Khôi phục khởi động vào Ubuntu 9.10 sau khi cài lại Windows

0- Đôi điều về GRUB2

Bắt đầu từ Ubuntu 9.10, chương trình GRUB2 được dùng thay cho GRUB1 phổ biến xưa nay. GRUB2 được viết lại từ đầu, không phải bản nâng cấp của GRUB1 do đó có nhiều điểm khác so với GRUB1. Vì vậy tìm hiểu để làm chủ được nó là cần thiết.

GRUB (viết tắt của GRand Unified Bootloader) là chương trình khởi động hệ điều hành (bootloader) dùng phổ biến ở các hệ điều hành kiểu Unix: Linux, Solaris. Windows dùng bootloader là NTLDR. Nhiệm vụ của bootloader là tải hệ điều hành vào RAM sau đó trao quyền điều khiển máy tính cho hệ điều hành.

Khi máy tính khởi động, đầu tiên nó đọc ROM BIOS để tìm xem khởi động từ thiết bị nào (CDROM, ổ cứng, ổ mềm, ổ USB hay mạng). Tiếp theo, nó tải chương trình GRUB stage 1 từ Master Boot Record (MBR) của thiết bị đó vào RAM, sau đó GRUB stage 1 chỉ làm mỗi một việc là tìm GRUB stage 2 trên thiết bị khởi động, tải tiếp nó vào RAM và chuyển quyền điều khiển cho GRUB stage 2.

GRUB stage 2 sẽ cho hiện boot menu để người dùng chọn khởi động hệ điều hành nào đang có trên ổ cứng.

Lệnh cài GRUB stage 1 là “grub-install”. File cấu hình của GRUB stage 2 với Ubuntu (trước 9.10), Debian, openSUSE là /boot/grub/menu.lst; với Fedora là /boot/grub/grub.conf; với Ubuntu 9.10 là /boot/grub/grub.cfg/etc/default/grub.

Đặc biệt, người dùng không được phép chỉnh sửa /boot/grub/grub.cfg như với menu.lst.

1- Khôi phục GRUB2 sau khi cài lại Windows:

Khi cài chung Ubuntu 9.10 và Windows trên cùng một máy, có khi sau đó phải cài lại Windows vì virus, hỏng file, v.v… Windows sẽ ghi đè lên MBR, do đó khi khởi động máy chỉ vào thẳng Windows mà không có boot menu để chọn, do đó không khởi động được Ubuntu nữa.

Để khôi phục lại boot menu, theo một trong hai cách sau:

Cách 1: dùng đĩa CD của Ubuntu 9.10.

Boot máy bằng đĩa CD Ubuntu 9.10. Khi khởi động xong, mở Terminal ( Applications > Accessories > Terminal) rồi chạy lần lượt các lệnh sau:

(Giả sử Ubuntu cài trên partition sda3 của ổ cứng sda)

sudo -i(để chuyển sang user root).

mount /dev/sda3 /mnt

grub-install –root-directory=/mnt/ /dev/sda

mount –bind /proc /mnt/proc

mount –bind /dev /mnt/dev

mount –bind /sys /mnt/sys

chroot /mnt update-grub

umount /mnt/sys

umount /mnt/dev

umount /mnt/proc

exit

Cách 2: Dùng chương trình grub4dos

Tải file zip mới nhất của grub4dos từ đây. Giải nén ra.

Với Windows XP:

Copy file grldr trong gói grub4dos vào C:\. Mở file ẩn boot.ini và thêm dòng sau vào file:

c:\grldr=”grub4dos”

Với Windows Vista và Windows 7:

Copy hai file grldr,grldr.mbr vào C:\. Tạo file boot.ini tại C:\ rồi copy và paste đoạn mã sau vào trong file:

[boot loader]
timeout=0
default=c:\grldr.mbr
[operating systems]
C:\grldr.mbr=”Grub4Dos”

Tạo file menu.lst trong C:\ , copy và paste đoạn mã sau vào trong file:

timeout 0
default 0
title grub2
find
--set-root /boot/grub/core.img
kernel /boot/grub/core.img
boot

Khởi động lại máy, chọn boot từ Grub4Dos. rồi chọn tiếp boot vào Ubuntu từ boot menu. Sau khi đã login vào Ubuntu, chạy lệnh sau trong Terminal để cài lại grub vào MBR:

sudo grub-install /dev/sda

2- Sửa một vài thông số khởi động.

Trong Ubuntu 9.10, nhấn Alt+F2 rồi chạy lệnh sau để mở file:

gksu gedit /etc/default/grub

Trong file này có một số thông số thay đổi được:

GRUB_DEFAULT=0 Trị số 0 quy định hệ điều hành tự động khởi động là ở hàng đầu tiên của boot menu , tức là Ubuntu 9.10. Muốn Windows khởi động tự động, xem nó ở hàng thứ mấy (đếm từ 0) trong boot menu rồi thay giá trị đó vào đây.

GRUB_TIMEOUT=”10″ 10 giây là thời gian boot menu chờ người dùng chọn hệ điều hành, nếu không chọn, hệ điều hành quy định ở GRUB_DEFAULT sẽ được khởi động. Muốn nhanh hơn có thể thay giá trị thấp hơn, ví dụ 5.

Sau khi sửa file nói trên, cần mở terminal chạy lại lệnh sudo update-grub.

3- Sửa file /boot/grub/grub.cfg

Mặc dù file này được bảo vệ rất kỹ, nhưng vẫn có thể sửa được với các lệnh sau:

sudo chmod +w /boot/grub/grub.cfg

sudo nano /boot/grub/grub.cfg

Ví dụ: khi trên máy đã cài Mandriva, sau khi cài Ubuntu 9.10 mặc dù trong boot menu có dòng dành cho Mandriva nhưng khi chọn nó thì Mandriva không khởi động được.

Nếu mở file grub.cfg như trên thì thấy đoạn dành cho Mandriva như sau:

menuentry “linux (on /dev/sda6)” {

insmod ext2

set root=(hd0,6)

search –no-floppy –fs-uuid –set 4c7b246a-654d-447d-8e6d-1b0b39f66eb1

linux /boot/vmlinuz BOOT_IMAGE=linux root=UUID=4c7b246a-654d-447d-8e6d-1b0b39f66eb1 splash=silent vga=788

initrd (hd0,5)/boot/initrd.img

}

Sửa lại dòng initrd (hd0,5) thành initrd (hd0,6) giống như dòng set root = (hd0,6) ở trên là boot vào Mandriva được.

Sửa tiếp dòng linux (on /dev/sda6) thành Mandriva (on /dev/sda6) để hiện tên Mandriva trên boot menu.

Chi tiết hơn về GRUB2 xem tại đây. và tại đây.

Làm gì sau khi cài xong UBUNTU 9.10 (và các bản Linux khác)

LÀM GÌ SAU KHI CÀI XONG UBUNTU 9.10 (và các bản Linux khác)

Ubuntu 9.10 bản chính thức đã khắc phục được các lỗi 1,2,3 của bản beta nêu ở đây. Sau khi cài xong, nếu muốn chung sống với các bản Linux khác đã cài dùng grub1, xem hướng dẫn ở đây.

Sau khi cài xong Ubuntu từ đĩa CD, khởi động lại máy, tôi làm các việc sau đây (một số cái áp dụng được cho cả các bản Linux khác):

1- Cài đặt kết nối mạng:

Nếu mạng không cần cài (tự cấp IP), tự kết nối thì biểu tượng của Network Manager trên panel như thế này . Nếu chưa kết nối, biểu tượng sẽ như thế này (hơi khó nhìn).

Với bản Ubuntu chính thức, Network Manager đã làm việc tốt kể cả khi cài đặt mạng với IP tĩnh. Nhấn phím phải chuột vào biểu tượng trên, chọn Connection Information để xem các thông số về mạng.

2- Chọn lại kho phần mềm:

Khi cài, Ubuntu đã chọn kho phần mềm mặc định là Server for Vietnam (vn.archives.ubuntu.com) nhưng kho này không nhanh. Nhấn chuột vào System > Administration > Software Sources > Download from > Other rồi cuốn xuống cuối danh sách, mục Vietnam để chọn kho của FPT.

3- Cài đặt thêm một số phần mềm:

Nhấn vào menu System > Administration > Synaptic Package Manager rồi chọn cài các gói phần mềm sau:

  • ubuntu-restricted-extra: để bổ xung một số phần mềm “có vấn đề” theo định nghĩa nguồn mở : flash plugin, một số font của Microsoft, một số codecs để chơi file multimedia, trình giải nén unrar, …
  • scim-bridge-client-gtk: để cài bộ gõ tiếng Việt scim-unikey. Bộ gõ ibus cài sẵn trong Ubuntu 9.10 có nhược điểm phải có phím kết thúc từ, chưa nên dùng.
  • Stardict-gnome: chương trình từ điển Stardict.
  • openoffice.org: chọn cài riêng gói này để bổ xung một số gói còn thiếu của OpenOffice.org
  • catdoc và wv: cài hai gói này để chuẩn bị cài Google Desktop Search.
  • pysdm: chương trình dùng mount tự động các partition khác trên ổ cứng vào thư mục do người dùng chọn.
  • Multimedia: Ubuntu có cài sẵn trình mediaplayer là Totem (Applications > Sound & Video > Movie Player). Nếu dùng Totem thì kiểm tra xem các gói gstreamer-plugins-good, bad và ugly (kể cả bad-multiverse và ugly-multiverse) đã cài chưa. Nhưng nên cài một trong những trình mediaplayer hay nhất hiện nay là Smplayer (và cả gecko-mediaplayer là plugin để chơi media trong Firefox).
  • sun-java6-plugin: chọn cài gói này để cải toàn bộ môi trường Java cần thiết cho các tính năng cao cấp của Openoffice.org và Firefox.
  • Peazip: đây là một trình nén và giải nén hay đã nói ở đây. Gói cài đặt không có trong kho của Ubuntu, tải về cài từ đây. Sau khi cài xong, chạy từ Applications > System Tools > peazip.desktop.
  • UDATE: tôi quên Perfectbuntu. Chạy nó để cài cả ubuntu-restricted-extra và nhiều cái khác nữa, đầy đủ hơn. Tải về tại đây. Nhấn phím phải chuột vào “Download Current Version“, chọn Save Link As rồi ghi nó thành file perfectbuntu. Mở thư mục có file, nhấn phím phải chuột vào file, chọn Propeties > Permissions rồi đánh dấu chọn mục Allow executing file as program. Mỏ terminal, chuyển đến thư mục có file rồi chạy lệnh sudo ./perfectbuntu và trả lời các câu hỏi trên màn hình.

4- Cài đặt và cấu hình tiếp

a- Bộ gõ tiếng Việt scim-unikey: tải về từ đây hoặc add kho phần mềm của Ubuntu-VN theo hướng dẫn cũng tại link đó rồi cài bằng Synaptic. Cài từ kho thì có lợi là khi có bản cập nhật sẽ được tự động báo.

Sau khi cài, nhấn vào System > Administration > Language Support rồi trong mục Keyboard input method system chọn scim-bridge xong đóng màn hình lại.

Vào tiếp menu System > Preferences > SCIM Input Method Setup đặt các thiết lập sau:

  • FrontEnd > Global Setup: chọn Share the same input method
  • IMEngine > Global Setup: chọn UnikeyEnglish\European, các mục khác bỏ.
  • Panel > GTK: chọn các mục Show on Demand, Auto snap, Show stick icon, Show tray icon và Stick Windows.

Scim-unikey trong Ubuntu 9.10 có một lỗi nhỏ là tray icon (hình vuông màu da cam) không hiện được trên panel như ở các bản Ubuntu trước. Do đó phải cho hiện GTK panel (mục show on demand ở trên) để có thể điều khiển và biết tình trạng bộ gõ. Trong các bản trước, có thể tắt GTK panel (Show Never) chỉ cần dựa vào tray icon là đủ.

b-Cài các file từ điển tiếng Việt: có trong kho của Ubuntu-VN đã nói ở trên.

c- Cài các add-on của OpenOffice: tùy theo nhu cầu. Xem một số post về add-on trong blog này.

d- Mount các partition: nếu trên ổ cứng có một partition NTFS chứa thư mục MyDocuments của Windows thì vào System > Administration > Storage Device Manager mount cố định nó vào thư mục /home/<username>/DATA. Sau đó, mở thư mục DATA bằng Nautilus rồi mở tiếp MyDocument và Add Bookmark để MyDocument xuất hiện ở cột bên trái, mở cho nhanh. Lệnh mount trên chỉ cần làm một lần và được ghi vào file /etc/fstab. Lần sau khởi động sẽ tự mount.

e- Cài trình tìm kiếm Google Desktop Search: trình tìm kiếm có sẵn (Applications > Accessories > Search for file) chậm và không tìm được từ tiếng Việt unicode bên trong file. Google Desktop Search lập index sẵn nên tìm rất nhanh, tìm được cả tiếng Việt unicode bên trong file (VNI và ABC chưa thử), đồng thời tìm được trong Gmail.

Tải về cài từ đây. Sau khi cài, vào Applications > Google Desktop > Google Desktop Preferences để cấu hình. Mở màn hình tìm kiếm bằng cách nhấn hai lần phím Ctrl.

f- Cấu hình OpenOffice:

Trong Writer, nhấn vào Tools > Options để mở màn hình Options và thiết lập các mục sau:

  • Memory: thiết lập như hình sau. Nhớ chọn Enable systray Quickstarter để khởi động OpenOffice cho nhanh.

Trong mục Paths bên dưới Memory, chọn tiếp My Documents ở ô bên phải rồi nhấn nút Edit để chỉnh đường dẫn mặc định về thư mục của mình, ví dụ /home/zxc/DATA/My Documents.

  • Java: nếu dùng đến các tính năng cần Java (Mail merge,…) thì đánh dấu chọn mục Use a Java. Nếu không thì bỏ chọn để OpenOffice chạy nhanh hơn.
  • Load/Save > General: chọn Always Create backup copy và chỉnh thời gian AutoRecovery xuống 5 phút cho khỏi mất dữ liệu. Mục Document Type nên để nguyên các định dạng file ODF nếu không hay giao lưu file với các máy khác dùng Windows, định dạng ODF có dung lượng file nhỏ hơn và điều quan trọng là nó là format mặc định của OpenOffice, do đó khi save không bị mất các format đã làm, mở cũng nhanh hơn.
  • Thay style của toolbar: toolbar của OpenOffice trong Ubuntu có style mặc định là human. Nếu thích có thể cài thêm các style khác trong kho phần mềm: openoffice-style-crystal, openoffice-style-industrial, v.v… Sau khi cài xong, mở Options > OpenOffice.org > View > Icon size and style rồi chọn trong danh sách thả xuống bên phải.

Còn nhiều thứ nữa, có lẽ nên dành cho một post riêng.

g- Cài Dropbox và Ubuntu One: hai dịch vụ này có cùng một tính năng: tự động sao lưu dữ liệu của một thư mục lên Internet và tự động đồng bộ thư mục đó trên nhiều máy khác nhau và cùng một dung lượng free 2GB. Điểm khác là Ubuntu chỉ chạy được trên Ubuntu 9.10, Dropbox chạy được trên mọi hệ Linux, Windows và Mac. Dropbox đã trình bày ở đây, khi cài nên chọn đưa thư mục Dropbox vào Home/DATA/My Documents để dùng chung với Windows và các hệ Linux khác trên cùng ổ cứng.

h- Firefox: cài thêm một số extension sau:

  • Xmarks hoặc Weave Sync: hai extension này làm việc giống như Dropbox, nhưng đối tượng lưu và đồng bộ của chúng là bookmarks, password, hystory, preferences (Xmarks chỉ đồng bộ bookmarks và password). Với các extension này, dù cài đi cài lại Linux hoặc trên nhiều máy thì các dữ liệu trên vẫn giống nhau. Weave nhiều tính năng hơn nhưng hiện tại có vẻ không tốt bằng Xmarks.

  • DownThemAll : trình quản lý, tăng tốc download dưới dạng extension. Tôi dùng trình này nhiều và thấy không cần cài hoặc dùng các trình ngoài như Kget, …

  • Tab Mix Plus : quản lý các tab; nhấn vào link, bookmark tự động mở tab mới.

  • Zoho Notebook Helper : sau khi Google Notebook ngừng phát triển thì Zoho Notebook thay thế. Extension này cho phép rê chuột bôi đen một đoạn quan tâm trên trang web rồi add nó vào Zoho Notebook kèm theo cả link. Như vậy hay hơn là bookmarks.

  • VnDict : dùng tra từ điển Anh Việt khi đọc web.

  • Email This! : bôi đen một đoạn văn bản rồi gửi mail (kèm cả link). Có thể dùng cái này để ghi nhớ các đoạn văn bản quan tâm trên web thay cho Zoho Notebook Helper bằng cách gửi mail cho chính mình.

5- Thay đổi hình thức màn hình

Nhấn vào System > Preferences > Appearance. Trong màn hình Appearance Preferences, nhấn vào tab Fonts, đổi các font màn hình từ Sans sang Free Sans, cỡ font tăng lên 12. Với tôi, font Free Sans đẹp và rõ hơn Sans.

Trang trí màn hình theo hướng dẫn ở đây.

Thay theme mặc định bằng theme khác theo hướng dẫn ở đây.

Tự động thay wallpaper theo hướng dẫn ở đây.

6- Cài thêm Desktop Environment

Môi trường đồ họa (Desktop Environment) mặc định của Ubuntu là Gnome. Mở Synaptic, cài thêm hai môi trường khác là KDE và Xfce (kèm theo cả một số ứng dụng cơ bản như email, trình duyệt file, v.v..) từ hai gói: kubuntu-desktop xubuntu-desktop.

Để làm việc bình thường có thể dùng KDE hoặc Gnome tùy thói quen và sở thích. Khi cần nhanh thì log in vào Xfce. Cách log in và chọn môi trường đồ họa hơi khác các bản Ubuntu cũ: trước tiên phải nhập username và password, khi đó ở đáy màn hình xuất hiện một panel, trong đó có mục cho chọn Gnome, KDE hay Xfce.

Xem tiếp tại đây.

Còn một số thứ khác, tham khảo thêm ở đây.

IBM và Canonical tuyên chiến với Windows 7

IBM VÀ CANONICAL TUYÊN CHIẾN VỚI WINDOWS 7

Ngày 20/10/2009 vừa qua, IBM và Canonical tuyên bố tung ra thị trường Mỹ bộ phần mềm IBM Client for Smart Work (ICSW) cạnh tranh trực tiếp với Windows 7.

Bộ phần mềm này dành cho một dải rộng cấu hình máy (máy để bàn, laptop và netbook), gồm có:

  • Hệ điều hành Linux Ubuntu 8.04.1. Bản này là bản hỗ trợ dài hạn (LTS) đến tháng 4/2011

  • Bộ phần mềm văn phòng Lotus Symphony của IBM dựa trên nền OpenOffice.

  • Bộ phần mềm cộng tác (mail, calendar, task,…) Lotus Note/Domino, Domino Web Access, iNotes của IBM. (mail của đám mây điện toán LotusLive iNotes có giá $3/user/tháng).

  • Dịch vụ cộng tác online Lotus Online Collaboration Services dùng dịch vụ đám mây điện toán LotusLive.com ($10/user/tháng)

  • Tích hợp sẵn một loạt chức năng: chia sẻ file, quản lý văn bản, chat, web conferencing, điện thoại IP, blog, wikis,…

  • Có thể chọn nhiều dạng client từ nặng đến nhẹ tùy cấu hình máy. Đây là ưu điểm của Ubuntu.

Đây là một cuộc đấu hay. Lần đầu tiên, Microsoft bị thách thức bởi một đại gia trong làng tin học tại ngay thị trường Mỹ. Bộ sản phẩm Lotus Notes/Domino của IBM cũng là sản phẩm nổi tiếng lâu đời ngang ngửa với Microsoft Exchange/Outlook, kết hợp với Ubuntu là bộ Linux đang lên như diều và phổ biến nhất hiện nay.

Điểm mạnh của giải pháp này là: kết hợp các công nghệ mới nhất (Ubuntu, nguồn mở, đám mây điện toán) với các công nghệ lâu năm, ổn định (Lotus Notes/Domino), có support từ các hãng lớn, giá rẻ, dùng được máy hiện có không phải nâng cấp phần cứng.

Riêng Lotus Symphony thì hơi nghi ngờ: giao diện mới, hiện đại nhưng phần lõi lại dựa trên những phiên bản OpenOffice cũ (xem thêm tại đây).

Thị trường Mỹ là thị trường tuân thủ nghiêm ngặt luật bản quyền. Vì vậy các tổ chức hiện đang dùng Windows XP đứng trước những lựa chọn khó khăn khi Windows 7 ra đời và Windows XP không còn được hỗ trợ nữa. Nếu tiếp tục dùng Windows, họ buộc phải nâng cấp phần mềm và cả phần cứng để chạy được phần mềm đó. Theo IBM, các nhà nghiên cứu thị trường độc lập đã ước tính để chuyển sang Windows 7, mỗi user phải mất tới 2000 USD ?!

