceMenus thì tạo ra)
  • Đóng Dolphin lại rồi lại mở. Nhấn chuột phải vào mọt file hoặc thư mục bất kỳ, trong menu xuất hiện sẽ có thêm hàng Root Actions có rất nhiều lệnh thực hiện với quyền Root.

Cách cài khác x-unikey trong Mandriva 2009 (update: lỗi của 1.0.4)

Cách cài này nhanh hơn cách đã trình bày trong post trước và không cần phải có giao diện màn hình tiếng Việt:

  • Nhấn vào Menu – Install & Remove Software. Trong màn hình trình quản lý phần mềm, tìm gói x-unikey và cài. Khi đó gói locales-vi cũng sẽ được cài.
  • Mở Dolphin, nhấn vào menu View – Show Hidden Files. Mở file ẩn .bash_profile rồi thêm ba dòng sau vào:

export LANG=en_US.UTF-8
export XMODIFIERS=”@im=unikey”
export GTK_IM_MODULE=xim

  • Nhấn Menu – Run Command rồi gõ vào từ unikey để chạy x-unikey lần đầu. Mở file options trong thư mục ẩn .unikey. Sửa lệnh CommitMethod = Send thành CommitMethod = Forward.
  • Đổi các permission của file options thành Can Read.
  • Tạo shortcut cho x-unikey tự khởi động trong Autostart.
  • Khởi động lại máy. Xong.

UPDATE 6/12/2008: bản x-unikey-1.0.4 có hai lỗi:

  • Thỉnh thoảng đang gõ tiếng Việt, không gõ được nữa. Phải Ctrl+Shift hai lần để tắt, bật tiếng Việt lại mới gõ tiếp được.
  • Thỉnh thoảng bị treo bàn phím (gõ phím nào cũng không có tác dụng). Dùng chuột trái nhấn hai lần vào biểu tượng x-unikey để bật tắt tiếng Việt thì lại gõ tiếp được. Lỗi này đã được phát hiện trên Fedora từ năm 2006.

Bản x-unikey-0.92 không bị các lỗi này, gõ rất tốt trên các bản Linux KDE3. Nhưng trong Mandriva 2009, cài x-unikey-0.92 bị lỗi dấu nặng (ấn phím j không ra dấu nặng mà ra chữ j).

Tiếng Việt trong Mandriva 2009

TIẾNG VIỆT TRONG CÁC BẢN MANDRIVA 2009

1- X-UNIKEY trong Mandriva.
Mandriva 2009 cả KDE và GNOME đều có thể cài x-unikey để gõ tiếng Việt được. Các bước như sau:

  1. Vào Menu – Install & Remove software rồi tìm cài gói locales-vi.
  2. Mở Control Center rồi nhấn vào System – Manage localization for your system. Màn hình sau xuất hiện:
  3. Trong màn hình trên, cuốn xuống dưới chọn Vietnamese. Nhấn vào nút Next để đi tới màn hình tiếp:
  4. Chọn “Việt nam” và x-unikey như hình trên rồi nhấn Tiếp theo. Chương trình x-unikey sẽ được tải về và cài lên máy. Sau đó xuất hiện màn hình thông báo:
  5. Nhấn OK rồi Logout ra và Login trở lại. Nhấn vào Menu – Tools – System Tools – Dolphin File Manager. Trong màn hình Dolphin, nhấn vào View – Show Hidden Files. Trong thư mục /home/<username> mở thư mục ẩn .unikey rồi mở file options. Trong file đó, sửa các dòng sau như dưới đây:
    CommitMethod = Forward
    XimFlow = Dynamic
    Save và đóng file lại.
  6. Nhấn phím phải chuột vào file Options, chọn Propeties trong menu, chọn tiếp tab Permission rồi đổi hết các quyền truy cập sang Can Read.
  7. Nhấn vào Menu – Tools – System Tools – Configure Your Desktop. Trong màn hình xuất hiện, nhấn vào tab Advanced rồi Autostart.
  8. Trong màn hình Autostart nhấn vào Add Program
    m61
  9. Trong màn hình trên, gõ unikey (chú ý là không có chữ x) vào ô trống rồi nhấn OK hai lần để unikey xuất hiện trong danh sách tự khởi động.
  10. Khởi động lại máy. Xong.