Theo IBM, tổng chi phí sở hữu ICSW (tính cả phần máy chủ cho các phần mềm cộng tác) chỉ bằng một nửa phần mềm Microsoft và không phải nâng cấp máy. IBM có đưa ra một bảng tính chi tiết tổng chi phí sở hữu (phải đăng ký mới đọc được), sau 5 năm, số tiền tiết kiệm được lên tới hơn 2 triệu USD! (cách tính chưa tìm hiểu được).

File cài đặt (Ubuntu 8.04 + các phần mềm của IBM nói trên) có thể tải về từ đây. File này lớn tới 1,08GB nên phải burn vào đĩa DVD.

Tôi sẽ cài thử và review sau.

Ubuntu 9.10 beta (tiếp theo)

Cuối cùng cũng bắt được cô nàng Ubuntu 9.10 vào khuôn vào phép.
Bootloader:
Ubuntu 9.10 dùng trình bootloader Grub2, được xem là tiên tiến hơn Grub1 hiện vẫn đang phổ biến. Nhưng khi cài trên một ổ cứng có nhiều bản Linux, Grub2 chỉ nhận tốt các đồng hương cùng làng như Linux Mint, gOS, …(cùng họ Ubuntu) và chọn boot được các bản Linux đó từ bootmenu của Grub2. Còn Mandriva, PCLinuxOS, … có xuất hiện trong bootmenu nhưng không boot được. Tôi dùng cách sau:
Sau khi cài xong Ubuntu 9.10, boot lại máy từ một đĩa CD Mandriva. Mở terminal, lần lượt chạy các lệnh (để khôi phục bootloader của Mandriva đã cài trước đó):

  • su (để chuyển sang user root)
  • grub (vào trình grub)
  • find /boot/grub/stage1 (tìm các bootmenu)
  • root (hd0,x) (trong đó hd0 là ổ cứng cài Mandriva, x là partition cài Man, nếu cài trên partition 5 -/dev/sda5 thì x=4)
  • setup (hd0) (cài lại bootloader)
  • quit (ra khỏi grub)
  • cũng có thể làm nhanh hơn bằng một lệnh grub-install /dev/sda nhưng tôi chưa thử.

Khởi động lại máy vào Mandriva. Trong màn hình Run command, chạy lệnh kdesu kwrite /dev/sda5/boot/grub/menu.lst để mở file menu.lst của Mandriva. Thêm vào file đó ba dòng sau:
title Ubuntu 9.10
root        (hd0,x)
kernel    /boot/grub/core.img

(trong đó (hd0,x) là partition cài Ubuntu 9.10)
Save file lại rồi boot lại máy từ ổ cứng. Khi bootmenu của Man xuất hiện, chọn dòng Ubuntu 9.10 rồi Enter để vào Ubuntu. Mandriva nhận tốt các bản Linux khác nên dùng bootmenu của nó boot được các bản đó. Chưa thử trường hợp cài Ubuntu 9.10 trước rồi mới cài Mandriva xem có nhận được Ubuntu 9.10 không.
Bộ gõ tiếng Việt:
Ubuntu 9.10 cài sẵn bộ gõ ibus, được xem là đời sau của scim chắc là có nhiều cải tiến hơn. Kích hoạt ibus bằng cách vào System -> Administration -> Language Support rồi trong màn hình đó chọn ibus ở mục Keyboard input method system. Sau đó đóng màn hình lại.
Tác giả Lê Quốc Tuấn và cộng đồng ubuntu Vietnam đã phát triển được bộ gõ tiếng Việt ibus-unikey 0.3 (Thank you very much). Theo hướng dẫn ở đây để cài (add kho launchpad theo hướng dẫn ở đây, rồi cài bằng Synaptic. Tôi tải file deb về cài bằng GDebi bị báo lỗi dpkg: unable to read filedescriptor flag).
UPDATE:Thử sơ qua, bộ gõ này hoạt động tốt. Bộ gõ ibus-unikey có một nhược điểm chung của scim và ibus là phải có phím kết thúc từ. Nếu không đang gõ dở, chuyển con trỏ đi nơi khác bị mất một số ký tự đã gõ.

Tôi cài lại scim và scim-unikey nhưng hơi phức tạp hơn Ubuntu 9.04. Sẽ trình bày cách cài trong một post riêng.
Đặt IP tĩnh cho card mạng:
Dùng Network Manager Applet trên panel không đặt được. Phải mở file /etc/network/interfaces.
Mount các partition khác:
Ubuntu 9.10 có một phần mềm Palimpsets (Administration -> Disk Utility) nhưng không mount vĩnh viễn (sửa file fstab được). Tốt nhất là cài thêm pysdm (rồi chạy từ Administration -> Storage Device Manager) để mount một lần cho xong.
Ổ cứng online:
Lần này, Ubuntu có thêm một dịch vụ mới là Ubuntu One (Applications -> Internet -> Ubuntu One) cung cấp 2GB ổ cứng online miễn phí theo kiểu Dropbox đã giới thiệu ở đây. Cái dở là chỉ có cho Ubuntu, trong khi Dropbox dùng được cho cả Windows và các hệ Linux khác. Tuy nhiên, cài Dropbox không phải bao giờ cũng trơn tru ngay, nhiều khi phải cài đi cài lại, khởi động lại máy. Nhưng khi đã chạy, Dropbox hoạt động rất tốt: tốc độ download và upload khá nhanh, rất nhạy với mọi thay đổi của file mà nó quản (đang mở file để sửa, chỉ cần nhấn nút Save, chưa đóng file đã thấy Dropbox hoạt động rồi).
Linh tinh:
Thời gian khởi động nhanh nhưng thời gian load grub2 lại lâu hơn grub1
Có một phần mềm chat mới là Empathy, chat được trên nhiều hệ thống chat khác nhau, nhưng chỉ thuần túy text chat, không có voice và video.

Thay cho Add Remove Programs, có Ubuntu Software Center (Applications -> Ubuntu Software Center). Phần mềm này giống mintInstall đã giới thiệu ở đây: tập hợp một số phần mềm ứng dụng, giới thiệu trước về công dụng tính năng và xem trước được nhiều thông tin nữa trước khi quyết định cài.

Menu hơi tiết kiệm, ví dụ một số phần mềm như Image Viewer(Eye for Gnome) và Document Viewer (Evince) không có trong menu Applications nhưng lại có trong menu con khi nhấn phím phải chuột vào một file ảnh.
Sơ bộ thế đã. Để 20 ngày nữa xem bản chính thức.

Trục trặc với Ubuntu 9.10 Beta

Vừa thử cài Ubuntu 9.10 Beta, gặp một số trục trặc:

  1. Trình cài đặt đã được viết lại một phần, trong quá trình cài có màn hình giới thiệu các tính năng chính (giống Windows) xem đỡ sốt ruột khi chờ đợi. Tuy nhiên, màn hình hiển thị các partition vẫn bị lỗi tràn ra ngoài màn hình do đó không nhìn thấy phím Next, phải dùng phím Tab để chuyển focus rồi Enter mò, không dùng chuột được (giống lỗi trong Ubuntu 9.04).
  2. Trình Network Manager không cài đặt được card mạng theo kiểu manual (đặt IP tĩnh bằng tay). Phải mở file /etc/network/interfaces để cài đặt card mạng. Lỗi này trong Ubuntu 9.04 và openSUSE cũng bị.
  3. Kết nối được Internet xong, cài được phần mềm từ repositories nhưng Firefox lại không vào các trang web được.
  4. Điểm dở nhất (đối với tôi) là Ubuntu 9.10 dùng trình bootloader Grub version 2 (Grub 2) thay cho Grub 1 mà các bản Linux hiện đang dùng (kể cả Ubuntu 9.04). Trình này nhận biết các bản Linux khác ngoài dòng Ubuntu (như Mandriva, PCLinuxOS, …) rất kém, do đó boot menu do nó tạo ra không boot được các bản Linux nói trên. Thay cho file /boot/grub/menu.lst sửa rất dễ của Grub 1, Grub 2 dùng file /boot/grub/grub.cfg khá phức tạp, không cho sửa kể cả với quyền root.
  5. Khi khởi động, Grub 2 tải lâu hơn hẳn Grub 1, mặc dù sau đó quá trình khởi động của Ubuntu khá nhanh.

Vì đây chỉ là bản beta nên hy vọng là khoảng 20 ngày nữa sẽ khá hơn. Tôi thường cài vài bản Linux trên máy nên lỗi trên là khá khó chịu vì sau khi cài Ubuntu không boot được vào các bản khác.

Cài máy in Canon trong Madriva 2009.1 và Ubuntu 9.04

Khi cài máy in Canon LBP 2900 trong Mandriva 2009.1 và Ubuntu 9.04 theo các hướng dẫn tại đâytại đây thì có vài trục trặc nhỏ:

  1. Với Mandriva 2009.1: Phải bật máy in trước khi bật máy tính mới in được.
  2. Với Ubuntu 9.04: trước khi in, mở terminal chạy lệnh sudo /etc/init.d/ccpd restart mới in được.

Không rõ các máy in Canon khác dùng CAPT driver có bị như vậy không? Các hướng dẫn nói trên viết cho trường hợp máy in LBP 1210 (cũng dùng CAPT driver) với các phiên bản trước của Mandriva và Ubuntu không thấy có lỗi này.

Lại card màn hình Intel

Trong một post trước có nói về vấn đề mà card màn hình Intel (một số, không phải tất cả) đang gặp với các công nghệ đồ họa mới mà driver chưa tìm được giải pháp tối ưu.

Điều này xảy ra với các hệ Linux đời mới nói chung, không riêng gì Ubuntu. Ví dụ Mandriva 2009.1 khi cài trên máy có card màn hình onboard Intel 82G33/G31 sẽ gặp lỗi “rendering”: khi nhấn vào các menu, cửa sổ, màn hình của menu hoặc cửa sổ đó thoạt đầu hiện lên vạch ngang lằng nhằng, một lúc mới hiện lên đầy đủ.

Mỗi bản Linux đều có trang liệt kê các lỗi đã gặp mà tới lúc phát hành vẫn chưa sửa được và nêu cách sửa tạm. Ubuntu nêu các lỗi đó trong trang Release Note, Mandriva thì đặt ở trang Errata.

Hai trang đó đều nêu cách chữa lỗi nói trên như sau (nhưng không đảm bảo là mọi trường hợp đều chữa được):

Mở file /etc/X11/xorg.conf với quyền root rồi thêm vào bên dưới dòng “Device Intel” một dòng sau:

Option "AccelMethod" "UXA"

Với Mandriva 2009.1, sau khi sửa như trên, khởi động lại máy thì hết lỗi nhòe cửa sổ. Ngoài ra để tăng tốc đồ họa có thể thêm các dòng sau:

Option "MigrationHeuristic" "greedy"

Option "DRI" "off"

(tắt DRI sẽ tắt các hiệu ứng màn hình).

Trước vẫn biết là có các trang báo lỗi như trên nhưng quên không xem. Có lỗi gì, xem trang đó trước tiên là hay nhất.

Hậu cung của nhà vua

(Nghỉ cuối tuần mà trời nóng quá, ngại ra đường nên ngồi nhà nổi máu văn chương)

Sau khi đã lập xong hậu cung và trở thành một cao thủ trong tình trường Linux, đức Hoàng thượng rùng mình nghĩ lại thời mình còn lẽo đẽo đi theo bà Hoàng hậu già Windows khó tính, bệnh tật virus đầy người, hơi một tý lại lăn ra ngất. Nói cho công bằng, không có bà dìu dắt, Người cũng chẳng có ngày hôm nay. Bây giờ, Người ngạc nhiên nhìn lũ trai trẻ trong vương quốc cam tâm cúc cung tận tụy với Windows mà không biết rằng cả một chân trời mới đang ở ngay bên cạnh. Bởi vậy, Người mới quyết định giới thiệu hậu cung của mình để làm gương.

Và cũng bởi Người bắt đầu thấy nhàm rồi, đang tiến quân đi chinh phục những vùng đất mới.

Nước nhỏ và nghèo nên hậu cung xây trên một miếng đất khá chật: notebook Dell INSPIRON 700m với CPU Pentium M 1.6MHz, 1.256 GB RAM, 40 GB HDD, 82852/855GM Intel Integrated Graphics Device.

Đất hẹp nên mỗi quý phi chỉ được có khoảng 4-5 GB ext3 partition và có một phòng sinh hoạt chung My Documents (ntfs partition, 10 GB) thừa hưởng lại của hoàng hậu Windows XP đã quá cố (xóa sạch rồi chỉ còn lại có My Documents) và cái sảnh swap partition 500 MB cũng dùng chung nốt. Menu list là cái danh sách quyết định cô nào được ân sủng vua vời sẽ nói sau.

Mandriva 2009.1 KDE

snapshot1

Cô này vốn xuất thân từ một dòng họ quý tộc lâu đời (Mandrake 1.0, 7/1998). Cái tính quý tộc thể hiện từ hình thức đến nội dung. Mọi sinh hoạt đều tuân thủ theo nề nếp gia phong của Control Center và System Settings rất đầy đủ, chặt chẽ, rõ ràng, có lớp có lang từng bước một (wizard). Riêng cái nề nếp đó chưa có cô nào theo kịp, kể cả openSUSE. Bảo cô làm việc gì cũng dễ dàng và ngoan ngoãn.

Bộ áo KDE 4.2 cô đang diện vốn là một bộ áo thời thượng nhất, đẹp nhất hiện nay nhưng cũng khó mặc nhất. Nhiều cô khác cũng cố khoác nó lên người nhưng rồi phải bỏ hoặc lụng thụng trông chẳng ra sao (Kubuntu chẳng hạn). Mandriva hòa nhập với KDE4 nhuần nhuyễn và có bản sắc riêng từ cái màn hình khởi động (splash) đến screensaver và nhiều tiểu tiết khác được may cắt riêng chứ không dùng cái có sẵn của KDE.

Nhìn sâu hơn thì cô thuộc loại quý tộc không nghèo nhưng cũng không phải là giầu. Các kho của hồi môn (repositories) khá lớn nhưng chưa bằng được một số cô khác. Và bố trí bên trong cũng hơi lộn xộn.

Tuy dòng dõi cao sang nhưng Mandriva nổi tiếng bình dân. Đặt vào đâu cô cũng hòa nhập rất tốt, không kén cá chọn canh gì (tương thích phần cứng tốt). Chỉ có đến đời 2009.1 này là thấy có chuyện. Cô sống rất thoải mái, nhanh nhạy với cái card màn hình Intel 82852/855GM, nhưng đưa sang chỗ khác có card  82G33/G31 cũng của Intel là chậm chạp hẳn. Đời trước 2009.0 thì lại không sao. Nguyên nhân có lẽ do cái driver Intel mới nhất hiện còn chưa ổn như đã nói trong một post trước.

Mandriva còn có một cô em diện áo GNOME, không xinh bằng chị nhưng nhìn thoáng hơn, nhanh nhẹn hơn vì bớt cầu kỳ. Hoa thơm đánh cả cụm nhưng đất chật đành cho hai cô ở chung một phòng (Install & Remove sofware -> Meta package -> GNOME -> task-gnome-minimal thế là xong). Thích ngắm cô nào thì ở cửa ra vào (màn hình Log in), nhấn vào hình quyển sổ bút chì đăng ký gặp cô đó. Hình cô em đây:

snapshot

Nếu để ý trên hình sẽ thấy, mặc dù cô em khoác áo GNOME nhưng vẫn dùng được đồ KDE của chị (Kontact) và ngược lại. Như thế hay hơn là chỉ có một thứ.

Đức vua hiện nay sủng ái cô chị Mandriva nhất. Hồi mới lập hậu cung, nghe thiên hạ đồn thổi người vời Ubuntu đầu tiên nhưng rồi chê vì hình thức màu mè xấu quá (hồi đó bản lĩnh người còn thấp chưa biết mua sắm trang điểm cho quý phi). Tiếp sau, có thời người sủng ái Kubuntu vì có nhiều nét hao hao giống hoàng hậu Windows. Bây giờ Mandriva với nền nếp gia phong dễ bảo lại xinh đẹp thì vượt lên không có gì là lạ.

Còn sau này thì chưa biết.

Ubuntu 9.04

snapshot1

Ubuntu là con gái nhà giàu mới nổi. Bố cô sau khi quăng một đống tiền đi du lịch vũ trụ về mới sinh ra cô. Tài kinh doanh, tổ chức của bố, tiền của bố và một chiến dịch lăng xê ngoạn mục đã làm cho Ubuntu nhanh chóng nổi như cồn. Chính nhà vua khi mới lập hậu cung cũng nghe đến tên Ubuntu đầu tiên. Đến bây giờ những kẻ chết mê chết mệt cô đông vô kể và đó chính là sức mạnh vô địch của cô. KDE 4.3 mới ra đời có mấy hôm đã có kẻ dâng lên cô rồi là một ví dụ. Đội ngũ fan người Việt cũng khá đông đảo và có một diễn đàn riêng (www.ubuntu-vn.org), cần gì lên đấy mà hỏi. Đó cũng là thế mạnh của Ubuntu ở cái xứ sở còn sơ khai về opensource này.

Kho của hồi môn (repositories) của Ubuntu thừa kế từ cụ bà Debian và bổ xung liên tục đứng vào hàng nhất nhì thiên hạ. Ngay kho Việt nam cũng được chăm sóc cẩn thận hơn các cô khác. Khi đức vua nổi máu phiêu lưu muốn thử cái mới, bao giờ người cũng dùng Ubuntu. Gia đình giàu có, đội ngũ fan đông đảo, thông tin tràn lan trên Internet, Ubuntu dễ dàng giải quyết được những việc mới đề ra.

Con gái nhà giàu mới lớn nên hơi khó bảo so với Mandriva. Có nhiều việc tề gia nội trợ bình thường, Mandriva có sẵn công cụ làm êm ru thì Ubuntu phải tìm kiếm cách làm, cài thêm công cụ,… hết hơi. Mặt khác vì là tầng lớp thượng lưu nên hay sợ điều tiếng, những cái gì không phải opensource là không dùng, báo hại người dùng phải tự bổ xung hơi bị mệt. Nhưng về lâu dài, tiềm năng của Ubuntu là vô địch và tương lai chắc còn sáng lạn.

Cô em Kubuntu khoác bộ cánh KDE4 lộng lẫy cũng được cho ở chung với chị (System -> Administration -> Synaptic Package Manage rồi tìm cài kubuntu-desktop). Nếu muốn diện bộ áo mới nhất KDE 4.3 (vừa may xong hôm 4/8/2009) thì theo hướng dẫn ở đây. hoặc ở đây. Mặc áo xong, ra khỏi phòng (log out) rồi trước khi vào lại, ở màn hình Log in nhấn vào Options -> Sessions để chọn. Kubuntu mặc áo KDE4 không được nhuyễn như Mandriva. Dung nhan Kubuntu 9.04 với KDE 4.3 như thế này:

snapshot2

Sống chung nên hai cô có thể dùng lẫn đồ của nhau. Ubuntu có thể dùng Kontact viết cho KDE và ngược lại Kubuntu cũng dùng được Brasero vốn viết cho GNOME. Thực ra cái đó không phải là mới. Thời các cụ tổ Red Hat (còn miễn phí) và Mandrake, bộ CD cài có 5-6 đĩa, cài xong là có cả KDE và GNOME cùng một đống phần mềm hỗn hợp. Bắt đầu từ Ubuntu nhằm mục đích phổ biến cho nhanh, mọi thứ được co gọn lại về bộ cài một đĩa CD mới có sự phân biệt như ngày nay.

Linux Mint 7

Screenshot

Trong 12 tháng qua (và kể cả trước đây), Linux Mint luôn đứng trong TOP 5 Người đẹp Linux Hoàn vũ. Về cô này đã có bài chi tiết trước đây. Khi cần giới thiệu người đẹp Linux với một người mới (bạn bè, người thân) đưa cô này ra là tiện nhất vì các lý do sau:

  • Mất độ 20 phút cài vào ổ cứng là xong. Hầu như không phải cài thêm gì (trừ bộ gõ tiếng Việt). Ubuntu và Mandriva phải cài bổ xung nhiều. Linux Mint con nhà bình dân không thượng lưu như Mandriva và Ubuntu nên không câu nệ tiểu tiết hay nói đúng hơn là không sợ điều tiếng. Cái gì cần là có không phân biệt cái đó có thuộc đẳng cấp mình (opensource) hay đẳng cấp khác (proprietary).
  • Giao diện nhẹ (GNOME) phù hợp với mọi cấu hình máy, thoáng, đẹp và menu dễ dùng.
  • Linux Mint cũng họ nhà Ubuntu. Do đó thừa hưởng được mọi ưu thế (và cả nhược điểm) của Ubuntu như đã nêu ở trên, nhất là phần hướng dẫn tiếng Việt cho người mới học. Mặt khác vì sinh sau nên Linux Mint có những phần bổ xung mà Ubuntu không có.

PCLinuxOS 2009.2

PCLinuxOS năm ngoái liên tục đứng trong TOP 5 Người đẹp Linux Hoàn vũ. Năm nay thì tụt hạng còn có thứ 7 nhưng vẫn còn có hạng. Con nhà nghèo (nhóm phát triển hoàn toàn là tình nguyện), bố mẹ lại lục đục nên cô chịu nhiều thiệt thòi. PCLinuxOS thuộc họ nhà Mandriva nên cũng thừa hưởng được nền nếp gia phong vốn có (Administration Center).

snapshot1

PCLinuxOS 2009.2 vẫn giữ nguyên bộ áo KDE3. KDE3 nhẹ hơn KDE4 dù không lộng lẫy bằng nhưng phát triển lâu nên khá chín, nhiều công cụ tiện ích bổ xung và chạy cũng nhanh hơn. PCLinuxOS cũng như Linux Mint có tính thực dụng cao nên cái gì cần là có và có khá nhiều tiện ích.

PCLinuxOS có một bộ cánh GNOME khá độc đáo như thế này (cái theme này chắc cài được lên các bản GNOME khác):

Screenshot

Tuy nhiên hai cô này hơi khó ghép ở chung với nhau.

Một trong những điểm chơi trội gần đây của PCLinuxOS là bản Firefox 3.5 vừa ra đời chỉ ít lâu sau đã được chính thức đươưa vào kho và tự động upgrade được. Các cô khác còn đang ngắm nghía, thử nên nếu muốn phải tự cài riêng từ ngoài vào.

Thực tình trước đây openSUSE, Fedora, Debian, Mepis, DreamLinux, Knopix,… và thậm chí cả openSolaris cũng đã lần luợt đi qua hậu cung này. openSUSE dung nhan không có gì đặc biệt, nề nếp gia phong rất bài bản nhưng lại quá rắc rối khắt khe, Fedora và Debian dòng dõi lâu đời nhưng không có gì nổi bật đối với người dùng bình thường, Solaris là một nhánh trực hệ của cụ cố Unix, khó tính khó nết không chịu sống chung với các cô khác nên đều bị loại. Bởi vì mục đích lập hậu cung là thực dụng, không phải nghiên cứu.

Những lúc vui đùa với đám mỹ nữ này, coi khinh các loại virus, nghĩ đến những kẻ đang mê muội bám đuôi bà lão Window mà thấy thương và ái ngại.

(còn tiếp, nếu trời còn nóng).

Chín bộ themes đẹp của Ubuntu

Chín bộ themes đẹp dưới đây dành cho Ubuntu Intrepid và Jaunty được giới thiệu tại Zgegblog . Cách cài như sau:
(cách cài dưới đây dùng lệnh chạy trong Terminal. Copy các lệnh ở đây rồi paste vào terminal cho nhanh và đỡ nhầm. Cũng có thể cài bằng Synaptic Package Manager).

Thử cài lên Linux Mint không được vì phải gỡ một số phần cơ bản của Mint.

Đầu tiên add repo chứa themes bằng cách sửa file /etc/apt/sources.list

sudo gedit /etc/apt/sources.list

thêm hai dòng sau vào cuối file:

Với Ubuntu Jaunty:

deb http://ppa.launchpad.net/bisigi/ppa/ubuntu jaunty main
deb-src http://ppa.launchpad.net/bisigi/ppa/ubuntu jaunty main

Với Ubuntu Intrepid cũng hai dòng trên thay từ “jaunty” bằng “intrepid”

Save rồi đóng màn hình gedit.

Add khóa GPG của kho phần mềm trên bằng lệnh sau:

sudo apt-key adv --recv-keys --keyserver keyserver.ubuntu.com 0×1781bd45c4c3275a34bb6aec6e871c4a881574de

(nếu lệnh này bị lỗi cũng không sao vì quá trình cài tiếp theo vẫn thực hiện được)

Cập nhật danh sách phần mềm bằng lệnh:

sudo aptitude update

Cài toàn bộ các themes bằng lệnh:

sudo aptitude install zgegblog-themes

Chú ý là dung lượng tải về khoảng 180MB và tốc độ tải từ kho launchpad khá chậm.

Khi cài xong, nhấn vào menu System -> Preferences -> Appearance rồi chọn trong tab Themes.

Ảnh mẫu các themes như sau:

Showtime for Gnome

1

Balanzan

balanzan_pres

Infinity

infinity-pres

Wild shine

wild-pres

Exotic

exotic

Tropical

tropical-prsentation

Bamboo Zen

bamboo-prs

Ubuntu sunrise

ubuntu_presentation

Aqua Dreams

expose

Có thể cài riêng từng themes bằng các lệnh:

sudo aptitude install showtime-theme

sudo aptitude install balanzan-theme

sudo aptitude install infinity-theme

sudo aptitude install wild-shine-theme

sudo aptitude install exotic-theme

sudo aptitude install tropical-theme

sudo aptitude install bamboo-zen-theme

sudo aptitude install ubuntu-sunrise-theme

sudo aptitude install  aquadreams-theme

Gỡ bỏ các Themes

Gỡ bỏ toàn bộ các themes trên bằng lệnh:

sudo aptitude remove zgegblog-themes

Hoặc gỡ bỏ từng themes bằng lệnh:

sudo aptitude remove themename

trong đó themename là tên themes đã nêu ở trên.

Posted in Ubuntu, Kubuntu. Thẻ: . 1 Comment »

Linux Mint 7 Gloria

Ngày 26/5/09, bản Linux Mint 7 tên mã Gloria ra đời. Có thể đánh giá vắn tắt đây là một bản Linux thành công, luôn đứng trong top đầu xếp hạng về mức độ quan tâm của site Distrowatch (căn cứ theo page hit). Dưới đây điểm qua các đặc điểm chính.

Trước hết, thành công của Linux Mint dựa trên thành công của Ubuntu. Linux Mint là một bản linux cộng đồng dựa trên nền Ubuntu 9.04, bổ xung thêm các tính năng hướng người dùng, thuận tiện hơn trong sử dụng. Ubuntu có hàng chục “con” với nhiều hướng phát triển khác nhau, nhưng Linux Mint là nổi nhất.

PCLinuxOS dựa trên nền Mandriva cũng là một bản linux “con” của Mandriva đi theo hướng tương tự, nhưng bản PCLinuxOS 2009.1 vừa rồi không thành công được như vậy dù số trình tiện ích có vẻ nhiều hơn.

Linux Mint 7 hiện là bản Linux có thể dùng cài nhanh cho bạn bè, người quen chưa dùng Linux. Sau khi cài chỉ cần cài thêm bộ gõ tiếng Việt scim-unikey, add một số font Windows, cài máy in là dùng ngay được và tương đối dầy đủ.

Linux Mint 7 “Gloria”

Phần mềm

Linux Mint dùng lại toàn bộ các kho phần mềm (repositories) của Ubuntu và bổ xung thêm một số kho riêng. Các phần mềm không phải nguồn mở nhưng cần thiết đều được cài sẵn (multimedia codecs, java, flash, zip, unrar, …). Trong Ubuntu, những phần mềm này chỉ có sau khi cài ubuntu-restricted-extra hoặc perfectbuntu.
Các phần mềm ứng dụng cũng được chọn lọc tương đối đủ. Một ví dụ: một trong những phần mềm hay là Okular dùng xem và ghi chú file PDF (đã giới thiệu trong một post trước) mặc dù viết cho KDE4 nhưng cũng đã được cài sẵn trong Linux Mint.  Vì vậy cài xong chỉ cần bổ xung bộ gõ tiếng việt scim-unikey (cách cài giống như với Ubuntu 9.04) là dùng được ngay cho các nhu cầu văn phòng thông thường.
Trên site của FPT (http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ ), Linux Mint chỉ mới có vỏ (tên thư mục) mà không có ruột.

Menu chính

Menu chính (nhấn vào nút Menu ở góc trái bên dưới màn hình) là cải tiến lớn nhất trong phiên bản này. Hiện có hai dạng menu phổ biến: menu kiểu cổ điển của GNOME và KDE3, di chuột đến đâu hiện lên menu con đến đấy và menu kiểu “kick-off” mà một số bản Linux KDE4 hiện đang dùng (Mandriva, openSUSE), có thể phải kích đến ba lần chuột mới đến được chỗ cần (vì chỉ có một màn hình với một cột). Mỗi kiểu đều có cái hay cái dở riêng. Menu chính của Linux Mint tổ hợp được những cái hay của hai kiểu menu trên và bổ xung thêm một số tính năng.
Khi nhấn lần đầu vào nút Menu, menu chính hiện ra như hình dưới gồm hai cột. Cột bên trái có các thư mục hay truy cập và một số phần mềm, lệnh hệ thống. Cột bên phải là Favorites, các phần mềm hay dùng. Danh sách Favorites có thể thêm bớt tùy ý. Cũng có thể thêm cột thứ ba bên phải là Recent Documents để mở các tài liệu gần đây cho nhanh (nhấn chuột phải vào menu, chọn Preferences rồi chọn Show recent documents trong tab Options).

Nếu cần tìm các phần mềm khác thì nhấn All applications, cột bên phải sẽ chia thành hai cột gồm các nhóm ứng dụng và danh sách ứng dụng trong nhóm, di chuột đến tên nhóm nào hiện lên nhóm đó ở cột bên phải theo kiểu menu cổ điển nhưng trực quan hơn. Bên dưới tên mỗi phần mềm có một dòng mô tả ngắn (xem hình dưới).

Dưới đáy màn hình là Filter. Nếu không muốn di chuột tìm thì gõ vào đó vài từ trong tên ứng dụng để tìm.
Nếu ứng dụng cần tìm không có trong menu, tức là chưa được cài, sẽ xuất hiện cột Suggestions (đề xuất) như hình dưới.

Search portal sẽ dẫn bạn đến site phần mềm (www.linuxmint.com/software) để tìm. Search repositories sẽ tìm trong các kho phần mềm của Ubuntu và Linux Mint (đã được enable). Show package cho hiện các thông tin chi tiết về gói phần mềm (nếu có). Install package sẽ cài gói phần mềm đó nếu có sẵn trong các kho. Nói tóm lại menu chính sẽ kiêm một số chức năng của trình Package Manager.

Menu chính mặc định có thể mở bằng cặp phím Ctrl+Start (phím Start có logo của Microsoft còn gọi là Windows key. Trong linux phím này gọi là Super_L) và đóng lại bằng phím Start hoặc Esc. Có thể đặt phím khác tùy ý.

Software Manager

Ngoài trình quản lý các gói phần mềm (package manager) Synaptic như Ubuntu, Linux Mint có trình quản lý phần mềm riêng mintInstall cho phép tìm kiếm, xem xét trước khi cài các phần mềm ứng dụng hoàn chỉnh (trên menu là Software Manager).
Điểm mới lần này so với phiên bản Linux Mint 6: danh mục một số phần mềm phổ biến, hiện chưa cài (Featured applications), tự động hiển thị các thông tin và màn hình xem trước của phần mềm (xem hai hình dưới đây).

Nhấn vào ảnh màn hình (screenshot), ảnh sẽ được phóng to để xem kỹ hơn. Khi nhấn nút More Info, màn hình sau xuất hiện cho biết khá chi tiết về phần mềm.

Tóm lại Software Manager giống như một cửa hàng, vừa giới thiệu các loại hàng bán chạy (featurred applications), vừa cho xem kỹ hàng cả về hình thức lẫn các thông tin chi tiết trước khi chọn mua (cài đặt lên máy).

Một vài cải tiến khác

Firefox được cài sẵn Moonlight plugin, phiên bản nguồn mở của Microsoft Silverlight. Tuy nhiên hiện Moonlight chỉ mới đến bản 1.0 do đó ví dụ chưa xem được site media của báo Thanh niên (dùng Silverlight 2.0). Hiện cũng đã có bản Moonlight 2.0 Preview nhưng chưa được tốt.

Các file multimedia nhúng trong Firefox xem bằng gecko-mediaplayer plugin (đã cài sẵn). Plugin này khá hơn mozila-mplayer là khung hình giữ nguyên vị trí trong trang web. Ví dụ khi xem trang media của báo Tuổi trẻ (media.tuoitre.com.vn), nhấn chuột phải vào thanh điều khiển, chọn Preferences rồi Video output chọn gl, Audio output chọn alsa sẽ xem được. Trước đây dùng mozilla-mplayer thì xuất hiện màn ảnh phụ, giao diện cũng kém hơn.

Bổ xung thêm lệnh inxi chạy trong terminal cho biết khá nhiều thông tin hệ thống (xem hình dưới)

Screenshot-Terminal

Tính năng power management chạy khá tốt. Để laptop chạy không một thời gian định trước, Linux Mint tự động suspend to ram (hoặc disk) và khi nhấn nút Power khôi phục lại trạng thái cũ trơn tru.
Sau một thời gian dùng thử, Linux Mint chạy khá ổn định.
Chỉ có bộ gõ tiếng Việt scim-unikey đôi khi bị đơ không gõ được trong Firefox. Khởi động lại Firefox thì lại gõ được.
Control Center cũng giống Ubuntu và thua xa Mandriva về khả năng cấu hình đơn giản, dễ dàng. Ví dụ cả Ubuntu và Mint đều cho phép người dùng bình thường mount các partition khác, nhưng mỗi lần khởi động phải nhấn nút vào biểu tượng partition trong Computer để mount lại. Muốn mount tự động (ví dụ với partition chứa My Documents của Windows) phải biết cách sửa file fstab. Mandriva có thể mount tạm thời hoặc vĩnh viễn bằng Local disk trong Control Center không cần dùng lệnh.
Nếu Ubuntu và Linux Mint kết hợp được Control Center của Mandriva thì hoàn chỉnh.

Vài thứ về Ubuntu, Kubuntu

1- Làm việc với hai màn hình

Trong Ubuntu đã có chương trình randr (giao diện dòng lệnh) để chỉnh độ phân giải màn hình khi kết nối máy tính vào thêm một màn hình ngoài. Cài thêm giao diện đồ họa (front end) của nó là grandr (có sẵn trong kho phần mềm, tìm và cài bằng Synaptic), chương trình này xuất hiện trong menu System -> Administration -> Multiple Screens.

Dùng chương trình này có thể cắm notebook đã bật sẵn vào màn hình ngoài, bật và chỉnh độ phân giải màn hình ngoài mà không cần khởi động lại hệ điều hành.

Cách làm trên cũng đúng cho mọi hệ Linux Gnome. Tuy nhiên có điều lạ là openSUSE Gnome không có sẵn phần mềm này trong kho phần mềm của nó.

Các hệ Linux KDE cũng có phần mềm tương tự là KRandR và thường được cài sẵn.

2- Perfectbuntu đầy đủ hơn ubuntu-restricted-extra.

Khi cài xong Ubuntu, phải cài thêm vài thứ tập hợp trong gói ubuntu-restricted-extra (multimedia codecs, font Windows, Java, Flash plugin, DVD playback). Theo hướng dẫn tại đây, còn có thể cài một lần cho xong ngoài những thứ vừa nêu, nhiều thứ cần thiết khác bằng một chương trình dưới dạng script là Perfectbuntu.

Tải file về theo cách hướng dẫn ở cuối trang nói trên hoặc tải file perfectbuntu tại đâytại đây. Mở Terminal tại thư mục có chứa file rồi chạy lệnh sudo perfectbuntu.

Chương trình sẽ nêu ra lần lượt các câu hỏi để bạn tự quyết định. Khi hỏi xong, nó sẽ add các kho phần mềm cần thiết, tải các gói phần mềm đã chọn về cài. Vì là mã script nên bạn có thể xem và sửa nội dung Perfectbuntu dễ dàng. Chương trình dùng cho Ubuntu từ 8.04 đến 9.04 cả 32 lẫn 64bit. Tôi chưa thử nhưng có lẽ cũng dùng được cho cả Kubuntu.

3- Tinh chỉnh Ubuntu bằng Ubuntu Tweak

Ubuntu Tweak là một bộ công cụ “điều khiển” Ubuntu rất có ích, bổ xung nhưng cái mà Ubuntu không có, gồm các mục:

Computer: một số thông tin hệ thống

Applications: cài đặt một số phần mềm chọn lọc, sửa danh mục các kho phần mềm, dọn dẹp làm sạch một số thứ liên quan đến các gói phần mềm đã cài.

Startup: quản lý các chương trình tự khởi động

Desktop: chỉnh trang màn hình Desktop.

Personal: chỉnh nhiều thứ theo ý người dùng.

System: chỉnh một số thứ thuộc về hệ thống.

Tải về và xem thêm thông tin tại đây.

4- Kho driver card màn hình cập nhật

Trong một post trước tôi có dịch một bài viết nói về tình trạng driver màn hình Intel hiện nay. Nếu bạn thật sự cần những driver màn hình mới nhất (Intel, NVIDIA, ATI, …) hãy xem dự án này (cho cả Ubuntu và Debian). Kho các driver màn hình dành cho Ubuntu, Kubuntu có tại đây.

Nhấn vàoSystem > Administration > Software Sources, nhấn tiếp vào tab”Third-party Software” rồi copy và paste hai kho sau:
deb http://ppa.launchpad.net/xorg-edgers/ppa/ubuntu jaunty main
deb-src http://ppa.launchpad.net/xorg-edgers/ppa/ubuntu jaunty main
Nhấn vào link này copy toàn bộ khối ký tự từ  BEGIN PGP PUBLIC KEY BLOCK đến hết, paste vào một file text. Nhấn vào tab Authentication, nhấn tiếp vào Import Key file rồi tìm đến file vừa tạo để nhập key vào.

Nhấn tiếp vào nút Reload để cập nhật danh sách phần mềm, đóng màn hình lại. Nhấn vào menuSystem > Administration > Synaptic Package Manager rồi nhấn nút Mark All Upgrade để cài driver màn hình mới nhất.

5- Nautilus scripts

Trình quản lý file Nautilus có nhiều script mở rộng các tính năng tập hợp tại đây. Có thể tải file này về, giải nén thành thư mục nautilus-scripts rồi copy toàn bộ thư mục đó vào thư mục ẩn /home/<username>/.gnome. Đóng Nautilus lại rồi mở ra, nhấn phím phải chuột vào một thư mục hay file, trong menu con (service menu) xuất hiện sẽ có rất nhiều lệnh có ích. Không thích lệnh nào có thể mở thư mục nói trên xóa bớt đi.

6- Service menu của Dolphin

Tải tại đây hai file:

kde4-servicemenu-extract-and-compress_1.4.4~jaunty~ppa1_all.deb

kubuntu-servicemenu-rootactions_2.4.3~jaunty~ppa1_all.deb

và cài để có các lệnh bổ xung vào service menu của Dolphin (trong Kubuntu 9.04)

Ubuntu 9.04 và card màn hình Intel

2 May 2009, 11:31

Ubuntu 9.04 and Intel graphics

by Dr. Oliver Diedrich

Lược dịch Zxc232

Đối với người dùng Linux không cần đến tốc độ 3D cực cao, card màn hình Intel là giải pháp ưu thế, ít nhất là vì công ty phát triển driver dưới dạng nguồn mở trong khuôn khổ dự án X.org. Tuy nhiên hiện nay, việc phát triển các driver card màn hình Intel đang ở tình trạng lộn xộn (do chưa theo kịp tiến bộ công nghệ -ND)

Trong release note của Ubuntu 9.04 công nhận rằng driver Intel bị giảm tốc độ (“performance regressions”) thậm chí một số loại chíp card màn hình Intel còn làm cho X Server bị treo. Cách khắc phục tạm (workaround) xem tại đây.

Vấn đề trên có nhiều triệu chứng khác nhau. Một số người dùng Ubuntu báo cáo rằng video Flash chạy ở chế độ toàn màn hình bị giật, game 3D chạy rất chậm, nếu kích hoạt các hiệu ứng 3D thì màn hình khó sử dụng và trong trường hợp xấu nhất, khi di chuyển cửa sổ chậm đến mức máy tính hầu như treo. Chúng tôi cũng quan sát thấy một số hiệu ứng đó khi test các card màn hình Intel.

Các driver đồ họa Intel hiện vẫn đang được phát triển. Trong nhân Linux version 2.6.28 (dùng trong Ubuntu), trình quản lý thực hiện đồ họa (Graphics Execution Manager – GEM) được chuyển vào trong nhân. Điều đó nghe có vẻ đơn giản và tăng hiệu quả quản lý bộ nhớ màn hình của X Server nhưng yêu cầu driver đồ họa phải thay đổi.