Vài đặc điểm:
Cách làm trên áp dụng chung cho cả Mandriva 2009 KDE và Mandriva 2009 GNOME.
Bản x-unikey vừa cài là 1.0.4. Trước đây, phiên bản này cài trong các bộ Linux KDE cũ hay có lỗi đang gõ bị tắt tiếng Việt và lỗi khi gõ trong bảng. Nay mới thử qua thì không bị lỗi gõ trong bảng, chưa gõ nhiều để xem có bị tắt tiếng Việt không.
Khi gõ trong OpenOffice Calc vẫn phải nhấn F2 trước khi bắt đầu gõ vào ô mới. Nếu không nhấn F2, khi nhấn shift để gõ tiếng Việt hoa (Đ, Ê, …) sẽ bị lỗi con trỏ giật sang trái, xóa hết các từ đã gõ trước đó.
Một điều hơi khôi hài, vừa hay lại vừa dở là khi cài locales-vi, giao diện sẽ chuyển sang tiếng Việt. Bản GNOME, giao diện tiếng Việt khá nhiều, bản KDE thì ít hơn. Đối với người đã dùng quen các thuật ngữ máy tính tiếng Anh, giao diện tiếng Việt lại trở nên lạ lẫm!!!
Hiện mới thử gõ trong OpenOffice và trong các ứng dụng web (Gmail, Zoho, …) thì đều tốt. Không khóa ổ CDROM. Tuy nhiên, x-unikey là đồ nội nên trong các ứng dụng khác (GIMP, KMail, …) có bị xung đột không thì chưa rõ.
2- SCIM trong Mandriva
Trong Mandriva (cả KDE và GNOME) đều có thể cài bộ gõ SCIM để gõ tiếng Việt. Cách cài tương tự như trên:
– Không cần cài locales-vi trước.
– Đến màn hình ở bước 3 ở trên, chọn country là United States và Input Method là SCIM. (Nếu không thấy mục Input Method, nhấn vào Other Countries).
– Sau khi đã tải và cài các file liên quan đến scim xong, đừng khởi động lại máy.
– Nhấn Menu – Run Command rồi gõ lệnh scim để chạy scim lần đầu (lần sau nó sẽ tự chạy).
– Nhấn phím phải chuột vào biểu tượng bàn phím của scim trên panel, chọn SCIM Setup. Trong màn hình SCIM Setup chọn các mục sau:

m71
  • Keyboard Layout: English (US)
  • Embed Preedit String …. (nếu không chọn mục này sẽ xuất hiện một cửa sổ nhập liệu riêng)
  • Share the same input method …. (nếu không chọn mục này, mỗi lần chuyển ứng dụng lại phải kích hoạt chế độ gõ tiếng Việt)
  • Nhấn Disable All rồi cuốn xuống dưới, chọn vi-telex.
  • SCIM có một panel nhỏ. Nếu không thấy cần, nhấn vào mục GTK ở hình trên, rồi chọn Show: Never.
  • Sau khi cấu hình xong, khởi động lại máy. SCIM sẽ tự khởi động và có một biểu tượng bàn phím nhỏ trên panel (báo chế độ gõ tiếng Anh).
  • Để con trỏ chuột vào một trường nhập liệu nào đó (thanh địa chỉ hoặc tìm kiếm của Firefox, trang của OpenOffice, …) rồi nhấn Ctrl + Space biểu tượng bàn phím sẽ chuyến sang hình khác () ứng với chế độ gõ tiếng Việt.
    Vài đặc điểm của SCIM:
  • SCIM là bộ gõ “ngoại” đa ngôn ngữ (kể cả các tiếng tượng hình như Hoa, Thái, …). Do đó khả năng xung đột với các ứng dụng là rất thấp. Qua thực tế dùng thấy gõ tốt trong nhiều ứng dụng (ví dụ không bị lỗi khi gõ trong Calc như x-unikey). Đây là điều quan trọng khi trong tương lai, trên máy tính còn có thêm các ứng dụng khác (cơ sở dữ liệu, GIMP, …). Đỡ phải lo.
  • Cách gõ telex đã được cải tiến so với trước đây: gõ dấu cuối từ, tự nhận biết tiếng Anh, … nói chung là như x-unikey. Đã thử gõ được cả kiểu VNI với font Times New Roman.
  • Nhược điểm lớn nhất là việc hiển thị cơ chế bỏ dấu: khi gõ một từ, chữ có khả năng được đánh dấu sẽ bị bôi xanh. Chỉ khi nhấn phím Space (hoặc phím mũi tên) báo kết thúc từ, dấu bôi xanh mới hết. Việc bôi xanh chữ nhìn không quen hơi khó chịu. Và nếu chưa kết thúc từ mà di con trỏ sang chỗ khác thì toàn bộ kí tự bên phải từ bôi xanh sẽ bị mất. Thực ra đây là vấn đề thói quen. Dùng lâu sẽ quen và không thấy khó chịu như lúc đầu.
  • Còn một nhược điểm nhỏ nữa là khi gõ vài từ trong trường địa chỉ của Gmail, danh sách các địa chỉ hiện ra thì không dùng chuột chọn địa chỉ được mà phải dùng phím mũi tên (các loại trường nhập liệu có danh sách chắc cũng thế).