Trong phiên bản nhân Linux mới nhất version 2.6.29 (Mandriva 2009.1 dùng nhân này -ND), chức năng điều khiển card màn hình Intel được chuyển giao cho kernel (kernel-based mode setting – KMS). Thay cho X Server, nhân Linux sẽ thiết lập cấu hình đồ họa, tạo nên hiệu quả lớn với driver đồ họa. Theo nhà phát triển Keith Packard của Intel, khoảng một nửa mã driver đồ họa Intel chịu trách nhiệm thiết lập cấu hình.

Ngoài ra, X.org cũng đưa vào một hệ thống gia tốc 3D mới Direct Rendering Infrastructure 2 (DRI2)  thay cho các hệ thống gia tốc 3D cũ. Intel cũng đang phát triển một hệ thống gia tốc 2D mới có tên là UXA tận dụng các ưu điểm của GEM. UXA sẽ thay cho EXA và kiến trúc XFree86 cũ (XXA).

Như Packard đã tính toán một cách đầy hy vọng, GEM hay không GEM (điều khiển đồ họa bằng kernel hay bằng driver), bốn cách gia tốc 2D khác nhau (không gia tốc, XAA, EXA, UXA) và ba cách gia tốc 3D (không gia tốc, DRI, DRI2) tạo nên 48 tổ hợp lý thuyết mà driver cần đáp ứng. Ngoài ra còn một khó khăn khác: driver cần phải kiểm soát được một dải rộng các bộ xử lý đồ họa của Intel và các version khác nhau của cùng một bộ xử lý. Tất cả những điều đó làm cho việc test thử một cách có hệ thống gần như là điều không thể.

Mục đích cuối cùng của tất cả các phát triển trên là dùng GEM, kernel đặt cấu hình đồ hoạ, DRI2 và UXA để giảm nhẹ vai trò của driver và tăng tốc đồ hoạ. Các vấn đề nảy sinh là ở quá trình chuyển tiếp công nghệ: kernel trước đời 2.6.29 (không có KMS hoặc không có cả KMS và GEM), vẫn còn đang được dùng trong hầu hết các bản Linux hiện tại.

Ubuntu 9.04 rơi vào đúng giai đoạn chuyển tiếp sống còn đó. GEM có, KMS không, EXA và DRI bị disable, UXA và DRI2 vẫn còn đang loạng choạng và hình như không có ai biết rõ tổ hợp nào trong các công nghệ nói trên chạy nhanh nhất và ổn định nhất với bộ xử lý màn hình nào. Danh sách dài những kinh nghiệm mâu thuẫn nhau có trong Ubuntu’s UXA testing cho thấy không có nhiều hy vọng là sẽ có câu trả lời sớm. Vì vậy mà lời khuyên trong Ubuntu release notes khá mơ hồ: “Một số người dùng thấy có thể tăng tốc độ bằng cách…” hoặc “cải thiện được đáng kể tốc độ trong một số trường hợp…” hoặc “có thể không may gặp những vấn đề nghiêm trọng về ổn định hệ thống…”. Người dùng gặp những vấn đề đó không có cách nào khác ngoài cách thử các lời khuyên khác nhau và hy vọng sẽ tăng được tốc độ màn hình mà không có hiệu ứng phụ quá đáng nào. Cũng có cả một mục Hướng dẫn sửa lỗi đưa ra vài thủ thuật.

Điều đáng buồn là sự cố trên lại xảy ra với Intel. Trong nhiều năm ròng, người dùng Linux không cần tốc độ đồ họa 3D cao đã được khuyên dùng card màn hình Intel vì Intel là một công ty mẫu mực đã phát triển các driver màn hình nguồn mở cho Linux trong khuôn khổ dự án X.org. Hai nhà sản xuất card màn hình lớn khác là Nvidia và AMD chỉ cung cấp driver Linux nguồn đóng.

Thêm vào đó, từ khi giới thiệu nền tảng Centrino đầu năm 2003, Intel đã không ngừng tăng thị phần trong thị trường card màn hình laptop, gần một nửa số laptop hiện nay dùng card màn hình có bộ vi xử lý Intel. Với máy PC để bàn có card màn hình Intel onboard, trong trường hợp cần bạn có thể cắm thêm card màn hình rời AMD hoặc NVIDIA, nhưng với laptop thì bạn phải chung sống với card màn hình onboard.

Hy vọng duy nhất hiện nay là các nhà phát triển phần mềm nhanh chóng sửa được các vấn đề trên và Ubuntu sẽ được cập nhật khi đã sửa xong. Nếu không tiếng tăm của Ubuntu có thể bị ảnh hưởng.

Lời người dịch: đúng là gần đây khi thử K/Ubuntu 9.04, Mandriva 2009.1, có gặp một số trục trặc về màn hình. Té ra là do  driver màn hình Intel chưa theo kịp tiến bộ công nghệ. Vậy tốt nhất với laptop là cứ dùng các phiên bản Linux cũ, với PC thì tùy. Tôi dùng Ubuntu 9.04 cho các ứng dụng văn phòng (card onboard của Intel) thì không thấy có vấn đề gì.

Ubuntu 9.04 (Jaunty Jackalope)

Một vài nhận xét nhanh.

Download: vì đã có site của FPT (http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu-releases/jaunty/) nên tải về tương đối nhanh (tải qua Wifi của Viettel khoảng 1 tiếng, thanks FPT). Tuy nhiên khi dùng Kubuntu 9.04 để tải bị lỗi 2 lần:

Lần 1: tải về bằng DownThemAll của Firefox, bỏ đi chơi, lúc quay lại thấy báo lỗi size mizmatch…)

Lần 2: tải lại vẫn trong Kubuntu 9.04, gần xong thì đèn ổ cứng đỏ liên tục, máy treo cứng. Ctrl+Esc để xem System Monitor không thấy có hiện tượng gì, không có process nào chiếm CPU hoặc RAM.

Lần 3: tải về từ Mandriva 2009.0. Xong. Hơi nghi ngờ độ ổn định của Kubuntu.

Các màn hình cài đặt của Ubuntu và Kubuntu giống nhau. Có 3 chế độ cài: xóa hết chỉ cài Ubuntu, cài chung với các hệ đã có và cài tự chọn partition. Trong chế độ thứ hai, Ubuntu rất phân biệt đối xử: nếu trên máy đã có Ubuntu 8.10 và PCLinuxOS chẳng hạn, nó để nguyên Ubuntu 8.10, dồn nhỏ PCLinuxOS lại để lấy chỗ cài vào đó. Màn hình partition hơi khó nhìn, phải soi kỹ mới hiểu được.

Repositories mặc định chọn sẵn là Server for Vietnam (nhưng ở tây). Chọn Other rồi cuốn xuống dưới cùng thì chọn được site của FPT. Mặc dù site này nhanh nhưng vẫn còn nghi ngờ về chất lượng cập nhật (rsync) vì khi mở site của Ubuntu đến phần này nó báo là status về sychronize là unknow (cũng là thứ băn khoăn về chất lượng dịch vụ của VN nói chung).

Trước đây hay dùng Kubuntu thấy tìm kiếm phần mềm bằng Adept Manager rất tốt. Trong Ubuntu có hai chỗ để tìm và cài phần mềm (hai giao diện của cùng apt): Synaptic (System -> Administration -> Synaptic Package Manager) và Add/Remove (Applications -> Add/Remove). Gặp hai lỗi về search:

1- Tìm codecs hỗ trợ mms của Microsoft. Trong Synaptic gõ mms vào cả Quick Search và Search đều không thấy. Trong Add/Remove gõ mms thì tìm được Gstreamer plugins for mms …

2- Sau khi đã add launchpad để cài scim-unikey như hướng dẫn trên http://forum.ubuntu-vn.org/index.php, tìm scim-unikey để cài thì không thấy dù đã Reload (ở cả Synaptic và Add/Remove). Khi tải scim-unikey từ http://code.google.com/p/scim-unikey/downloads/list về cài thì  bị báo là “trong kho có rồi sao không cài?”.

Khác với Kubuntu 9.04, gói ubuntu-restricted-extras cài được. Nên cài gói này ngay từ đầu. Tuy nhiên, gói này bảo có cài Java nhưng thực tế thì không, phải tìm cài riêng (các bản Ubuntu trước không bị thế).

Về cơ bản, Ubuntu 9.04 Desktop không  có thay đổi gì lớn so với trước ngoài việc cập nhật các phần mềm mới nhất (Kernel, Gnome, OpenOffice,…). Thời gian khởi động được quảng cáo là nhanh hơn nhưng thực tế cũng không thấy rõ.

Đã thử các cách gõ tiếng Việt sau:

  1. xvnkb: cài bản xvnkb_0.3-2ubuntu710_i386.deb, khởi động lại bị lỗi không vào màn hình đồ họa được.
  2. x-unikey-0.92 (bản ổn định nhất của x-unikey) bị lỗi dấu nặng (gõ chữ j không ra dấu nặng).
  3. x-unikey-1.04 gõ được trên Firefox, OpenOffice nhưng không gõ được trên Evolution.
  4. VIT (bộ gõ dùng engine unikey và giao diện xvnkb, xem tại đây): không tự khởi động, chạy file /etc/init.d/vit.sh cũng không gõ được. Bản này thấy tác giả nói là chạy tốt trên Ubuntu 8.04 và 8.10.
  5. scim: gõ được. Cách cài: System -> Adminstration -> Language Support -> Install/Remove Languages. Chọn tiếp Vietnamese để cài các gói scim. Trong màn hình Language nhớ chọn mục Use IME to enter complex characters. Sau đó tải file scim-unikey về cài như nói ở trên.

scim-unikey gõ được trong Firefox, OpenOffice, Evolution. Các lỗi gõ chèn trong Calc và gây crash OpenOffice hình như đã được tác giả khắc phục. Tuy nhiên vẫn còn lỗi của bản thân x-unikey-1.04: đang gõ bị mất tiếng Việt. Ổn định nhất có lẽ là copy thêm file vi-telex-locdt.mim vào /usr/share/m17n, nhưng cách gõ này luôn phải nhớ kết thúc từ. Bộ gõ có ổn định không phải thử nhiều mới biết được, trên đây chỉ thử sơ bộ.

Khi cài trên một máy để bàn có hai card LAN (card onboard Gigabyte RTL8111 và card rời Surecom RTL8139), Ubuntu cấu hình IP tĩnh được card onboard, không cấu hình được card rời. Kubuntu 9.04 cũng trên máy đó lại cấu hình được card rời, không cấu hình được card onboard (hơi lạ, vì về nguyên tắc phải lỗi như nhau). Mandriva cấu hình được cả hai card.

Khi cài trên notebook rồi nối với màn hình LCD ngoài, Ubuntu và Kubuntu đều chỉ đặt màn hình ngoài ở độ phân giải 1024×768 và màn hình notebook không đặt đúng, bị co ngang. Tuy nhiên, Kubuntu có trình KRand chỉnh được lên 1280×1024 (và giảm xuống) và chỉnh được màn hình notebook. Trong Ubuntu chưa biết chỉnh thế nào (Display không cho chỉnh quá 1024×786). Mandriva nhận đúng cả hai màn hình.

Update 28/4/09: trên một máy để bàn, khi cho đĩa CD vào ổ, trong Ubuntu 9.04 không thể mở Nautilus để xem thư mục Home, chưa nói đến xem nội dung đĩa CD. Chạy Nautilus từ terminal báo lỗi “Segmentation fault”, lỗi truy cập bộ nhớ không được phép. Khi bỏ đĩa CD ra thì lại mở được Nautilus bình thường. Cũng trên máy đó và đĩa CD đó, khi chạy các hệ khác như Mandriva, Kubuntu 9.04, Kubuntu 8.10, vẫn mở được các trình duyệt file và xem được nội dung đĩa. Không hiểu có phải do mấy bộ tiếng Việt cài vào dù đã gỡ ra còn sót không hay lỗi của Ubuntu?

Ubuntu cho phép user mount các partition khác trên ổ cứng đơn giản: chỉ cần nhấn chuột vào biểu tượng partition trong Nautilus. Tuy nhiên khi khởi động lại thì phải mount lại. Muốn mount cố định phải sửa file /etc/fstab. Kubuntu và Mandriva đều có trình cho phép dùng quyền root để mount, tự động sửa file fstab luôn nếu muốn. Trình này trong Mandriva đơn giản và trực quan hơn Kubuntu.

Ubuntu mới có trình Janitor để dọn dẹp hệ thống file, sửa chữa các file cấu hình. Chưa tìm hiểu kỹ nên chưa rõ tác dụng.

Ubuntu dùng Gnome nên nhẹ, chạy nhanh, giao diện chân phương phù hợp để làm việc và có lẽ sẽ ổn định hơn Kubuntu với KDE4 còn đang độ lớn. Nhìn chung các bản Gnome dù không đẹp như KDE nhưng nhẹ, nhanh hơn.

Tóm lại, Ubuntu lần này vẫn còn hơi lủng củng chưa xứng với tiếng tăm và mức độ phổ biến mà nó có. Ưu điểm lớn nhất là đội ngũ fan đông đảo kể cả ở Việt nam và số lượng phần mềm trong kho lớn, có sẵn. Trong giai đoạn này, dùng Mandriva vẫn hơn.

Kubuntu 9.04 (Jaunty Jackalope)

Kubuntu 9.04 (và các bản khác của dòng Ubuntu: Ubuntu, Xubuntu, …) vừa chính thức ra đời ngày 23/4/2009. Dưới đây là vài nét điểm nhanh.

Tên mã của phiên bản 9.04 là Jaunty Jackalope. Jackalope theo wikipedia là một con vật tưởng tượng giống một con thỏ có sừng nai, không dịch sang tiếng Việt được.

Tải về tại http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu-releases/kubuntu/jaunty/

Cài đặt: cài đặt cũng thông thường như Kubuntu 8.10. Cách biểu diễn các partition màu mè nhưng khó nhìn so với trước đây và với một số hệ Linux khác. Hiện đã chính thức hỗ trợ hệ thống file ext4 (xem bài Các hệ thống file nhật ký của Linux trên blog này).

Kubuntu 9.04 dùng KDE 4.2 có cải tiến và nhuyễn hơn bản 4.0. Tuy nhiên, khởi động  khá chậm, kể cả trên máy cấu hình cao.  Bản Kubuntu 8.10 với KDE 4.0 bị kêu nhiều nên phải ra bản Kubuntu 8.04.2 dùng KDE 3.5. Trang download giới thiệu cả hai bản Kubuntu 9.04 và 8.04.2:

  • Kubuntu 9.04 – Featuring the cutting edge KDE 4 and maintained until 2010
  • Kubuntu 8.04 – Featuring the mature KDE 3 and maintained until October 2009

Trên máy notebook Dell Inspiron 700m, nhận biết và cài wifi tốt. Nhưng trên một máy để bản, không nhận được card LAN onboard, phải cài card rời.

Trong bản 9.04 này, kho phần mềm của FPT đã được chính thức đưa vào danh sách các kho của Ubuntu. Trong KPackageKit -> Settings -> Edit Software Sources -> Download from, chọn Other rồi cuốn xuống dưới cùng ở mục Vietnam chọn kho này. Tốc độ download khá nhanh.

KPackageKit được dùng thay cho Adept Manager để quản lý các gói phần mềm. Phần mềm này đẹp nhưng thiếu nhiều tính năng so với Adept Manager. Ví dụ: không cho biết tổng dung lượng tải về, không hiển thị chi tiết quá trình tải từng gói, không có dấu hiệu báo gói bị BREAK, v.v… Chắc phải đợi các phiên bản sau.

Kiểu quản lý kho phần mềm vẫn theo cũ: mỗi lần chỉ chọn một kho, nếu kho đó đứt phải chọn lại kho khác bằng tay. Cách quản lý kho theo mirror list của Mandriva có vẻ tốt và tin cậy hơn về lý thuyết, tuy thực tế thì không được như vậy.

Đặc biệt trong các bản K/Ubuntu trước có gói k/ubuntu-restricted-extras cài toàn bộ các gói không nguồn mở như flashplayer, java, msttcorefonts, multimedia codecs, unrar, …rất tiện. Trong bản 9.04 vẫn thấy có gói đó nhưng dung lượng có 4,9KB, cài xong chẳng thấy có tác dụng gì. Các gói trên phải cài riêng rẽ.

Gõ tiếng Việt vẫn dùng được x-unikey:

  1. Tải file x-unikey-0.92.i386.ubuntu.deb (844,1KB) tại đây.
  2. Nhấn vào file đó để cài.
  3. Mở thư mục Home của user đang login (/home/<username> ) bằng Dolphin. Nhấn vào menu View, chọn Show Hidden Files.
  4. Nhấn vào file ẩn .profile để mở file đó bằng Kate. Copy ba lệnh dưới đây rồi paste vào cuối file:
    • export LANG=en_US.UTF-8
      export XMODIFIERS=”@im=unikey”
      export GTK_IM_MODULE=xim
  5. Tạo shortcut cho unikey tự khởi động trong thư mục ẩn Home/.kde/Autostart.

Đã thử gõ được tiếng Việt trong Firefox, KMail, OpenOffice (trước khi gõ vào một ô của Calc vẫn phải nhấn F2 để tránh lỗi mất chữ).Chưa biết khi gõ nhiểu thì có gặp lỗi gì không.

Đã thử cài scim nhưng trục trặc chưa dùng được, cần tìm hiểu thêm.

OpenOffice hiện đã là bản 3.0.1, một tiến bộ muộn màng của Ubuntu.

System Settings khá hơn bản 8.10, bổ xung thêm một số mục dùng được nhưng vẫn kém System Settings của KDE3 (không có mục quản lý các partition, phần network cũng thiếu một số tính năng, …). Muốn mount tự động một partition phải sửa trực tiếp file /etc/fstab.

Giao diện KDE4 thì đương nhiên đẹp, font chữ hiển thị đẹp hơn OpenSUSE nhưng chưa bẳng Mandriva. Power Management tốt hơn Mandriva. Tuy nhiên để nguyên chế độ mặc định thì KDE4 chạy hơi chậm.

Khi mở trình chơi nhạc Amarok lần đầu, nó sẽ đề nghị cài thêm một số gói để hỗ trợ MP3, flash,… Tuy nhiên để chạy multimedia trên Firefox tốt nhất là cài thêm smplayer và mozilla-mplayer. Trình Media Player nên dùng là SMPlayer, hỗ trợ nhiều codecs và giao diện cũng khá.

Điểm qua vài hệ Linux gần đây

Kubuntu 8.04.2

Kubuntu 8.04.2 là bản cập nhật của 8.04 KDE3, với lời thừa nhận rằng:” bản Kubuntu 8.10 KDE4 hiện chưa thích hợp cho mọi người dùng”. Nhóm Kubuntu có vẻ trầy trật với KDE4, ngay bản Jaunty sắp tới cũng có một phiên bản remix dùng KDE3.

Bản này cập nhật hơn 200 mục, nhẹ, ổn định, gõ tiếng Việt được bằng x-unikey-0.9.2. Không có gì mới hay nổi bật so với 8.04.

Update 28/4/09: bộ gõ unikey có một nhược điểm là khi gõ trên web (blog, gmail, …) không gõ nhanh được.

PCLinuxOS 2009

Sau gần hai năm (PCLinuxOS 2007 ra tháng 5/2007) đến nay PCLinuxOS mới ra được phiên bản mới: PCLinuxOS 2009.1 KDE3 và GNOME. Một hiện tượng đáng ngạc nhiên là mặc dù cập nhật chậm như thế nhưng trong hai năm qua, PCLinuxOS luôn nằm trong TOP10 của site DistroWatch, chứng tỏ sự quan tâm đến nó không giảm.

Trong thời gian đó, nội bộ nhóm phát triển có nhiều mâu thuẫn. Một bộ phận bỏ nhóm đi nơi khác. Như đã nhận xét trong một post trước, mô hình kinh doanh yếu của PCLinuxOS đã thể hiện rõ trong thời gian vừa qua.

Hai bản PCLinuxOS KDE3 và GNOME 2009.1 vẫn giữ nguyên được các ưu điểm cũ: thừa kế tính năng dễ dùng của Mandriva, cài sẵn các gói non-free và các phần mềm ứng dụng tương đối đầy đủ (trừ bản GNOME không có OpenOffice!), giao diện độc đáo và đẹp. Gõ tiếng Việt trên bản KDE3 vẫn dùng được x-unikey-0.9.2 ổn định không lỗi như x-unikey-1.0.4. Gõ tiếng Việt trên bản GNOME dùng scim với file vi-telex-locdt.mim.

PCLinuxOS chú ý đến những tiểu tiết sử dụng của người dùng Windows. Ví dụ trong bản KDE, nhấn phím phải chuột vào một thư mục có lệnh zip thư mục đó.

Tóm lại nếu muốn có một bản Linux đẹp để dùng (không phải để nghịch), cài đặt đơn giản thì nên chọn PCLinuxOS.

Nhược điểm lớn nhất là hai bản này chạy không thoát và nhanh như phiên bản cũ, nhất là trên các máy cấu hình thấp. Mô hình kinh doanh yếu tạo cảm giác không yên tâm.

openSUSE 11.1 (GNOME)

SUSE là một cây đại thụ trong làng Linux (bắt đầu năm 1996). Công ty hiện đang kinh doanh SUSE là Novell, một trong hai công ty Linux thành công nhất cho đến nay (công ty kia là RedHat). Chỉ đến năm 2005, theo mô hình Fedora của RedHat, Novell mới lập dự án openSUSE cho cộng đồng nguồn mở rộng rãi tham gia. Bản openSUSE nguồn mở miễn phí, luôn tích hợp các công nghệ và phần mềm mới nhất để làm con chuột thí nghiệm cho Novell lấy ý kiến từ người dùng, rút kinh nghiệm xây dựng bản SUSE Enterprise Linux bán cho các khách hàng doanh nghiệp.

Quá trình cài đặt và cấu hình openSUSE phức tạp và hoành tráng hơn các bản Linux phổ biến khác nhiều. Trong mỗi bước thực hiện, có nhiều những options, những thông số, những khái niệm để lựa chọn. Thực ra, những cái đó trong các bản Linux khác cũng có nhưng thường được ẩn đi theo những lựa chọn mặc định.Vì vậy nếu định tìm hiểu hơi sâu về Linux dùng openSUSE rất có ích.

Toàn bộ quá trình cài đặt và cấu hình dựa trên một công cụ trung tâm là YaST (Yes another Setup Tool). YaST có cả hai loại giao diện: giao diện đồ hoạ trên nền KDE hoặc Gnome và giao diện đơn giản chạy trên nền terminal (kiểu như giao diện các chương trình chạy trên nền DOS).

Control Center của openSUSE có lẽ là phong phú đầy đủ nhất trong các bản Linux. Trong đó có cả những tính năng mà chỉ do quan hệ với Microsoft mới có như Windows Domain Member. Dễ dùng thì không bằng Mandriva vì các mục cấu hình không ở dạng wizard như Mandriva nhưng số lượng mục cấu hình nhiều hơn (Ví dụ có các mục /etc/sysconfig Editor, Kernel Settings chắc không mấy user thường dám thử) và chi tiết hơn (ví dụ các Network Services).

Trình quản lý phần mềm (Software Manager) có vẻ chặt chẽ bài bản nhưng cũng phức tạp, rắc rối hơn các bản Linux khác. Mỗi lần chạy, nó đều tự động kết nối và kiểm tra lại danh sách các gói phần mềm hiện có trong các kho, hơi lâu nhưng cẩn thận (các bản Linux khác, phần này thường không tự động). Khi có xung đột, nó đưa ra ba bốn lựa chọn chắc sẽ làm cho user thường hoa mắt. Đặc biệt nó kiểm tra rất kỹ chữ ký số của các gói phần mềm, thấy lạ là hỏi. Quá trình cài đặt hiện lên màn hình thành bốn năm bước, cho cảm giác rất cẩn thận.openSUSE dùng dạng đóng gói file cài đặt là rpm.

Khi update phần mềm, các file tải về đều có tên delta RPM. Theo suy đoán thì có lẽ đây là các bản vá (patch) vào các gói đã có. Nếu đúng vậy thì dung lượng tải về sẽ nhỏ hơn là tải toàn bộ gói mới như phần lớn các bản Linux hiện đang dùng.

Tuy thế cũng vẫn có những lỗi khó hiểu. Khi lần đầu tìm cài thêm FreeFont, ta phải cài thêm cả đống phần mềm khác mà không hiểu tại sao. Chắc là trong cách thiết lập dependencies có lỗi. Mandriva cũng có lỗi kiểu này: thỉnh thoảng sau khi gỡ một phần mềm nào đó, nó hiện lên thông báo một danh sách dài các phần mềm không cần nữa và bảo ta dùng urpme –auto-orphans gỡ đi, nhưng nếu nghe theo là đi luôn, phải cài lại từ đầu. Về quản lý phần mềm, đến nay có lẽ Kubuntu với trình Adept Manager vẫn là hay và tiện nhất.

Khi định chạy một file mp3 lần đầu tiên trong trình duyệt Firefox, openSUSE sẽ dẫn người dùng qua 5-6 màn hình với những lời giải thích rất kỹ lưỡng về codecs để cuối cùng yêu cầu cài gói codecs-gnome (tương tự như ubuntu-restricted-extras). Dân kỹ thuật ham hiểu biết sẽ thích nhưng người dùng thường thì choáng váng. Tuy vậy, chỉ có những công ty kinh doanh lớn, lâu đời mới làm tỷ mỷ được như vậy.

Tiếng Việt trong bản Gnome gõ được bằng scim (cài gói m17n rồi add thêm file vi-telex-locdt.mim vào thư mục /usr/share/m17n). Tuy nhiên thỉnh thoảng lại bị mất tiếng Việt phải Ctrl+Shift bật lại tiếng Việt mới gõ tiếp được.

Giao diện của openSUSE chân phương, không màu mè. Nhược điểm lớn nhất là menu chính (Computer). Menu này theo kiểu kick-off mới nếu không quen hơi khó dùng và phải nhấn chuột nhiều lần mới tới được chỗ cần. Một số bản Linux khác cho phép chuyển về kiểu menu cũ nhưng openSUSE thì không. Phải remove menu đó đi rồi chọn add  Traditional Main Menu vào panel.

Các phần mềm ứng dụng cũng tương tự như các bản Gnome khác. Riêng OpenOffice là bản riêng của Novell dựa theo bản OpenOffice nguồn mở của Sun, hình như hỗ trợ tốt VBA macro và các dịnh dạng file của MS Office 2007 hơn bản gốc.

Sau khi cài openSUSE lên một máy notebook Dell Inspiron 700m (cấu hình khá thấp) chạy vẫn tốt. Nhưng sau lần update đầu tiên, không khởi động được vào màn hình đồ hoạ nữa.

Cũng một lần dùng Boot Loader của Control Center để sửa Boot Menu, khi khởi động lại, máy báo “Error No Operating System” tức là MBR bị lỗi. May mà dùng cách trong post “Sửa một số lỗi Linux 1″ cứu lại được.

Những nhận xét trên đều dựa trên kinh nghiệm mới dùng openSUSE lần đầu được hai ba ngày. Nếu đã tương đối thạo Linux thì cũng nên thử cho biết. Nếu mới làm quen thì không nên.

Control Center của Ubuntu

Hóa ra Ubuntu cũng có một Control Center, không hiểu vì sao lại bị dấu đi.

  1. Nhấn phím phải chuột vào vùng menu trên panel. Chọn tiếp Edit Menu trong menu con xuất hiện.
  2. Trong màn hình “Main Menu”, nhấn chuột vào System ở cột bên trái. Trong cột bên phải sẽ thấy ba menu con của System là Preferences, AdministrationControl Center. Hai cái đầu đã được chọn, kích chuột vào ô checkbox bên trái Control Center để chọn nó. Đóng màn hình Main Menu lại.
  3. Kích chuột vào menu System trên panel ta sẽ thấy xuất hiện Control Center. Màn hình của nó như sau:

screenshot-control-center4Cũng vẫn là những mục đã có rải rác trong các menu của Ubuntu nhưng tập trung lại một chỗ, quen thuộc và dễ dùng hơn.

Linux Mint là bản dựa trên Ubuntu cũng có Control Center này cộng thêm vài cái phát triển thêm.

Cài máy in Canon trong Ubuntu Intrepid (8.10)

Một số máy in Canon sau đây: LBP-1120, 1210, 2900, 3000, 3200, 3210, 3300, 3500, 5000, 5100, 5300. dùng chung một driver CAPT của chính hãng. Driver này miễn phí nhưng nguồn đóng nên thường không được cài sẵn trong các bản Linux.

CHÚ Ý: driver CAPT chỉ dùng được khi máy in nối với máy tính qua cổng USB.

Một số máy in Canon khác (LBP1000, …) đã có sẵn driver trong Linux thì không cần theo hướng dẫn này.

Tuy nhiên cũng giống như Mandriva 2009.0, khi cắm và bật, ví dụ máy in Canon LBP-1210, Ubuntu sẽ nhận được máy và tự cài. Nhấn vào menu System Administration Printing ta sẽ có màn hình với máy in LBP-1210 đã cài, nhấn phím phải chuột vào đó, chọn Propeties, màn hình sau xuất hiện:

Phần Description đúng vì thông tin này do máy in cung cấp. Phần Make and Model sai vì hiện không có driver CAPT cài trên máy, Ubuntu sẽ chọn driver của LBP-1000 thay thế nhưng nếu in thì không in được.

Các hướng dẫn dưới đây về cơ bản theo hướng dẫn tại đây có sửa và bổ xung thêm chút ít.

1- Google search cụm từ “CAPT Printer Driver” ta sẽ tìm được ví dụ trang này có chứa driver cần tìm. Mở trang đó, cuốn xuống dưới cùng, tìm đến chỗ dưới đây ứng với driver version 1.60 (version mới hơn 1.80 không làm việc được với Ubuntu 8.10):

2- Nhấn vào dòng Canon CAPT Printer Driver for Linux (1.60) sang trang tiếp, cuốn xuống dưới đến mục sau:

3- Nhấn vào dòng CAPTDRV160.tar.gz để tải file đó về. Nhấn phím phải chuột vào file, chọn Extract Here, file được giải nén thành thư mục CAPTDRV160.

4- Mở thư mục CAPTDRV160/Driver/debian. Nhấn vào file cndrvcups-common_1.60-1_i386.deb để cài trước, sau đó nhấn tiếp vào file cndrvcups-capt_1.60-1_i386.deb để cài tiếp.

5- Khởi động lại máy tính để Ubuntu nhận các driver mới cài.

6- Mở Terminal, chạy lần lượt hai lệnh sau (copy hai lệnh sau rồi paste vào terminal cho nhanh và đỡ nhầm):

sudo /usr/sbin/lpadmin -p LBP1210 -m CNCUPSLBP1210CAPTK.ppd -v ccp:/var/ccpd/fifo0 -E

(lệnh viết liên tục thành một hàng, không xuống dòng) rồi Enter.

sudo /usr/sbin/ccpdadmin -p LBP1210 -o /dev/usb/lp0 rồi Enter.

    Lệnh đầu đăng ký máy in với trình quản lý hàng đợi  (print spooler). Lệnh thứ hai đăng ký máy in với ccpd (Canon Printer daemon for CUPS, trình quản lý máy in Canon).
    CHÚ Ý: hai lệnh sau viết ví dụ cho máy in Canon LBP-1210. Nếu cài máy in Canon khác phải thay các cụm LBP1210 bằng cụm tương ứng (ví dụ: LBP2900)
    Khi lệnh thứ hai thực hiện thành công, màn hình có thông báo như sau:

7- Chạy tiếp lệnh sau để backup file ccpd:

    sudo mv /etc/init.d/ccpd ccpdold

8- Copy toàn bộ đoạn mã lệnh sau đây:

#
# ccpd          startup script for Canon Printer Daemon for CUPS
#
#               Modified for Debian GNU/Linux
#               by Raphael Doursenaud <rdoursenaud@free.fr>
#               and Markovtsev Vadim  <markhor@mail.ru>

DAEMON=/usr/sbin/ccpd
LOCKFILE=/var/lock/subsys/ccpd
PATH=/usr/local/sbin:/usr/local/bin:/sbin:/bin:/usr/sbin:/usr/bin
NAME=ccpd
DESC="Canon Printer Daemon for CUPS"

test -f $DAEMON || exit 0

. /lib/lsb/init-functions

case $1 in
  start)
        log_begin_msg "Starting $DESC: $NAME"
        start-stop-daemon --start --quiet --exec $DAEMON
        log_end_msg $?
        ;;
  stop)
        log_begin_msg "Stopping $DESC: $NAME"
        start-stop-daemon --stop --quiet --oknodo --exec $DAEMON
        log_end_msg $?
        ;;
  status)
        echo "$DESC: $NAME:" 'pidof $NAME'
        ;;
  restart)
        log_begin_msg "Restarting $DESC: $NAME"
        start-stop-daemon --stop --quiet --oknodo --exec $DAEMON
        sleep 1
        start-stop-daemon --start --quiet --exec $DAEMON
        log_end_msg $?
        ;;
  *)
        echo "Usage: ccpd {start|stop|restart|status}"
        exit 1
        ;;
esac

exit 0

9- Quay lại màn hình terminal trên, chạy lệnh:

    sudo nano /etc/init.d/ccpd 

(trong đó nano là trình soạn thảo đơn giản. Nếu bị báo lỗi chưa có nano thì nhấn vào System – Administration – Synaptic Package Manager tìm cài nó vào máy.)

Nhấn vào menu Edit – Paste của màn hình terminal để paste toàn bộ các mã lệnh trên vào file ccpd. Nhấn tiếp cặp phím Ctrl+o (chữ o không phải số 0) để save kết quả lại rồi nhấn Ctrl+x để thoát khỏi nano.

10- Chạy tiếp lệnh sau trong terminal để gán quyền truy cập file ccpd cho mọi người:

    sudo chmod a+x /etc/init.d/ccpd

11- Khởi động ccpd:

    sudo /etc/init.d/ccpd start

12- Cho ccpd tự khởi động mỗi lần khởi động máy:

    sudo update-rc.d ccpd defaults 20

13- Chạy tiếp lệnh sau để khai báo ccpd với trình quản lý an ninh AppArmor:

    sudo gedit /etc/apparmor.d/usr.sbin.cupsd

Trong màn hình gedit

Copy hai dòng sau rồi paste xuống dưới dòng /var/spool/cups/**rw, (như hình trên):

# needed for Canon CAPT driver ###insert 
/var/ccpd/** rw, ###insert

Nhấn nút Save rồi đóng màn hình gedit lại.

14- Khởi động lại máy tính. Sau khi khởi động xong, nhấn vào System – Administration – Printing ta có hình sau:

Trong màn hình trên có hai máy in. Máy LASER-SHOT-LBP-1210 do Ubuntu tự cài không dùng được, nhưng nếu xóa đi, lần sau khởi động máy tính nó lại xuất hiện nên cứ để vậy. Máy thứ hai LBP1210 tương ứng với các động tác cài vừa xong. Nhấn phím phải chuột vào đó rồi chọn Propeties ta có:

Quan sát hình trên, nếu Device URI ccp:/var/ccpd/fifo0Make and ModelCanon LBP1210 CAPT ver 1.5 như trên là được.

Chú ý là mỗi máy in thuộc CAPT có hai driver khác nhau ở cuối tên có chữ K và chữ J. Có nhận xét cho biết trong Ubuntu 7.10 những driver K chiếm nhiều RAM (Ubuntu 8.10 thì không rõ). Nếu cần đổi driver làm như sau:

  • Nhấn vào nút Change ở hàng Make and Model, màn hình sau xuất hiện:

  • Chọn mục Provide PPD file (file driver có đuôi là ppd) rồi nhấn nút có biểu tượng thư mục, tìm đến thư mục /usr/share/cups/model rồi chọn driver như hình sau:

Sau khi chọn xong driver, quay lại màn hình Propeties, nhấn nút Print Test Page để thử.

Nếu không in được, thường là do ccpd không khởi động được. Mở terminal kiểm tra bằng lệnh:

sudo ps ax | grep ccpd

Kết quả như sau là được:

zxc@zxc-desktop:~$ sudo ps ax | grep ccpd
[sudo] password for zxc:
4639 ?        Ss     0:00 /usr/sbin/ccpd
4733 ?        Sl     0:00 /usr/sbin/ccpd
5714 pts/0    R+     0:00 grep ccpd

Nếu kết quả không giống như trên, thử lệnh sau để khởi động ccpd

 sudo /etc/init.d/ccpd start

Kết quả của lệnh phải như sau:

 * Starting Canon Printer Daemon for CUPS: ccpd                          [ OK ]

Nếu kết quả trên không báo [OK] mà báo [fail] thì bật tắt lại máy in rồi chạy lại lệnh trên.

Quay lại in thử. Nếu được là lỗi không tự khởi động được ccpd, lặp lại các lệnh từ bước 8 xem có sai sót gì không.

CHÚ Ý: vì luôn luôn có hai máy in: một máy LBP1210 cài như trên và một máy LASER-SHOT-LBP-1210 do máy tính tự cài nên phải nhớ là chỉ có máy LBP1210 dùng được. Trong màn hình ở bước 14, nhấn phím phải chuột vào LBP1210 rồi chọn Set As Default để đặt máy in đó là mặc định.

Trang trí màn hình Gnome Desktop trên Ubuntu

Trang trí màn hình Gnome Desktop trên Ubuntu

February 25, 2009 at 08:02:48 AM, by Blair Mathis

Nếu có điều gì mà Linux hay hơn các hệ điều hành khác thì đó là nó cho phép bạn trang trí màn hình desktop. Dường như có hai loại người dùng khác nhau: thích và ghét các hiệu ứng đồ họa. Bài viết này dành cho những người thích ánh sáng lấp lánh, vẻ đẹp huyền ảo và các hiệu ứng đồ họa khác muốn trang điểm màn hình Gnome desktop của mình.

Kích hoạt Compiz

a2

Compiz là mẹ của tất cả các hiệu ứng màn hình. Nó cho phép ghép nhiều desktop vào một khối lập phương xoay tròn, làm mờ, co rút, bùng nổ các cửa sổ màn hình, tạo hiệu ứng trời mưa, ngọn lửa và vô số những thứ khác nữa.

Nếu máy tính của bạn đủ mạnh để chạy được các hiệu ứng đó, kích hoạt nó bằng cách cài Advanced Desktop Effects Settings (còn gọi là Compiz Config Settings Manager – CCSM) từ kho phần mềm rồi cấu hình nó trong System > Preferences.

Trên YouTube có rất nhiều video về các hiệu ứng của Compiz, ví dụ xem tại đây.

Themes

a3

Theme là sản phẩm của mỗi thiết kế tốt; nó cho phép bạn thay đổi toàn bộ thiết kế các cửa sổ màn hình, sơ đồ màu, font và nhiều thứ nữa. Bản cài đặt mặc định có ít theme và không có cái nào đẹp, kích động.

Gnome theme dễ tải và cài đặt. Có nhiều website để tìm các theme miễn phí nhưng không có cái nào tốt hơn Gnome-Look.org, tại đó có rất nhiều theme hài hước và các đồ hoạ khác cho bạn.

Có nhiều loại theme khác nhau. Một trong những chỗ tốt nhất nên bắt đầu là GTK2.x theme, dùng nó toàn bộ cảnh quan màn hình của bạn sẽ thay đổi. Ngoài ra cũng có các theme Compiz được nhiều người ưa thích.

Nếu muốn thử nhiều hơn, bạn có thể dùng theme Emerald; để cài nó mở terminal rồi gõ lệnh “sudo apt-get install emerald”, sau khi cài xong chạy lệnh “emerald  –replace”.

Icons

Tải và cài đặt các bộ icon mới cũng dễ như theme. Trên Internet có rất nhiều nơi có các bộ icon, nhưng chỗ đầu tiên nên tìm là Gnome-Look.org . Cũng có một số bộ icon đẹp tại Deviant Art

Widgets

a4

Trong Linux widget thường được gọi là gDesklets hoặc Screenlets. Đó là những trình nhỏ hiển thị trên màn hình các thông số hệ thống, thời tiết, lịch, đồng hồ và cả những con vật nhỏ nhảy nhót trên màn hình của bạn.

Cài đặt chúng từ kho phần mềm hoặc tải về từ site theo link ở trên.

Dock

a5

Dock là một kiểu toolbar đặt trên màn hình chứa một số nút lệnh mở các chương trình ứng dụng hay dùng nhất. Dock là một kiểu toolbar động, khi di chuột vào một nút lệnh, nó di chuyển, phóng to, … trước khi ta nhấn vào đó. Có vài kiểu dock: Cairo, Kiba, AWN (Avant Windows Navigator), Wbar, Sim, v.v…Dock cũng lưu lại các cửa sổ đang mở nên có thể xoá taskbar dưới đáy màn hình làm cho màn hình trông hiện đại và bóng bẩy hơn.

Cairo-dock là một trong những dock đẹp nhất, cho phép tuỳ biến nhiều và có rất nhiều theme/skin và các plugin bổ xung. Để cài nó, cần bổ xung kho phần mềm cairo-dock vào danh sách các kho phần mềm đã có. Xem chi tiết hướng dẫn tại đây.

Linux Mint 6 (Felicia)

Năm kia, nếu tôi nhớ không nhầm thì Linux Mint luôn đứng trong TOP 5 trên DistroWatch. Trong 12 tháng qua, luôn đứng thứ 3 chỉ sau có Ubuntu và OpenSUSE. Vì vậy cũng đáng để tìm hiểu.