3- Chữ hoa có dấu tiếng Việt:
Trong các bản Linux, khi dùng font unicode của Microsoft (Arial, Times New Roman, …) nhấn phím Caps Lock để gõ các tiếng Việt hoa có hai dấu (vd: TỔNG GIÁM ĐỐC) thì hai dấu đó bị thu nhỏ lại khó nhìn và khi in ra không rõ. Đây là điều quan trọng trong các văn bản hành chính, nhất là khi gõ tên người.
Trong Mandriva 2009 (và chắc các bản Linux khác cũng thế) có các font Times, Liberation Serif rất giống font Times New Roman và hiển thị hai dấu rất rõ.

So sánh nhanh (K)Ubuntu 8.04, Mandriva 2008.1, PCLOS 2008 Gnome

Các bộ Linux nói dưới đây đều nằm trong số những hệ Linux hàng đầu. Kubuntu và Ubuntu là hai phiên bản của cùng một hệ Linux dùng hai môi trường đồ họa khác nhau: KDE và GNOME. Mandriva kế thừa Mandrake, dùng KDE. PCLinuxOS (PCLOS) xây dựng trên nền Mandriva có cả bản KDE và GNOME. Những so sánh dưới đây:

  1. So sánh nhanh những đặc điểm chủ yếu nhất dưới góc độ của một người dùng bình thường, không có khả năng hoặc không muốn đi sâu vào những chi tiết kỹ thuật phức tạp.
  2. Mục đích sử dụng là máy tính văn phòng: soạn văn bản, bảng tính, trình diễn, lướt web, thư điện tử, xem và nghe các file hình, nhạc. Các yêu cầu cao hơn như kết nối với thiết bị cầm tay, bảo mật, … không xét ở đây.
  3. Chỉ đúng với các phiên bản được so sánh. Sang phiên bản sau tình hình có thể đã khác rồi.

Cài đặt:

Tất cả các hệ đều có chế độ chạy từ CD (LiveCD). Đây là chế độ nên thử nếu cài lần đầu (mặc dù chậm, mất thời gian) để kiểm tra xem có phần cứng nào không hoạt động được không (card mạng, wifi, sound card, video card,…). Tuy nhiên, nếu biết chắc, không cần kiểm tra thì (K)Ubuntu có menu cài thẳng, nhanh hơn là vào LiveCD rồi mới cài.

Các màn hình cài đặt tương tự nhau về nội dung. Màn hình Partition Manager của Mandriva và PCLOS có thêm một số nút lệnh nên trực quan và dễ dùng hơn. Điểm khác nhau chính nằm ở cuối: Mandriva và PCLOS có một số màn hình cho phép điều khiển quá trình tạo bootloader còn (K)Ubuntu thì không. Mandriva và PCLOS đều nhận được Windows đã cài trên ổ cứng nhưng không nhận lẫn nhau và phải add bằng tay. (K)Ubuntu nhận diện các hệ khác trên ổ cứng (cả Linux và Windows) khá tốt. Vì vậy nếu cài nhiều hệ điều hành trên máy thì nên cài (K)Ubuntu cuối cùng.

Tương thích phần cứng

Mandriva có vẻ tương thích phần cứng tốt hơn cả qua những trường hợp sau:

– Trên một máy có card mạng onboard, Mandriva nhận và cho card làm việc tốt. Các bản Kubuntu, Ubuntu và PCLOS 2007 đều nhận được card này nhưng card không hoạt động được.

– Trên máy Dell 700m, Mandriva và PCLOS nhận và kích hoạt được card wifi ở cả hai chế độ mã hóa WEP và WPA. Kubuntu và Ubuntu không kích hoạt được card ở chế độ WEP. Ngay cả sau khi kích hoạt được card ở chế độ WPA, (K)Ubuntu thiết lập kết nối rất chậm, thậm chi xuất hiện màn hình phụ, nhấn connect mới vào mạng.

– Trên một máy có hai card mạng (một ra modem ADSL và một ra mạng LAN), Mandriva cài dễ dàng và cho cả hai card làm việc song song tốt nhất. (K)Ubuntu cài đặt cho hai card cùng làm việc khá phức tạp và thỉnh thoảng vẫn bị mất một kết nối. OpenSUSE chỉ cho làm việc một card, kích hoạt cái nọ thì cái kia tắt.

-Mandriva và PCLOS kích hoạt card xong có thể kiểm tra xem có hoạt động không. Ubuntu không có công cụ kiểm tra trạng thái card (tất nhiên có thể cài thêm), thường phải chạy Firefox để kiểm tra.

– Cài máy in HP 1020, Mandriva và PCLOS sau khi cài driver xong báo thiếu firmware, tự tải về. (K)Ubuntu không báo gì.

– Nối màn hình ngoài vào notebook, Mandriva nhận tốt cả hai màn hình, PCLOS 2008 Gnome màn hình ngoài bị lệch. (K)Ubuntu chưa thử.

Phần mềm cài sẵn

Duy nhất có Mandriva cài xong là dùng được ngay. PCLOS 2008 Gnome phải cài thêm OpenOffice. (K)Ubuntu phải cài thêm bộ restricted. Kubuntu còn phải cài thêm cả Firefox.

Mandriva và PCLOS bằng một nút nhấn có thể nhập toàn bộ font Windows có sẵn sang. Mandriva còn có nút lệnh cho import cả documents và một số settings từ Windows sang.

PCLOS 2007 KDE có vẻ đầy đủ phần mềm phụ nhất. Tuy nhiên bản này hơi cũ, phải sau lần update đầu tiên mới dùng tốt được.

Kho phần mềm thì (K)Ubuntu vô địch kể cả về số lượng lẫn tốc độ download. Mandriva xếp thứ hai và PCLOS xếp cuối.

Tiếng Việt

Mandriva có sẵn bộ gõ x-unikey-1.0.4 trong kho phần mềm, cài đặt dễ dàng nhưng bản thân x-unikey-1.0.2 trở lên có lỗi (trong mọi bản Linux KDE): a/ đang gõ bị mất tiếng Việt, phải tắt bật lại để gõ tiếp, b/gõ trong các ô của bảng, con trỏ đột ngột nhảy sang ô khác. Cài bản 0.9.2 thì không bị hai lỗi đó nhưng icon cập nhật luôn đỏ báo có phần mềm cập nhật (nâng lên 1.0.4).

PCLOS 2008 Gnome gõ được tiếng Việt bằng scim. Cài từ Control Center – System – Manage localization for your system. Copy file vi-telex-locdt.mim vào /usr/share/m17n và chỉ enable cách gõ này. Chưa thử nhiều nên chưa biết có lỗi gì không.

Kubuntu 8.04 vẫn dùng x-unikey-0.9.2 được. Ubuntu 8.04 theo hướng dẫn ở đây. (chưa thử).

Control Center

Control Center của Mandriva và PCLOS (kể cả bản Gnome) hay nhất vì là dạng wizard hướng dẫn từng bước, thiếu phần mềm nào thì tự tải về cài. Đây là hướng xây dựng Control Center rất tốt, làm cho Linux thân thiện với người dùng. Kubuntu cũng có Control Center tập trung khá tốt tuy không bằng hai hệ nói trên. Ubuntu dở nhất về mặt này.