Theo DistroWatch.com:

“Linux Mint… ban đầu được công bố như một phiên bản của Ubuntu với media codecs cài sẵn, nay nó đã phát triển thành một trong những bản Linux thân thiện nhất với người dùng… Điều quan trọng nhất là đây là một dự án mà các nhà phát triển và người dùng tương tác với nhau thường xuyên…”

Các nguyên nhân thành công theo chính Linux Mint:

  • Một trong những bản Linux hướng người dùng nhất. Bạn có thể post ý kiến lên diễn đàn và tuần sau đã thấy nó được thực hiện trong phiên bản hiện hành.
  • Mint dựa trên nền Debian, một bản Linux ổn định nhất và có kho phần mềm lớn nhất.
  • Tương thích và sử dụng được các kho phần mềm của Ubuntu. Do đó số lượng phần mềm có sẵn rất lớn.
  • Có nhiều cải tiến trong cấu hình nên user dễ thực hiện.
  • Tập trung làm sẵn mọi việc đến mức tối đa có thể nên dễ sử dụng.

Một vài nhận xét sơ bộ: (bản Mint 6 dựa trên Ubuntu 8.10)

  • Nhóm phát triển khoảng 20 người, có bán dịch vụ support (30USD/tháng với người dùng ở nhà) và dựa vào tiền quyên góp, quảng cáo trên site. Mô hình kinh doanh kiểu này yếu và dễ suy thoái như PCLinuxOS. Hiện tại thì cập nhật nhanh: chỉ ít lâu sau khi có Ubuntu 8.10 đã có Mint 6.
  • Tiếng Việt trong Mint dùng scim-unikey gõ tốt. Khi cài nhớ cài scim-brige và vào Language Support để enable support to enter complex characters.
  • Có Control Center tập trung giống PCLinuxOS. Trong đó, ngoài những cái của GNOME, có thêm một số cái riêng của Mint (mintInstall, mintBackup, mintNany, …). Tuy thua Mandriva và PCLinuxOS ở các wizard, nhưng khá hơn Ubuntu. Riêng mintInstall là một trình quản lý các phần mềm khá, có nhiều thông tin xem trước khi cài: ý kiến nhận xét, điểm số, trang chủ, ….
  • Các multimedia codecs như gstreamer được cài sẵn nên dùng được ngay (nghe nhạc, xem video với khá nhiều format).
  • Dùng được các kho phần mềm của Ubuntu là một ưu điểm lớn: số lượng phần mềm nhiều và có thể search trong Synaptic theo cả các keyword có trong Description. Riêng mặt này Mandriva thua.
  • Giao diện được, tất nhiên là không bằng Mandriva.
  • Thừa kế luôn cả những nhược điểm của Ubuntu: vẫn dùng OpenOffice 2.4.
  • Bản chính thức dùng GNOME. Chỉ có hai phiên bản: Main Edition và Universal Edition. Bản Universal giống bản Mandriva Free: chỉ gồm các gói phần mềm nguồn mở. Cũng có những bản gọi là Community Edition dùng KDE, Xfce, Fluxbox.

Thử khả năng tương thích phần cứng:

Trên máy notebook Dell Inspiron 700m có cài 4 hệ điều hành: WinXP, Mandriva 2009, PCLinuxOS GNOME 2007 và Linux Mint 6. Nối thêm một màn hình ngoài LCD LG FLATRON L1718S. Lần lượt khởi động từng hệ điều hành nói trên để xem khả năng nhận biết màn hình ngoài. Kết quả:

  • Mandriva 2009 tốt nhất: nhận đúng cả hai màn hình với độ phân giải 1280×800, 65,3Hz (màn hình của notebook) và 1280×1024, 60Hz (màn hình ngoài LG). Trong System Settings, mục Display (cũng chính là công cụ KRandR Tray trong Tools – System Tools) cho phép chỉnh độ phân giải, xoay hướng màn hình, bố trí vị trí từng màn hình được. Tóm lại là đầy đủ.
  • WinXP: màn hình ngoài hiển thị đầy đủ nhưng lại theo tỷ lệ của màn hình notebook do đó bị co chiều thẳng đứng. Lâu không dùng Windows nên cũng không nhớ chỉnh ở đâu và có chỉnh được như Mandriva không.
  • Linux Mint 6: màn hình ngoài bị đặt ở độ phân giải 1024×768, đã chỉnh lại thành 1280×1024 nhưng không nhận.
  • PCLinuxOS: màn hình ngoài bị phóng to mất các mép màn hình. Thử chỉnh lại không được.

Tóm lại như đã nhận xét trong một post trước đây khi so sánh vài hệ Linux, Mandriva có vẻ tương thích phần cứng khá nhất và có các công cụ cấu hình đầy đủ nhất. Để khi nào có dịp sẽ thử với Ubuntu xem sao.

Kết luận: Nếu thích Ubuntu thì nên dùng Mint vì dễ dùng hơn.

So sánh công cụ cấu hình của Mandriva và Ubuntu (update 7/1/09)

Một trong những điểm mạnh và hay nhất của Mandriva là các công cụ cấu hình hệ thống nằm trong Mandriva Control Center (MCC). Hầu hết các mục cấu hình trong MCC đều là dạng wizard (hướng dẫn từng bước qua các màn hình). Tối thiểu cũng là giao diện đồ họa, không phải dùng lệnh hoặc sửa trực tiếp vào các file cấu hình. Do đó dễ sửa, dễ làm và không bị nhầm lẫn.

Các mục dưới đây ghi Ubuntu “không có” không có nghĩa là nó không làm được. Nhưng để làm các mục đó trong Ubuntu đầu tiên phải đi tìm hiểu cách làm trên các diễn đàn, sau đó làm bằng tay và nhiều trường hợp phải dùng dòng lệnh, sửa file config khá phức tạp.

CÁC CÔNG CỤ CẤU HÌNH HỆ THỐNG CỦA MANDRIVA 2009 VÀ SO SÁNH VỚI UBUNTU (bản GNOME).

I.Bố trí tập trung

Tất cả các bản Mandriva GNOME, KDE, IceWm đều có hai nơi cấu hình giống nhau:

  • Mandriva Control Center (MCC, tên khác là Configure Your Computer) dùng để cấu hình chung cho hệ thống (chung cho mọi user). Nhập mật khẩu root một lần là vào được.

Trong MCC còn một option rất hay là Display Log. Khi cấu hình, trong màn hình Log sẽ cho biết phần mềm nào chạy, kết quả, lỗi.

  • Configure Your Desktop: thiết lập các cấu hình riêng theo ý thích của từng user.

Ubuntu tập hợp các công cụ cấu hình thành hai nhóm menu: Administration và Preferences.

Dưới đây là các công cụ nằm trong Mandriva Control Center.

II. Quản lý phần mềm (Software Management).

II.1 Quản lý các kho phần mềm (Configure media sources for install and update)

Lần đầu tiên có wizard hướng dẫn khai báo tự động các kho phần mềm trên Internet. Sau đó có màn hình quản lý để Enable, Disable, Add hoặc Remove các kho (kể cả đĩa CD, ổ cứng).

Có option chọn một trong ba chương trình download: curl, wget, aria2.

Các kho trên Internet được tổ chức dưới dạng Mirror list tập trung, không tách thành các địa chỉ kho riêng biệt như Mandriva 2008 hoặc Ubuntu. Chương trình aria2 có thể (trên lý thuyết): chia file thành nhiều phần, tải đồng thời từ nhiều kho; từ một kho, tải nhiều file đồng thời; khi một kho tắc, tự động chuyển sang kho khác; tiếp tục download khi kết nối bị ngắt sau đó nối lại. Tuy nhiên trên thực tế, hiện tại aria2 có vẻ làm việc không tốt bằng wget.

Trên máy chủ của FPT (http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/) cũng có thư mục Mandriva nhưng đã lâu không cập nhật, phiên bản trên đó quá cũ.

Ubuntu: khi cài lần đầu sẽ tự nhận các kho dành cho Việt nam. Tổ chức kho theo địa chỉ máy chủ, nhưng có công cụ test để tìm kho nhanh nhất. Không có khả năng chọn chương trình download, do đó không biết có các tính năng như aria2 không.

Ưu điểm lớn nhất là có kho đặt tại Việt nam (vd: của FPT). Do đó tốc độ tải phần mềm rất nhanh.

II.2 Cập nhật phần mềm

Tự tìm kiếm các bản cập nhật phần mềm và thông báo. Cho phép user bình thường được cập nhật phần mềm.

Ubuntu: cũng tự tìm và thông báo có cập nhật nhưng có option cho tự động tải các bản cập nhật về trước (đỡ mất thời gian hơn). Chỉ cho các user thuộc nhóm root có quyền cập nhật.

II.3 Cài và gỡ bỏ phần mềm

Trình quản lý là Rpmdrake. Nhược điểm lớn nhất là chỉ cho tìm phần mềm theo tên, không tìm được theo phần mô tả (Description). Do vậy phải biết tên phần mềm, không tìm được theo tính năng.

Ubuntu: trình quản lý Synaptic có thể tìm theo cả Description (rất hay). Ví dụ muốn tìm phần mềm liên quan đến điện thoại Nokia là sẽ tìm được.

II.4 Trạng thái sử dụng các gói phần mềm đã cài (Package Stats)

Cho biết số ngày không sử dụng đến của từng gói phần mềm đã cài. Do đó, về nguyên tắc có thể gỡ bỏ bớt các gói không dùng đến.

Ubuntu: không có.

III. Cấu hình phần cứng:

III.1 Liệt kê và cấu hình phần cứng (Browser and configure hardware)

Tương tự Device Manager của Windows (xem màn hình trên). Với mỗi phần cứng có hai chức năng: Thiết lập các option của driver (Set current driver options) và Chạy công cụ cấu hình (Run config tool).

Ubuntu: không có.

III.2 Đặt cấu hình âm thanh (Sound Configuration)

Màn hình này cho chọn driver của sound card, đặt các options.

Ubuntu: có ở Preferenes – Sound

III.3 Đặt các hiệu ứng 3D của màn hình (Configure 3D desktop effects)

Lần đầu nhấn vào, sẽ xuất hiện màn hình thông báo thiếu gói mesa-demos, có cài không? Nhấn OK, phần mềm sẽ tự tải về từ Internet và cài. Sau đó xuất hiện màn hình cho chọn các chế độ: không 3D, Metisse, Compiz Fusion.

Trong tất cả các phần cấu hình, nếu thiếu phần mềm nào, Mandriva sẽ tự tải về và cài. Cách cấu hình các hiệu ứng 3D đã trình bày trong post này.

Ubuntu: có compiz fusion cài sẵn nhưng không có một menu nào liên quan và nếu không tìm hướng dẫn ngoài thì không biết cách kích hoạt nó như thế nào.

III.4 Cấu hình card màn hình và màn hình (Setup the graphical server)

Mục này cho chọn loại card màn hình (nếu Mandriva tự chọn không đúng), loại màn hình (với màn hình có tên tuổi), độ phân giải và các option khác. Có chức năng Test thử cấu hình đã chọn.

Ubuntu: chỉ có phần đặt độ phân giải đơn giản trong Preferences (từng user)

III.5 Cấu hình bàn phím (Setup the keyboard layout)

Cho chọn lại loại bàn phím (keyboard type) và kiểu bố trí bàn phím (keyboard layout).

Ubuntu: có nhưng chỉ có một layout USA.

III.6 Cấu hình chuột (Setup the pointer device)

Cho chọn lại kiểu chuột và cấu hình touchpad của notebook.

Ubuntu: có trong Preferences, không thấy có touchpad.

III.7 Cấu hình máy in (Setup the printers)

Mandriva tự nhận và tự cấu hình được khá nhiều loại máy in trực tiếp và máy in trên mạng. Mục này cho phép cài đặt, đặt cấu hình, test máy in.

Ubuntu: có,

III.8 Cấu hình scanner

Cài đặt, cấu hình và test scanner.

Ubuntu: không có.

III.9 Cấu hình máy tính thành máy fax (Configure a fax server).

Nhấn vào đây lần đầu, phần mềm hylafax-server sẽ được tải về cài. Nếu có modem và đường điện thoại, máy tính sẽ thành máy fax.

Ubuntu: không có.

III.10 Cấu hình UPS (Setup a UPS for power monitoring)

Nếu UPS có cáp dữ liệu nối với máy tính, dùng mục này để cấu hình các chức năng theo dõi công suất.

Ubuntu: không có.

IV.Mạng LAN và Internet

IV.1 Cài đặt một kết nối mạng mới

Có hướng dẫn từng bước (wizard) để thiết lập kết nối với mạng LAN, vệ tinh, modem cable, DSL, IDSL, Wireless, GPRS/Edge/3G, mạng quay số qua bluetooth, mạng quay số qua modem cap điện thoại.

Ubuntu: quản lý kết nối bằng network-manager truy cập qua network manager applet. Không quản lý được nhiều loại kết nối như ở trên.

IV.2 Quản lý các kết nối (Network Center)

Theo dõi tình trạng tất cả các kết nối đang hoặc không hoạt động. Thiết lập cấu hình. Ngắt hoặc kết nối lại.

Ubuntu: không có.

IV.3 Cá biệt hóa và an toàn kết nối trong mạng LAN

Gồm các mục:

  • Khai báo proxy của mạng

  • Cho các máy khác dùng chung kết nối Internet của máy.

  • Quản lý các network profile khác nhau (ở cơ quan, ở nhà, ngoài quán,…)

  • Cấu hình kết nối mạng riêng ảo VPN

Ubuntu: không có.

V.Cấu hình hệ thống

V.1 Xác thực để đăng nhập mạng (Authentication)

Hướng dẫn từng bước (wizard) để cấu hình đăng nhập các loại mạng sau:

  • Mạng LDAP

  • Mạng Windows Active Directory

  • Mạng Windows NT

  • Mạng nhóm (NIS)

  • Đăng nhập cục bộ vào máy

Ubuntu: không có.

V.2 Quản lý font, cài, gỡ font và nhập font Windows

Với các hệ Linux khác, chỉ cần copy file font vào thư mục /usr/share/fonts là được. Riêng quá trình cài font của Mandriva có 4 bước, xử lý thế nào đó nên mọi font hiển thị trên màn hình đều đẹp.

Có thể tự tìm và nhập toàn bộ font Windows nếu trên máy có cài Windows.

Ubuntu: không có. Cài thêm font bằng cách copy vào /usr/share/fonts.

V.3 Quản lý các dịch vụ hệ thống

Cho phép enable, disable các dịch vụ hệ thống (system service).

Ubuntu: có.

V.4 Ngôn ngữ hệ thống

Chọn ngôn ngữ, nước và bộ gõ tiếng tương ứng. Với tiếng Việt, cài scim và x-unikey bằng công cụ này (có sẵn x-unikey trong kho phần mềm).

Ubuntu: có. Chỉ cài được scim để gõ tiếng Việt bằng công cụ này.

V.5 Nhập các văn bản và settings của Windows

Nếu trên máy có cài Windows, công cụ này cho phép import từ Windows vào Mandriva (cũng theo hướng dẫn từng bước): user của Windows thành user của Mandriva, các file văn bản, bảng tính, … từ Windows sang thư mục Home, bookmarks của trình duyệt web, màn hình nền.

Ubuntu: không có. Khi cài đặt có mục nhập user từ các hệ điều hành khác.

V.6 Backup

Có hướng dẫn từng bước backup cái gì, ở đâu, vào đâu, khi nào, … rất rõ ràng và dễ thực hiện.

Ubuntu: không có.

V.7 Backup toàn bộ hệ thống (Snapshot)

Công cụ này cho phép backup toàn bộ hệ thống (giống Ghost trong Windows).

Ubuntu: không có.

VI.Chia sẻ tài nguyên trong mạng LAN

VI.1 Truy cập các tài nguyên đã share của máy Windows

Công cụ này sẽ tự cài gói samba-client và các gói liên quan để Mandriva truy cập được các tài nguyên đã share của máy Windows (thư mục, file, máy in, …). Cũng theo hướng dẫn từng bước.

Ubuntu: không có.

VI.2 Chia sẻ các tài nguyên cho các máy khác

Công cụ này hướng dẫn từng bước cài samba-server, biến Mandriva thành máy chủ file, máy chủ in ấn để share các thư mục, file, máy in của Mandriva cho các máy khác trong mạng (Windows, Linux).

Ngoài cách share dùng samba, còn có các công cụ tương tự để truy cập và share theo hệ thống file NFS của Linux và WebDAV (chia sẻ file trên Internet).

Ubuntu: không có.

VII.Quản lý ổ cứng

VII.1 Quản lý các partition của ổ cứng

Công cụ này tương tự Partition Magic của Windows cho phép: resize, create, delete, format partition (kể cả các partition FAT và NTFS); mount, umount partition và đặt các option cho lệnh mount (read-only, read-write, …).

Ubuntu: không có.

VII.2 Share partition

Dùng share hoặc không share các partion đối với các user khác của cùng máy Mandriva.

Ubuntu: không có.

VII.3 CD/DVD burner

Dùng đặt các option cho việc mount ổ CD/DVD.

Ubuntu: không có.

VIII.Security

VIII.1 Thiết lập mức độ an ninh và kiểm soát của hệ thống

Thiết lập được 5 mức an ninh cho hệ thống tùy theo nhu cầu. Có cảnh báo khi có hiện tượng không và gửi cảnh báo cho địa chỉ email nào.

Có các option rất chi tiết và tương đối dễ hiểu cho an ninh hệ thống, an ninh mạng, chế độ kiểm soát an ninh định kỳ, quyền truy cập vào các thành phần hệ thống.

Kèm theo có công cụ kiểm soát quyền truy cập đến từng thư mục hệ thống.

Ubuntu: không có.

VIII.2 Thiết lập tường lửa cá nhân

Thiết lập tường lửa bằng giao diện đồ họa.

Ubuntu: không có.

VIII.3 Kiểm soát trẻ con truy cập Internet (Parental Control)

Thiết lập các chế độ truy cập Internet khác nhau cho các user khác nhau, quy định giờ được truy cập, lập danh sách các website được và không được truy cập.

Ubuntu: không có.

IX.Kiểm soát quá trình khởi động (Boot)

Sửa đổi boot menu (khi trên máy cài đồng thời nhiều hệ điều hành): thời gian chờ, đặt hệ nào là mặc định, thêm bớt các hệ có thể khởi động bằng boot menu. Thiết lập các dạng màn hình khởi động, chế độ tự động đăng nhập (autologin).

Ubuntu: không có.

So sánh nhanh (K)Ubuntu 8.04, Mandriva 2008.1, PCLOS 2008 Gnome

Các bộ Linux nói dưới đây đều nằm trong số những hệ Linux hàng đầu. Kubuntu và Ubuntu là hai phiên bản của cùng một hệ Linux dùng hai môi trường đồ họa khác nhau: KDE và GNOME. Mandriva kế thừa Mandrake, dùng KDE. PCLinuxOS (PCLOS) xây dựng trên nền Mandriva có cả bản KDE và GNOME. Những so sánh dưới đây:

  1. So sánh nhanh những đặc điểm chủ yếu nhất dưới góc độ của một người dùng bình thường, không có khả năng hoặc không muốn đi sâu vào những chi tiết kỹ thuật phức tạp.
  2. Mục đích sử dụng là máy tính văn phòng: soạn văn bản, bảng tính, trình diễn, lướt web, thư điện tử, xem và nghe các file hình, nhạc. Các yêu cầu cao hơn như kết nối với thiết bị cầm tay, bảo mật, … không xét ở đây.
  3. Chỉ đúng với các phiên bản được so sánh. Sang phiên bản sau tình hình có thể đã khác rồi.

Cài đặt:

Tất cả các hệ đều có chế độ chạy từ CD (LiveCD). Đây là chế độ nên thử nếu cài lần đầu (mặc dù chậm, mất thời gian) để kiểm tra xem có phần cứng nào không hoạt động được không (card mạng, wifi, sound card, video card,…). Tuy nhiên, nếu biết chắc, không cần kiểm tra thì (K)Ubuntu có menu cài thẳng, nhanh hơn là vào LiveCD rồi mới cài.

Các màn hình cài đặt tương tự nhau về nội dung. Màn hình Partition Manager của Mandriva và PCLOS có thêm một số nút lệnh nên trực quan và dễ dùng hơn. Điểm khác nhau chính nằm ở cuối: Mandriva và PCLOS có một số màn hình cho phép điều khiển quá trình tạo bootloader còn (K)Ubuntu thì không. Mandriva và PCLOS đều nhận được Windows đã cài trên ổ cứng nhưng không nhận lẫn nhau và phải add bằng tay. (K)Ubuntu nhận diện các hệ khác trên ổ cứng (cả Linux và Windows) khá tốt. Vì vậy nếu cài nhiều hệ điều hành trên máy thì nên cài (K)Ubuntu cuối cùng.