Giao diện

KDE hay GNOME là tùy sở thích. Cá nhân tôi thích KDE hơn. Mandriva và PCLOS có cơ chế convert font sao đó nên chọn font nào làm font màn hình cũng đẹp. (K)Ubuntu chỉ có font Free (FreeSerif, FreeSans,…) hiển thị tốt trên màn hình. Giao diện đẹp thì PCLOS là nhất, đặc biệt là giao diện PCLOS Minime.

Tốc độ

Hiện tại PCLOS 2008 GNOME nhanh nhất (và chắc bản PCLOS 2008 KDE sắp ra cũng vậy). Dùng bản này có cảm giác nhẹ nhõm, nhanh rất dễ chịu khác hẳn các bản còn lại. Mandriva xếp thứ hai còn (K)Ubuntu đứng hạng chót. So sánh ở đây đều ở chế độ tắt tất cả các hiệu ứng màn hình rồi.

Kết luận:

Ở giai đoạn này, nếu thích tốc độ thì nên dùng PCLOS 2008 GNOME. Mới học nên chọn Mandriva hoặc PCLOS 2008 KDE sắp ra (nhược điểm lớn nhất là hiện chưa có tài liệu hướng dẫn tiếng Việt). (K)Ubuntu dành cho người thích tự cài và tìm hiểu về phần mềm nguồn mở (vì kho phần mềm lớn).

Còn hai đại gia nữa tôi đã thử qua nhưng không có ấn tượng gì lắm: OpenSUSE và Fedora. OpenSUSE có lẽ phù hợp cho việc tìm hiểu sâu hơn một chút về linux (cho chọn rất nhiều các thông số kỹ thuật). Fedora không thấy có gì nổi bật ngoài tuổi đời lâu nên nhiều người biết, phần mềm nào cũng có bản build sẵn cho Fedora.

Cần phải nhắc lại là các ý kiến trên chỉ căn cứ vào việc dùng lướt qua các phần mềm trong một thời gian ngắn của một người dùng bình thường. Chắc là có nhiều điểm vừa sai vừa thiếu nhưng cũng chia sẻ để mọi người tham khảo.

PCLinuxOS 2007: cài bộ gõ tiếng Việt x-unikey

Trong một post trước đây, tôi có trình bày cách cài x-unikey vào PCLinuxOS bằng cách dịch lại từ nguồn (configure, make, make install). Cách này cần phải cài trước một số phần mềm, thư viện phụ.

Mới đây, theo hướng dẫn trên vnlinux.org tôi tìm được file x-unikey xxx.rpm đã build sẵn cho bộ Linux Mandriva. Vì PCLinuxOS xây dựng trên nền Mandriva nên có thể dùng file này để cài bộ gõ x-unikey được. Cách làm như sau:

1- Tài file x-unikey-1.0.4-1mdv2007.1.i586.rpm từ Savefile hoặc Mediamax về.

2- Mở Synaptic Package Manager, search gói phần mềm locales-vi và cài.

3- Nhấn phím phải chuột vào file x-unikey vừa tải về, chọn Actions – Open Terminal Here để mở terminal tại thư mục đang chứa file đó, chạy lần lượt các lệnh sau:

$ su , nhập mật khẩu của root. (dấu $ là dấu nhắc lệnh của hệ thống).

$ rpm -ivh ./x-unikey-1.0.4-1mdv2007.1.i586.rpm (trước chữ x là dấu chấm rồi đến dấu sược trái)

4- Mở thư mục /etc, nhấn phím phải chuột vào file profile rồi chọn Actions – Edit as Root. Sau khi nhập mật khẩu của root, chương trình KWrite sẽ mở file profile. Thêm vào cuối file ba dòng sau (copy ba dòng đó ở đây rồi paste vào file cho nhanh):

export LANG=vi_VN.UTF-8
export GTK_IM_MODULE=xim
export XMODIFIERS=”@im=unikey”

Sau đó save rồi đóng file lại.

5- Mở thư mục Home của bạn, trên menu chọn View – Show Hidden Files. Mở thư mục ẩn .kde/Autostart. Nhấn phím phải chuột, chọn Create New – Link to Application rồi gõ unikey (không có chữ x) vào mục Command của tab Application để tạo link cho x-unikey tự khởi động.

6- Khởi động lại máy. Xong.

Còn một cách cài nữa đỡ phải gõ lệnh là mở Synaptic Package Manager, tìm cài phần mềm KPackage. Sau đó nhấn đúp chuột vào file x-unikey-1.0.4-1mdv2007.1.i586.rpm để cài bằng KPackage.

Bộ gõ x-unikey-1.0.4 dù cài bằng cách nào trong PCLinuxOS đều có một nhược điểm là thỉnh thoảng đang gõ lại bị mất tiếng Việt, phải nhấn Ctrl+Shift hai lần rồi mới gõ tiếp được.

PCLinuxOS: Chữa lỗi không vào được màn hình đồ họa

Cũng như trong (K)Ubuntu, cấu hình của màn hình (độ phân giải, driver,..), bàn phím và chuột của PCLinuxOS được lưu trong file /etc/X11/xorg.conf.

Nếu dùng PCLinuxOS Control Center chỉnh sửa cấu hình các thiết bị trên bị sai thì khi khởi động lại, máy sẽ không vào được màn hình đồ họa mà chỉ dừng lại ở dấu nhắc lệnh.

Khi đó có thể sửa nhanh như sau:

1- Tại dấu nhắc lệnh, gõ lệnh su rồi Enter.

2- Lời nhắc Password xuất hiện. Nhập password của root rồi Enter.

3- Gõ tiếp lệnh XFdrake –auto rồi Enter (chú ý trước chữ auto là hai dấu gạch ngang). Lệnh này sẽ tự động dò các thiết bị và lập lại file xorg.conf mới thay file xorg.conf bị hỏng.

4- Gõ tiếp lệnh startx để khởi động chế độ đồ họa.

Khi đã vào được màn hình đồ họa rồi, nếu độ phân giải màn hình vẫn chưa đúng có thể vào PCLinuxOS Control Center (Configure Your Computer) để sửa lại. Sau đó Log out ra màn hình lệnh, gõ lệnh reboot để khởi động lại máy như bình thường.

Ngoài cách trên, cũng có thể copy đè một file xorg.conf cũ còn tốt lên file xorg.conf bị hỏng như đã nêu trong một post trước với Kubuntu.

Muốn biết thêm về lệnh XFdrake (giống lệnh dpkg-reconfigure trong (K)Ubuntu), gõ XFdrake –help ở terminal.

Giới thiệu PCLinuxOS 2007

PCLinuxOS (PCLinux Operating System, dưới đây gọi tắt là PCLOS) là một hệ Linux mới được bắt đầu xây dựng năm 2003, nhanh chóng chiếm được sự quan tâm chung. Trên site DistroWatch.com, hệ này luôn đứng trong top 4 hệ Linux được chú ý căn cứ vào số hit của website (cùng với Ubuntu, OpenSUSE và Mint).
Bài viết này giới thiệu sơ bộ vể PCLinuxOS 2007 và so sánh ngắn gọn với (K)Ubuntu.

1.Giới thiệu chung

PCLinuxOS(PCLinux Operating System, dưới đây gọi tắt là PCLOS) là một hệ Linux mới được bắt đầu xây dựng năm 2003, nhanh chóng chiếm được sự quan tâm chung. Trên site DistroWatch.com, hệ này luôn đứng trong top 4 hệ Linuxđược chú ý căn cứ vào số hit của website (cùng với Ubuntu, OpenSUSE và Mint).

Các hệ Linux nổi tiếng gần đây đều phát triển theo hướng thân thiện với người dùng. Với slogan “Radically Simple – Đơn giản một cách cơ bản”, PCLOS đặc biệt chú trọng đến định hướng này, có lẽ còn hơn cả Ubuntu.

PCLOS nhằm tới người dùng tại nhà. Tuy nhiên, nó cũng có thể dùng tốt trong môi trường cơ quan, doanh nghiệp.

Lịch sử ra đời PCLOS có thể xem tại đây.

Những điều nêu dưới đây chỉ là rất sơ bộ, dựa trên kinh nghiệm ngắn dùng PCLOS, có thể có những điều sai, thiếu hoặc chưa chính xác.