Tương thích phần cứng

Mandriva có vẻ tương thích phần cứng tốt hơn cả qua những trường hợp sau:

- Trên một máy có card mạng onboard, Mandriva nhận và cho card làm việc tốt. Các bản Kubuntu, Ubuntu và PCLOS 2007 đều nhận được card này nhưng card không hoạt động được.

- Trên máy Dell 700m, Mandriva và PCLOS nhận và kích hoạt được card wifi ở cả hai chế độ mã hóa WEP và WPA. Kubuntu và Ubuntu không kích hoạt được card ở chế độ WEP. Ngay cả sau khi kích hoạt được card ở chế độ WPA, (K)Ubuntu thiết lập kết nối rất chậm, thậm chi xuất hiện màn hình phụ, nhấn connect mới vào mạng.

- Trên một máy có hai card mạng (một ra modem ADSL và một ra mạng LAN), Mandriva cài dễ dàng và cho cả hai card làm việc song song tốt nhất. (K)Ubuntu cài đặt cho hai card cùng làm việc khá phức tạp và thỉnh thoảng vẫn bị mất một kết nối. OpenSUSE chỉ cho làm việc một card, kích hoạt cái nọ thì cái kia tắt.

-Mandriva và PCLOS kích hoạt card xong có thể kiểm tra xem có hoạt động không. Ubuntu không có công cụ kiểm tra trạng thái card (tất nhiên có thể cài thêm), thường phải chạy Firefox để kiểm tra.

- Cài máy in HP 1020, Mandriva và PCLOS sau khi cài driver xong báo thiếu firmware, tự tải về. (K)Ubuntu không báo gì.

- Nối màn hình ngoài vào notebook, Mandriva nhận tốt cả hai màn hình, PCLOS 2008 Gnome màn hình ngoài bị lệch. (K)Ubuntu chưa thử.

Phần mềm cài sẵn

Duy nhất có Mandriva cài xong là dùng được ngay. PCLOS 2008 Gnome phải cài thêm OpenOffice. (K)Ubuntu phải cài thêm bộ restricted. Kubuntu còn phải cài thêm cả Firefox.

Mandriva và PCLOS bằng một nút nhấn có thể nhập toàn bộ font Windows có sẵn sang. Mandriva còn có nút lệnh cho import cả documents và một số settings từ Windows sang.

PCLOS 2007 KDE có vẻ đầy đủ phần mềm phụ nhất. Tuy nhiên bản này hơi cũ, phải sau lần update đầu tiên mới dùng tốt được.

Kho phần mềm thì (K)Ubuntu vô địch kể cả về số lượng lẫn tốc độ download. Mandriva xếp thứ hai và PCLOS xếp cuối.

Tiếng Việt

Mandriva có sẵn bộ gõ x-unikey-1.0.4 trong kho phần mềm, cài đặt dễ dàng nhưng bản thân x-unikey-1.0.2 trở lên có lỗi (trong mọi bản Linux KDE): a/ đang gõ bị mất tiếng Việt, phải tắt bật lại để gõ tiếp, b/gõ trong các ô của bảng, con trỏ đột ngột nhảy sang ô khác. Cài bản 0.9.2 thì không bị hai lỗi đó nhưng icon cập nhật luôn đỏ báo có phần mềm cập nhật (nâng lên 1.0.4).

PCLOS 2008 Gnome gõ được tiếng Việt bằng scim. Cài từ Control Center – System – Manage localization for your system. Copy file vi-telex-locdt.mim vào /usr/share/m17n và chỉ enable cách gõ này. Chưa thử nhiều nên chưa biết có lỗi gì không.

Kubuntu 8.04 vẫn dùng x-unikey-0.9.2 được. Ubuntu 8.04 theo hướng dẫn ở đây. (chưa thử).

Control Center

Control Center của Mandriva và PCLOS (kể cả bản Gnome) hay nhất vì là dạng wizard hướng dẫn từng bước, thiếu phần mềm nào thì tự tải về cài. Đây là hướng xây dựng Control Center rất tốt, làm cho Linux thân thiện với người dùng. Kubuntu cũng có Control Center tập trung khá tốt tuy không bằng hai hệ nói trên. Ubuntu dở nhất về mặt này.

Giao diện

KDE hay GNOME là tùy sở thích. Cá nhân tôi thích KDE hơn. Mandriva và PCLOS có cơ chế convert font sao đó nên chọn font nào làm font màn hình cũng đẹp. (K)Ubuntu chỉ có font Free (FreeSerif, FreeSans,…) hiển thị tốt trên màn hình. Giao diện đẹp thì PCLOS là nhất, đặc biệt là giao diện PCLOS Minime.

Tốc độ

Hiện tại PCLOS 2008 GNOME nhanh nhất (và chắc bản PCLOS 2008 KDE sắp ra cũng vậy). Dùng bản này có cảm giác nhẹ nhõm, nhanh rất dễ chịu khác hẳn các bản còn lại. Mandriva xếp thứ hai còn (K)Ubuntu đứng hạng chót. So sánh ở đây đều ở chế độ tắt tất cả các hiệu ứng màn hình rồi.

Kết luận:

Ở giai đoạn này, nếu thích tốc độ thì nên dùng PCLOS 2008 GNOME. Mới học nên chọn Mandriva hoặc PCLOS 2008 KDE sắp ra (nhược điểm lớn nhất là hiện chưa có tài liệu hướng dẫn tiếng Việt). (K)Ubuntu dành cho người thích tự cài và tìm hiểu về phần mềm nguồn mở (vì kho phần mềm lớn).

Còn hai đại gia nữa tôi đã thử qua nhưng không có ấn tượng gì lắm: OpenSUSE và Fedora. OpenSUSE có lẽ phù hợp cho việc tìm hiểu sâu hơn một chút về linux (cho chọn rất nhiều các thông số kỹ thuật). Fedora không thấy có gì nổi bật ngoài tuổi đời lâu nên nhiều người biết, phần mềm nào cũng có bản build sẵn cho Fedora.

Cần phải nhắc lại là các ý kiến trên chỉ căn cứ vào việc dùng lướt qua các phần mềm trong một thời gian ngắn của một người dùng bình thường. Chắc là có nhiều điểm vừa sai vừa thiếu nhưng cũng chia sẻ để mọi người tham khảo.

Ba phiên bản phần mềm mới có tính đột phá sắp ra đời!

1- Ubuntu Hardy Heron 8.04: Ubuntu đã cam kết từ đầu là cứ 6 tháng lại có một phiên bản mới. Sau bản hiện nay 7.10 (tháng 10/2007), phiên bản tiếp theo là 8.04 tên mã là Hardy Heron (con diệc gan dạ) sẽ chào đời vào tháng sau 04/2008). Hiện đã có bản 8.04 beta. Đây là một phiên bản được chờ đón vì sẽ có nhiều thay đổi lớn:

  • Xorg 7.3 trình điều khiển màn hình, bàn phím, chuột đời mới sẽ có tính năng tự cấu hình cao hơn trước. Hỗ trợ cắm nóng và chỉnh cấu hình on-the-fly. Có thêm một số driver mới. Hỗ trợ màn hình cảm ứng. Hỗ trợ chỉnh màn hình thứ hai linh hoạt hơn. Cho đến nay, chỉnh các thông số màn hình vẫn là điểm yếu của Linux so với Windows. Hy vọng là lần này sẽ có nhiều cải tiến.
  • Môi trường đồ họa GNOME 2.22 (đối với Ubuntu) và KDE 4 (đối với Kubuntu). Riêng về giao diện đồ họa thì hiện Linux và Win ngang nhau: bóng bẩy, đẹp, có nhiều hiệu ứng 3D,… Nhưng ngược lại cũng đòi hỏi cấu hình máy cao. Kubuntu KDE4 chạy chậm hơn PCLinuxOS 2007 nhiều mà đồ họa cũng không đẹp hơn.
  • Nâng cấp, thay đổi một loạt các phần mềm ứng dụng.
  • Tích hợp tốt với môi trường mạng Active Directory của Windows nhờ phần mềm Likewise open.
  • Cài đặt và gỡ bỏ trực tiếp trong Windows (như cài một phần mềm Windows, vào một thư mục của Windows) bằng phần mềm Wubi. Loại bỏ được các sai lầm theo kiểu cài cũ (tạo partition mới) có thể làm mất Windows và gây khó khăn ngần ngại cho người mới học Linux. Tính năng này được xem là một bước quan trọng góp phần phổ biến Linux cho người mới dùng.
  • Chi tiết về Ubuntu xem thêm ở đây, Kubuntu: ở đây.

Tính từ hôm nay, còn 31 ngày nữa bản 8.04 sẽ chính thức ra đời.

2- Firefox 3: trình duyệt Firefox hiện đang là bản 2.0.0.12. Phiên bản tiếp theo Firefox 3 đã có đến bản beta 4 với nhiều thay đổi quan trọng:

  • Dùng cơ cấu hiển thị web (Web rendering platform) phiên bản mới Gecko 1.9 với hơn 12.000 mục nâng cấp, sửa chữa.
  • An toàn hơn khi duyệt web: kích vào một biểu tượng nhỏ trong thanh địa chỉ để xem thông tin về chủ nhân site và dạng bảo vệ an toàn của kết nối đến site đó. Các site đã biết như nguồn phát tán malware (virus,spyware, trojan,…) sẽ được cảnh báo khi bạn truy cập vào đó. Các site bị nghi là giả mạo (forgery) sẽ không cho hiện nội dung. Khi tải các file chạy sẽ thông báo cho chương trình antivirus để quét.
  • Dễ sử dụng hơn: quản lý các password tiện hơn, dễ cài các add-on hơn, chương trình Download Manager cải tiến, có thể tiếp tục download sau khi ngừng (resume), zoom toàn bộ trang hoặc chỉ text và nhớ các thiết lập zoom, quản lý các tab thuận tiện hơn, resize được thanh địa chỉ và thanh search, tích hợp giao diện với Vista, Mac và Linux.
  • Cá biệt hóa nhiều hơn: bookmark dễ hơn và quản lý tốt hơn, thanh địa chỉ cải tiến có chức năng auto-complete phong phú và dễ sử dụng hơn, tích hợp với các ứng dụng web,…
  • Tích hợp các công nghệ mới để hiển thị web nhanh hơn và tốn ít bộ nhớ hơn.

Đối với những người dùng web như một môi trường làm việc, trình duyệt quan trọng không kém gì Office.
3- OpenOffice 3: bản OpenOffice hiện là 2.3, bản 2.4 sắp sửa phát hành và khoảng 160 ngày nữa là OpenOffice 3 sẽ ra đời. Ngay từ bây giờ có thể tải bản 3 đang hoàn thiện ví dụ tại đây về dùng thử. Một số tính năng mới:

  • Xem được nhiều trang đồng thời: xem được nhiều trang với độ phóng (zoom) khác nhau, xem hai trang như sách.
  • Hiển thị note (comment) ở bên lề. Tính năng này có trong MS Office nhưng chưa có trong OpenOffice 2.3.
  • Hỗ trợ từ gốc (native) định dạng OpenXML của MS Office 2007 (docx, xlsx, pptx). Các bản OpenOffice 2.3, 2.4 cũng có thể đọc được định dạng này nhờ odf-converter-intergrator . Ngược lại, MS Office đọc được các file OpenDocument (odt, ods, odp) bằng odf-converter.
  • Solver trong Calc để giải các bài toán quy hoạch tuyến tính. Bản OpenOffice 2.3 có thể cài thêm solver này như một extension tại đây.
  • Tô màu trong suốt trong Calc thay cho cách tô màu đặc hiện nay.
  • Tạo bảng trong Impress.
  • Tăng tốc độ mở (hiện OpenOffice 2.3 mở chậm hơn MS Office nhiều).
  • Insert cross-preference là các heading (như trong Word). Tính năng này hiện có trong OpenOffice 2.3 nhưng dùng cách kéo thả và phải insert toàn bộ heading.
  • Nhiều người cùng soạn một bảng tính.
  • Mở và edit được file PDF!

Nhưng có hai tính năng cũng cần lại chưa thấy có: tùy biến bullet, numberring và chia ngang màn hình (rất cần khi dịch văn bản).

Bản OpenOffice 2.4.0 với một số cải tiến có lẽ sẽ ra đời vào 27/3/2008!

Kích hoạt các kho phần mềm Ubuntu, Kubuntu dành cho Việt nam

Hệ Linux Ubuntu (Kubuntu, Xubuntu, Edubuntu,…) có một hệ thống các kho phần mềm giống nhau rải rác khắp thế giới để tạo thuận lợi cho người dùng download nhanh từ kho gần nhất. Đây cũng là một ưu điểm chứng tỏ cách tổ chức bài bản của Ubuntu so với một số hệ Linux khác.

Trong quá trình cài Ubuntu, khi đạt khoảng 70%, chương trình cài bắt đầu tìm kiếm các kho để tải về bản cập nhật an ninh (security) mới nhất và sẽ thiết lập kho mặc định là kho gần nhất căn cứ vào địa chỉ IP của người cài. Vì vậy:

1- Ngay khi boot máy từ đĩa cài CD xong, hoặc là phải thiết lập kết nối Internet hoặc phải tắt hết kết nối đi (rút dây mạng LAN, tắt modem ADSL nếu máy có Wifi). Nếu không quá trình tìm kho sẽ diễn ra khá lâu mà cuối cùng vẫn xuất hiện thông báo là không tìm được, làm tăng thời gian cài. Khi đã tắt hết các kết nối, chương trình sẽ không tìm nữa.

2- Nếu tắt kết nối, khi cài xong thiết lập kết nối Internet rồi mở Adept Manager (với Kubuntu) hoặc Synaptic (với Ubuntu) ta sẽ thấy kho mặc định là Main Server.  Nhấn vào đó, chọn trong danh sách thả xuống mục Other sẽ xuất hiện cửa sổ có nút Find Best Server, nhưng thường nút này cũng không tìm được server for Vietnam.

3- Khi đó cần phải mở file sources.list bằng một trong các cách (dưới đây ví dụ làm với Kubuntu):

a/ Mở thư mục /etc/apt bằng Konqueror. Nhấn chuột phải vào file sources.list rồi chọn trong menu con Edit as Root. Sau khi nhập mật khẩu của admin, chương trình KWrite sẽ mở file source.list.

b/Vào KMenu -  Run Command, chạy lệnh kdesu    kwrite    /etc/apt/sources.list. Kết quả cũng như trên.

c/ Vào KMenu – System – Konsole. Trong terminal chạy lệnh   su  nano   /etc/apt/sources.list. Chương trình soạn thảo dạng text nano sẽ mở file sources.list.

Đọc file vừa mở, sẽ có những dòng như thế này:

 #Line commented out by installer because it failed to verify:
# deb http://vn.archive.ubuntu.com/ubuntu/ gutsy main restricted

Dòng thông báo bên trên cho biết kho bên dưới bị đánh dấu # (disable) vì chương trình cài không kiểm tra được. Dòng bên dưới là địa chỉ kho dành cho Việt nam (có chữ vn ở sau http). Xoá hết các dấu # để kích hoạt kho (enable). Chỉ cần kích hoạt một kho vn. Làm xong, save file lại rồi đóng chương trình. Với nano, save là Ctrl+o và đóng chương trình là Ctrl+x.

Quay lại Adept Manager, nhấn vào nút Fetch Updates để cập nhật lại danh sách phần mềm từ các kho. Khi cập nhật xong, vào Adept  – Manage Repositories mở màn hình Software Sources sẽ thấy mục Download from là Custom servers. Nhấn vào mũi tên bên phải, danh sách xổ xuống bây giờ có thêm mục Server for Vietnam, chọn mục đó. Nhấn lại nút Fetch Updates để cập nhật lại.

Ping thử thì kho này không đặt ở VN. Nhưng có lẽ vì số người truy cập ít nên tốc độ nhanh hơn là tải từ Main server.

Gõ tiếng Việt trong Kubuntu Gutsy 7.10 bằng SCIM

Cho đến nay, tôi vẫn dùng x-unikey 0.9.2a để gõ tiếng Việt trong Kubuntu Gutsy 7.10:

Ưu điểm: – cài đặt dễ dàng, chỉ cài một lần, không phải cấu hình gì thêm. Điều khiển bằng giao diện hoặc phím tắt dễ dàng.

- gõ tiếng Việt trơn tru, thuận tiện trong các ứng dụng và trên web bằng kiểu gõ Telex dùng font unicode. Đã thử gõ font VNI kiểu telex trong OpenOffice Writer cũng tốt. Chưa thử với cách gõ VNI.

Nhược điểm: – Trong OpenOffice Calc, nếu đang gõ mà nhấn SHIFT để gõ chữ hoa tiếng Việt (vd: Đ) thì con trỏ giật sang trái xoá hết các từ đã gõ trước đó. Khắc phục tạm: trước khi gõ vào một ô nào phải nhấn F2 rồi mới gõ.

- Không gõ nhanh trên web được cũng vì cơ chế giật con trỏ sang trái nói trên. Nếu gõ nhanh thì sẽ bị mất một số chữ do con trỏ di chuyển không kịp.

- Các bộ mới hơn 1.02, 1.0.4 thỉnh thoảng bị “đơ”: đang gõ tiếng Việt, đột nhiên không gõ được. Phải nhấn Ctrl+Shift hai lần để tắt tiếng Việt đi rồi bật lại thì mới gõ tiếp được. Chỉ có bộ 0.9.2a là không bị lỗi này.

Hiện đang thử dùng SCIM . SCIM (Smart Common Input Method) là bộ gõ đa năng có thể dùng gõ hàng chục loại ngôn ngữ khác nhau trên thế giới .

Cách cài đặt:

1- Vào KMenu – Adept Manager, tìm và cài scim.

2- Vào site này, tải bản scim-viettiti.deb về rồi cài.

3- Khởi động lại máy, biểu tượng của scim sẽ xuất hiện trong System Tray của panel bar (nếu không thấy, nhấn Ctrl+Space). Nhấn chuột mở SCIM Setup rồi thiết lập mấy mục sau:

Dưới mục IMEngine, chọn Global setup. Nhấn Disable All, sau đó trong mục Vietnamese, enable kiểu gõ vi-telex-locdt. Dưới mục FrontEnd, chọn Global setup rồi chọn Keyboard Layout là English (US). Dưới mục Panel, chọn GTK rồi chọn Show là Always.

Tổ hợp phím để chuyển giữa tiếng Anh và tiếng Việt là Ctrl+Space.

Nhận xét sơ bộ:

Gõ tốt tiếng Việt trong OpenOffice và trên web. Do không dùng cơ chế lùi con trỏ sang trái để đặt dấu nên gõ nhanh được và gõ tốt trong OpenOffice Calc, không bị lỗi như unikey. Nếu hay dùng các trình soạn thảo trên web (forum, email, Google Docs, …) và quen gõ nhanh thì đây là ưu điểm nổi bật.

Đang gõ tiếng Việt, nhận được các từ tiếng Anh như cách gõ của unikey (gõ đúp dấu). Tuy nhiên thỉnh thoảng bị lỗi sau đó không gõ tiếng Việt được, phải Ctrl+Space để bật lại tiếng Việt.

Cần phải thử thêm một thời gian nữa mới có thể kết luận được.

KUBUNTU GUTSY 7.10: Cài đặt máy in CANON LASER LBP5300, LBP3500, LBP3300, LBP5000, LBP3210, LBP3000, LBP2900, LBP3200, LBP1120/1210

Một số loại máy in Canon LBP dùng một driver riêng của Canon, Canon Advanced Printing Technology – CAPT driver, cách cài hơi khó hơn bình thường. Tôi chia sẻ cách cài trong file “Cai dat may in Canon LBP.pdf” tại kho dữ liệu Mediafire.

Mong nhận được ý kiến và góp ý sửa chữa của mọi người.

Kubuntu 7.10: Lỗi cài máy in HP 1020 và một số loại khác

Máy in HP 1020 có một lỗi: nếu tắt điện máy in thì sau đó bật điện lại không in được nữa.

Cách khắc phục:

1- Mở terminal (KMenu -> System -> Konsole). Chạy lệnh getweb 1020 . Lệnh này sẽ tải file sihp1020.img từ Internet về thư mục Home. Tìm file đó và Copy.

2- KMenu -> Run Command, chạy lệnh kdesu konqueror . Trong Konqueror, mở thư mục /usr/share/foo2zjs/firmware rồi Paste file sihp1020.img vào đó.

3- Nhấn nút chuột phải vào thư mục firmware, chọn Propeties -> Permissions. Đặt mục Others thành Can View & Modify Content. Kích chuột chọn mục Apply changes to all subfolders …. rồi OK.

4- Quay lại terminal, chạy lệnh sau (copy lệnh rồi paste vào terminal):
arm2hpdl /usr/share/foo2zjs/firmware/sihp1020.img > /usr/share/foo2zjs/firmware/sihp1020.dl
5- Tắt máy in rồi bật lại sẽ vẫn in được bình thường.