2.Mô hình kinh doanh

Mô hình kinh doanh có lẽ là điểm yếu của PCLOS so với Ubuntu, OpenSUSE hoặc Fedora. Công ty chỉ gồm “một nhóm rất nhỏ những người tình nguyện làm việc với những tài nguyên rất giới hạn. Không có nhà triệu phú hoặc công ty đỡ đầu nào” như thông báo trên website. Nguồn thu từ tiền cho tặng hảo tâm, bán quyền truy cập đến server hạng nhất (Premium server) và bán các máy tính cũ cài PCLOS với giá 95USD. Hiện có 14 người làm việc trong nhóm phát triển và khoảng 14 người nữa tham gia thêm từ bên ngoài.

Hy vọng là những thành công bước đầu rất đáng kể của PCLOS sẽ thu hút các nhà đầu tư để có một mô hình kinh doanh mạnh hơn. Sức sống lâu dài và mạnh mẽ của một hệ Linux là điểm cơ bản để hệ đó có thể bước chân vào môi trường các cơ quan, doanh nghiệp.

3.Cài đặt

Đĩa cài đặt PCLOS chỉ gồm 1 đĩa CD và có thể chạy theo chế độ LiveCD. Ngay trong quá trình boot máy từ CD, đã xuất hiện một số hướng dẫn (wizard) cài đặt cơ bản (ví dụ: thiết lập kết nối mạng). OpenSUSE không có chế độ LiveCD, còn (K)Ubuntu phải biết trước cách thiết lập mạng để làm bằng tay sau khi boot xong.

Nếu muốn cài đặt, nhấn vào biểu tượng Install trên Desktop. PCLOS sẽ hướng dẫn qua từng bước cài đặt (có cả chế độ cài lên USB). Nội dung các bước tương tự (K)Ubuntu, nhưng giao diện chi tiết và thân thiện hơn (ví dụ mục chọn Partitions). Quá trình cài cũng nhanh hơn (K)Ubuntu (khoảng 20 phút). Khi cài xong, PCLOS chiếm khoảng 2GB ổ cứng.

Cũng như (K)Ubuntu, PCLOS nhận biết được Windows có sẵn trên ổ cứng, tạo một menu khởi động Windows và tự động mount các partitions của Windows vào các thư mục con của /mnt. Khác với Ubuntu, PCLOS chỉ mount các partitions NTFS ở chế độ chỉ đọc (read-only). Muốn mount ở chế độ đọc-ghi phải cài ntfs-3g và sửa lại file /etc/fstab.

4.Phần mềm ứng dụng

PCLinux OS tích hợp sẵn hầu hết các ứng dụng cơ bản theo một quan điểm có vẻ thoáng hơn (K)Ubuntu: một số phần mềm non-free như Flashplayer, driver của card màn hình ATI, NVIDIA cũng được cài sẵn (nhưng không cài win32codecs và DVD decryption do luật Mỹ cấm, người dùng phải tự cài như đối với Ubuntu). Điều này đơn giản cho người dùng, cài xong là gần như dùng được ngay. Trình duyệt web là Firefox, duyệt file (và web) là Konqueror, thư điện tử là Thunderbird, bộ Office là OpenOffice. Các trình ứng dụng và tiện ích khác cũng phong phú hơn (K)Ubuntu.

Trình quản lý phần mềm là Synaptic (như Ubuntu) có vẻ không hay bằng Adept Manager trong Kubuntu. Các phần mềm chia làm bốn loại: main, extra, nonfree và kde và tổng số gói phần mềm có trong các kho là 7712 (ít hơn Ubuntu: 23000). Đây cũng là một nhược điểm so với Ubuntu: search ví dụ từ “mobile” sẽ không thấy có phần mềm KMobileTools. Tất nhiên những phần mềm không có có thể tìm ở nơi khác (kho của Mandriva hoặc Internet).

Phần lớn các kho phần mềm đều có tốc độ tải về rất chậm.

PCLOS hiện có 18 địa chỉ server phần mềm trên thế giới, ít hơn và cũng không bài bản được như (K)Ubuntu (Ubuntu có server riêng cho nhiều nước, khu vực trong đó có Việt nam).

5.Giao diện

PCLOS dùng môi trường đồ họa KDE, do đó hình thức giao diện giống Kubuntu và giống Windows hơn là Gnome. Điểm đặc biệt của PCLOS là giao diện rất đẹp từ cách chọn ảnh nền, các icon, các màn hình splash, … Nền màn hình rất sáng, kể cả với những theme màu đen.

Do dùng KDE nên bố trí màn hình và các menu hệ thống rất giống Windows, làm quen nhanh.

PCLOS có một chức năng nhận biết được các font của Windows đã cài trước đó và import toàn bộ sang Linux bằng một cú nhấn chuột. Cơ chế cài font của PCLOS cũng khác với (K)Ubuntu, không chỉ đơn giản copy fonts vào thư mục /usr/share/fonts mà có một quá trình convert gì đó. Có lẽ vì thế nên font màn hình của PCLOS đều hiển thị rõ và đẹp dù chọn font gì.

Trong PCLOS đã cài sẵn các phần mềm Beryl, Compiz để tạo hiệu ứng màn hình. Nếu máy có cấu hình đủ mạnh, có thể bật các hiệu ứng này một cách dễ dàng.

6.Tiếng Việt

Bộ gõ tiếng Việt dùng được trong PCLOS là x-unikey, phải dịch và cài từ nguồn (xem bài viết Gõ tiếng Việt trong PCLinuxOS 2007trên blog này). Trong mọi ứng dụng (OpenOffice, ứng dụng web như Gmail, Zoho, instant messaging Kopete…) đều gõ được tiếng Việt, trừ trong OpenOffice Calc trước khi gõ phải nhấn F2.

7.Các tiện ích cấu hình.

Các tiện ích cấu hình là điểm mạnh nhất của PCLOS và theo đúng định hướng thân thiện với người dùng. Cũng như Kubuntu, PCLOS có hai Control Center: một của PCLOS và một của KDE. Đặc điểm chung của PCLOS Control Center:

  • Chia ra nhiều hạng mục chi tiết và có rất nhiều hướng dẫn từng bước (wizard) rất tiện cho người sử dụng.

  • Trong quá trình cấu hình, những phần mềm thiếu sẽ được tự động tải từ Internet về cài.

  • Các tiện ích để thiết lập các chế độ làm việc trong môi trường mạng có khá nhiều. Ví dụ có cả hướng dẫn cài máy thành một máy chủ PDC, BDC của mạng Windows. Riêng phần Network & Internet có tới 11 mục khác nhau.

Khi cài ví dụ máy in HP Laser 1020, PCLOS nhận biết ngay máy in này và báo còn thiếu file firmware phải tải về, nhưng sau đó báo lỗi là không tải được, phải copy file này từ nơi khác vào thư mục /usr/share/foo2zjx/firmware. Trong Kubuntu, phải biết trước là máy in này có driver nằm trong thư mục foo2zjx, trỏ đến đó mới cài được nhưng vẫn thiếu firmware. Nếu tắt máy in, bật lại là không dùng được.

Tiện ích cấu hình của PCLOS dễ dùng, chi tiết và hơn hẳn (K)Ubuntu.

8.Tốc độ

PCLOS có vẻ nhẹ và mở các ứng dụng nhanh hơn Kubuntu là hệ cũng dùng KDE.

9.Kết luận

Cho những nhu cầu thông thường, PCLOS nhanh, nhẹ, đẹp, dễ cài đặt, cấu hình và nói chung là thân thiện với người dùng hơn (K)Ubuntu.

Hai nhược điểm lớn nhất hiện thời là mô hình kinh doanh yếu và kho phần mềm ít hơn (K)Ubuntu. Với đà thành công như hiện nay, hy vọng là hai nhược điểm đó sẽ được khắc phục trong thời gian tới.

Kết luận này cũng chỉ dựa trên thử nghiệm trong một thời gian ngắn.

Gõ tiếng Việt trong PCLinuxOS 2007

PCLinuxOS là một bản Linux mới nổi lên gần đây. Bài viết này tìm hiểu các cách gõ tiếng Việt bằng scim, xvnkb và x-unikey trong PCLinuxOS 2007.

Kết luận: dùng x-unikey là ổn nhất. Cách cài đặt nêu trong bài.