Cách làm trên có lẽ cũng đúng cho những máy in dùng driver foo2zjs: HP 1000, 1005, 1018, 1020, 1022; Samsung CLP-300, 600, CLX-3160, v.v….Danh sách máy in có trong thư mục /usr/share/ppd/foo2zj. Khi cài các máy in này, mở thư mục đó để tìm driver. Lệnh getweb ứng với từng loại xem tại http://foo2zjs.rkkda.com/

Theo dõi trạng thái kết nối mạng trong Kubuntu 7.10

Khi cài Kubuntu, biểu tượng của Network Manager sẽ hiện lên trên panel. Nhưng để theo dõi trạng thái kết nối mạng LAN hoặc Internet thì phải dùng Knetstats, KNemo (hoặc một vài phần mềm khác).
1- Mở Add/Remove Programs. Gõ vào ô Search cụm từ “network monitor”. Trên màn hình sẽ xuất hiện 5 phần mềm khác nhau. Chọn cài KNetStats hoặc KNemo

2- Mở thư mục /home/<username>/.kde/Autostart bằng Konqueror (trước đó phải vào View – Show Hidden Files để nhìn thấy thư mục ẩn .kde). Nhấn nút chuột phải, chọn Create New – Link to Application (mở thư mục bằng Dolphin không có lệnh này) rồi tạo link cho Knetstats tự khởi động. Nếu dùng KNemo thì không phải tạo link này

3- Khởi động lại máy. Các biểu tượng của các card mạng LAN, wifi (giống như trong Windows) sẽ xuất hiện trên panel. Nhấn nút phải chuột để cấu hình KNetStats, nhấn nút trái chuột vào từng biểu tượng để xem thông tin chi tiết (tốc độ download, upload, địa chỉ IP, MAC, biểu đồ tốc độ, v.v….). Card nào đang hoạt động sẽ nhấp nháy. Card nào không hoạt động sẽ có dấu chéo.

Các phần mềm trên chỉ theo dõi trạng thái mạng. Muốn cấu hình kết nối mạng phải vào System Settings – Network Settings. Có thể cài thêm các phần mềm khác về mạng: gõ từ “network” vào ô Search của Add/Remove Program. Ví dụ phần mềm Wifi-rada dùng tìm các mạng wifi và cấu hình kết nối.

Sửa lỗi không vào được màn hình đồ họa 2

Khi chỉnh độ phân giải màn hình, thay driver của card màn hình,… có thể gặp các lỗi sau:

1- Khi khởi động lại, không vào được màn hình đồ họa.

2- Màn hình có độ phân giải quá lớn hoặc quá bé.

Trong một post trước đã trình bày một vài cách sửa các lỗi nói trên. Nhưng cách này có lẽ hay hơn:

1- Khởi động ở chế độ Recovery Mode

2- Tại dấu nhắc lệnh, gõ dpkg-reconfigure xserver-xorg -phigh rồi Enter.

3- Gõ tiếp reboot rồi Enter.

Chú ý khi cài chung Windows và Kubuntu trên một máy

Khi cài Kubuntu 7.10 lên máy đã cài WinXP, Kubuntu sẽ:

1- Tự động nhận biết WinXP và tạo một boot menu để lựa chọn WinXP hay Kubuntu khi khởi động. File cấu hình của boot menu có đường dẫn /boot/grub/menu.lst . Nếu muốn có thể vào KMenu – Run Command chạy lệnh kdesu kate /boot/grub/menu.lst để điều chỉnh một số thông số cấu hình khởi động theo ý muốn.

2- Tự động nhận biết các phân vùng (partition) của Windows, kể cả NTFS hay FAT. Các phân vùng đó sẽ được tự động gắn kết (mount) vào các thư mục con trong thư mục /media của Kubuntu ở chế độ đọc – viết, dùng bình thường như thư mục HOME của Kubuntu. Do đó, nếu muốn có thể dùng chung thư mục My Documents của Windows như thư mục HOME của Kubuntu. Mọi văn bản, dữ liệu ghi vào My Documents sẽ dùng được khi khởi động vào bất kỳ hệ điều hành nào.

3- Tuy nhiên cần chú ý: khi khởi động vào WinXP làm việc xong phải shutdown hoặc restart đúng quy tắc (dùng các nút lệnh). Nếu bị mất điện đột ngột hoặc tắt máy cưỡng bức bằng cách dùng tay nhấn và giữ nút Power hoặc nút Restart trên vỏ máy (khi máy bị treo) thì phân vùng Windows sẽ bị đánh dấu là “unclean shutdown” và khi khởi động vào Kubuntu sẽ không mount được (vào /media/<tên phân vùng> sẽ không thấy có nội dung). Khi đó phải khởi động lại WinXP, rồi restart mềm (nhấn chuột vào nút Restart) lại để vào Kubuntu. Trong quá trình restart đó, khi shutdown WinXP bình thường, phân vùng Win sẽ được đánh dấu lại là “clean shutdown” , Kubuntu mới mount được nó.

4- Có thể cài lại Kubuntu nhiều lần và nếu làm đúng cách như đã hướng dẫn thì không bao giờ ảnh hưởng đến Windows. Tuy nhiên, nếu cài lại Windows thì sẽ bị mất boot menu không vào được Kubuntu nữa và phải cài lại Kubuntu. Có lẽ cũng có cách để sau khi cài lại Win, khôi phục lại boot menu nhưng tôi chưa biết.

Ngoài ra, từ Windows nếu muốn đọc-ghi phân vùng Linux thì cài phần mềm “Ext2 Installable File System for Windows”, download từ http://www.fs-driver.org/index.html

KDE4 chính thức phát hành

KDE (K Desktop Environment) một trong hai môi trường đồ họa nổi tiếng nhất cho các hệ điều hành Unix, Linux đã chính thức phát hành phiên bản 4 ngày hôm nay (11/1/2008). Đây là phiên bản được thế giới Linux háo hức chờ đón vì có nhiều tính năng mới, giao diện đẹp và bước tiến nhảy vọt so với các phiên bản 3.x.x trước đó.

KDE là môi trường chính của Kubuntu (K Ubuntu). KDE4 sẽ có trong phiên bản Kubuntu 8.04 ra đời vào tháng 4/2008 tới đây. Dùng Ubuntu có cái thú là định kỳ đều đặn 6 tháng một lần sẽ có một phiên bản mới (7.04, 7.10, 8.04, 8.10, … số đầu là năm, số sau là tháng).

Ngay từ bây giờ, người dùng Kubuntu 7.10 (KDE 3.5.8) có thể cài KDE4 (để xem trước) như sau;

1- Trong terminal, chạy lệnh sudo apt-get remove kdelibs5 kde4base-data kde4libs-data để gỡ các gói KDE4 cũ (nếu có).

2- Vào menu KMenu – Systems – Adept Manager mở chương trình Adept Manager. Trong đó vào tiếp menu Adept – Manage Repositories mở màn hình quản lý các kho phần mềm (Software Sources).

3- Trong màn hình Software Sources , chuyển đến tab Third-party Software rồi nhấn nút Add.

4- Copy dòng sau đây:

deb http://ppa.launchpad.net/kubuntu-members-kde4/ubuntu gutsy main

5- Quay lại màn hình Add APT Repositorry , nhấn chuột vào ô trắng rồi nhấn Ctrl + V để dán nội dung đã copy vào đó. Nhấn tiếp lần lượt các nút OK, Close, Reload trong các màn hình tiếp theo.

6- Trong Adept Manager, tìm và chọn cài (request install) kde4-core (tải về khoảng 100MB). Cũng có thể cài thêm kde4 (các phần mềm ứng dụng chính thức của KDE, 135MB).

7- Sau khi cài xong, khởi động lại máy. Tại màn hình nhập password, nhấn chuột vào hình chữ nhật trắng góc dưới bên phải, chọn Type of session – KDE4 rồi nhập pass, Enter để đăng nhập.

Nhận xét sơ bộ: giao diện đẹp và khác hẳn KDE 3.x.x. Tuy nhiên do giao diện mới nên cũng phải mất thì giờ đôi chút để làm quen và các máy cấu hình yếu chạy sẽ chậm (giống như chuyển từ WinXP sang Vista). Ngoài ra, một số ứng dụng chuẩn trên KDE cũng được cải tiến và có nhiều tính năng mới.

CHÚ Ý: cách cài đặt trên chỉ để tham khảo, tìm hiểu cho biết, không dùng làm việc được (vd: bộ gõ x-unikey không có tác dụng). Hãy chờ đến Kubuntu 8.04 tích hợp KDE4 một cách chính thức.

Chú ý khi cài Kubuntu 7.10

1- Khi boot máy bằng đĩa cài Kubuntu, trong menu xuất hiện nên chọn chế độ Check CD for defects (kiểm tra lỗi đĩa CD). Phải làm điều này trước khi cài vì:

a- Nếu đĩa bị lỗi ở những file thiết yếu, máy có thể không boot lên được tới màn hình đồ họa, ta lại tưởng là phần cứng có vấn đề tương thích với Kubuntu. (Nếu đĩa tốt 100% mà không boot được tới màn hình đồ họa mới là có vấn đề tương thích phần cứng).

b- Nếu đĩa bị lỗi ở những file khác, đặt đến lúc copy file đó vào máy sẽ bị báo lỗi. Kubuntu có cái dở là không thay được đĩa khác hoặc lau đĩa rồi thay vào cài tiếp như Windows mà phải cài lại từ đầu.

2- Trước khi cài nên rút hết dây mạng, dây modem ra khỏi máy. Nếu để dây, Kubuntu sẽ hiểu là có đường ra Internet, đến gần hết quá trình cài sẽ có một giai đoạn tìm các bản cập nhật về securities trên Internet rất lâu (vì thực tế lúc đó chưa nối ra Internet được). Quá trình cài khi đạt 78% là có thể yên tâm các file cần thiết đã được copy hết vào máy.

3- Thỉnh thoảng cũng gặp trường hợp không tương thích với màn hình ĐNA. Khi boot lần đầu, màn hình bị đặt ở độ phân giải thấp, chữ rất to, các nút lệnh bị khuất không cài được. Nếu boot lại chọn chế độ cài Safe graphic mà vẫn không được thì phải đổi màn hình khác.

Chú ý khi cài x-unikey vào Kubuntu 7.10

Các bước sau đây đã thực hiện trơn tru không gặp vấn đề gì:

1- Cài x-unikey ngay sau khi cài xong Kubuntu 7.10, chưa update hay cài phần mềm gì khác (không bắt buộc).

2- Tải bản x-unikey-0.92.i386.ubuntu.deb từ site www.unikey.org về (bản 1.0.4 có lỗi khi gõ đã nói trong một post trước. Bản 1.0.2 chưa thử). Bản 0.9.2 này đã dùng nhiều không bị lỗi (trừ lỗi trong OpenOffice Calc là lỗi chung của x-unikey cho đến thời điểm này).

3- Copy file nói trên ra Desktop (nếu để trong thư mục Home sẽ bị báo lỗi không tìm thấy file).

4- Nhấn đúp vào file, màn hình GDebi sẽ xuất hiện. Tiếp tục cài cho đến hết.

( Nếu vẫn bị báo lỗi không tìm thấy file, xem post “Một lỗi cài đặt hay gặp” ở dưới đây)

      Gỡ bỏ các gói phần mềm thừa

      Khi cài đặt phần mềm ứng dụng vào Kubuntu, các thư viện và gói phần mềm phụ trợ còn thiếu cũng được cài đặt theo. Nhưng khi gỡ bỏ phần mềm ứng dụng thì các thư viện và phần mềm phụ trợ vẫn còn lại trong hệ thống.
      Để dọn dẹp sạch hệ thống khỏi những gói phần mềm thừa, chỉ cần chạy lệnh
      sudo apt-get autoremove
      trong terminal.

      Hướng dẫn sử dụng và cài phần mềm vào Gutsy (tiếng Anh)

      Site http://kubuntuguide.org/Gutsy có rất nhiều hướng dẫn sử dụng và cài bổ xung các loại phần mềm vào Kubuntu Gutsy 7.10.
      Cần chú ý là cách cài phần mềm tại site này toàn dùng dòng lệnh (apt-get hoặc dpkg). Chỉ cần nhớ tên phần mềm, rồi tìm trong Adept Manager để cài thì trực quan hơn và đỡ gõ lệnh nhầm (trừ những phần mềm không có trong Adept Manager).

      Một lỗi cài đặt hay gặp

      Khi tải về các file deb và cài đặt thường gặp lỗi sau:
      - Nhấn chuột trái vào file, chương trình cài GDebi xuất hiện kiểm tra các phần mềm phụ trợ (dependencies) đã có trên máy chưa, nếu chưa sẽ đưa vào danh sách tải về cài. Nhấn tiếp vào nút Install Packages thì chương trình chạy khá lâu rồi tự tắt, màn hình Installing không xuất hiện.
      - Mở Terminal, cài bằng dòng lệnh:
      sudo apt-get install <path>/<tên gói cần cài.deb>
      thì bị báo lỗi E: Coudn’t find package mặc dù đường dẫn (path) đúng. Đây là lỗi rất hay gặp trong Kubuntu 7.10, không rõ lý do tại sao. Các bản 6.10 và 7.04 không gặp lỗi này.

      Cách khắc phục: thay cho apt-get, dùng lệnh sau:
      sudo dpkg -i <path>/<tên gói cần cài.deb>
      dpkg là phần mềm quản lý cài đặt cấp thấp (low-level) các gói deb của Debian. apt là phần mềm cấp cao hơn để dùng dpkg, trong đó có công cụ dòng lệnh apt-get và gói adept gồm các giao diện đồ họa Adept Manager, Adept Installer, v.v…
      CHÚ Ý: nếu gói cần cài đã có đủ các phần mềm phụ trợ, thì chỉ cần lệnh sudo dpkg như trên là xong. Nếu cần cài thêm phần phụ trợ thì lệnh trên sẽ báo lỗi. Mở Adept Manager ra, tìm theo tên gói cần cài, trạng thái (status) của gói sẽ là BROKEN. Nhấn phím phải chuột chọn Request Install, Adept Manager sẽ tải các gói phụ về cài và cài tiếp gói cần cài đến khi xong.

      Làm việc với hai màn hình

      Các trường hợp sau ta phải làm việc với hai màn hình:
      1- Cắm laptop vào máy chiếu.
      2- Cắm thêm vào máy tính một màn hình nữa.
      Khi đó có thể phải chỉnh độ phân giải, xoay màn hình (khi có màn hình dọc). Trong Kubuntu đã cài sẵn một công cụ ít người biết là xrandr để làm các việc trên. Tuy nhiên đây là công cụ dòng lệnh, khó dùng.
      Mở Adept Manager, gõ xrandr vào ô Search, ta sẽ tìm thấy giao diện đồ họa của xrandr là grandr chưa được cài. Sau khi cài, grandr không xuất hiện trong KMenu vì vậy phải add bằng tay vào KMenu hoặc tạo shortcut hoặc chạy nó từ Run command.
      Ngoài ra tại site http://www.albertomilone.com/urandr.html còn có một giao diện nữa là urandr có thể tải về cài. Sau khi cài, urandr xuất hiện trong KMenu – System.
      Cũng có thể không cần cài hai giao diện trên. Vào KMenu-Systemsettings-Monitor&Display cũng có đủ các chức năng cần thiết.

      Tôi đã thử dùng để hạ độ phân giải thì tốt (mặc định Kubuntu bao giờ cũng để ở độ phân giải cao nhất có thể). Xoay màn hình được, nhưng sau khi xoay, chuột không nhạy, khó điều khiển. Khi xoay trở lại vị trí đầu thì báo lỗi xung đột với KWin và bị mất panel (phải gõ panel vào Run command để khôi phục lại). Chưa thử với trường hợp hai màn hình. Nói chung như đã nói trước đây, trình xorg và các phần mềm khác liên quan đến đồ họa màn hình của Kubuntu chưa đủ độ chín. Có lẽ phải chờ thêm ít nữa.
      Nếu có trục trặc gì khi thay đổi màn hình thì nhấn phím phải chuột vào Desktop, chọn Log out hoặc nhấn Ctrl+Alt+Del để khởi động lại máy.
      Lưu ý là những thay đổi nói trên chỉ có giá trị tạm thời, khi khởi động lại máy là hết. Muốn thay đổi cố định phải dùng quyền root can thiệp vào file cấu hình của Xorg như đã nói trong một post trước.
      Trong Kubuntu 7.10, chương trình Kx Generator để chỉnh sửa thiết lập của màn hình, bàn phím, chuột,… đã có sẵn trong kho phần mềm. Gõ “kxgenerator” vào ô Search của Adept Manager để tìm và cài. Cách dùng phần mềm này đã nói trong một post trước.

      Tìm phần mềm cài lên Kubuntu 7.10

      Tìm kiếm các phần mềm, cài đặt và chạy thử trên Kubuntu có lẽ là công việc hay, hứng thú và say mê khác hẳn khi dùng Windows. Các lý do chính như sau:

      • Kho phần mềm nguồn mở trên Internet rất phong phú (riêng các kho của Kubuntu có khoảng 23.000 gói phần mềm) và tuyệt đại đa số là miễn phí. Mỗi loại phần mềm có nhiều bản khác nhau do những nhóm khác nhau phát triển, thoải mái chọn và thử. Tìm phần mềm lại đơn giản: chỉ cần biết một vài keyword mô tả chức năng của phần mềm. Khi tìm được không cần lo lắng gì về bản quyền, crack, hạn dùng thử v.v…
      • Cách cài phần mềm vào Kubuntu rất khác nhau. Từ cài đặt đơn giản, convert trước khi cài, biên dịch từ mã nguồn cho đến cài thẳng phần mềm Windows thậm chí cả hệ điều hành Windows vào Kubuntu.
      • Phần mềm quản lý việc tìm kiếm, cài đặt phần mềm của Kubuntu được đánh giá là một trong những bộ phần mềm hay nhất trong các hệ Linux.

        Chi tiết hơn xem file “Tim kiem phan mem trong Kubuntu 7.10.pdf” tại các địa chỉ www.mediamax.com/zxc232http://savefile.com/projects/1064804

        Các phần mềm CAD bản quyền trên Kubuntu 7.10

        Định dạng bản vẽ DWG của Autodesk đã trở thành chuẩn bản vẽ mặc nhiên (de-facto). Các nhà lập trình nguồn mở thành lập tổ chức Open Design xây dựng chuẩn mở OpenDWG tương thích với DWG. Các công ty phần mềm CAD lập nên consortium IntelliCAD xây dựng phần mềm nền IntelliCAD tương thích với DWG, sau đó các công ty thành viên tự bổ xung, sửa đổi thành sản phẩm của mình để bán.
        Qua xem xét sơ bộ, các phần mềm này:
        - Có giao diện và các tính năng rất giống AutoCAD. Được quảng cáo là người biết AutoCAD có thể dùng được ngay. Định dạng bản vẽ chuẩn là DWG.
        - Giá cao nhất khoảng 500USD.
        - Đều là phần mềm Windows nhưng có thể cài đặt dễ dàng trong Kubuntu (giống hệt như khi cài trong Windows) sau khi đã cài wine. Chạy và dùng được trong Kubuntu tuy có chậm hơn so với khi chạy trong Windows (nhất là khi mở bản vẽ lần đầu). Phần hiển thị và gõ tiếng Việt cần nghiên cứu thêm. Riêng hãng Bricsys có bản Bricscad for Linux (thực chất cũng chạy trên nền wine). Bản này đóng gói dạng rpm cho RedHat, dùng alien chuyển sang dạng deb cài chạy được trên Kubuntu.
        Vì vậy đây là một giải pháp tiềm năng cho CAD trong Kubuntu.

        CAD và PDF trong Kubuntu 7.10

        Trong Kubuntu 7.10 có thể vẽ các bản vẽ dùng các chương trình CAD (kể cả bằng AutoCAD 2000). Ngoài ra có thể soạn, tạo file PDF (mà không cần tới Adobe Acrobat); đọc file pdf bằng Adobe Reader, Kpdf; sửa, ghi chú vào file pdf bằng Foxit for Windows, pdfedit.
        Tài liệu hướng dẫn có tại:
        1- http://savefile.com/projects/1064804
        2- http://www.mediafire.com/zxc232

        Tổ chức dữ liệu khi cài Kubuntu

        Trong Windows, mỗi user có một thư mục C:\Documents and Settings\<username> trong đó có thư mục MyDocuments và các thư mục chứa mọi thứ settings ta đã đặt cho Windows và các phần mềm ứng dụng (font màn hình, ảnh nền, toolbar, v.v…)Trong Kubuntu, thư mục tương tự là /home/<username> (vd: /home/nvhung). Các file và thư mục con chứa settings được đặt dưới dạng thư mục ẩn (đầu tên file, thư mục có dấu chấm). Muốn xem các file, thư mục này vào Dolphin -> View -> Show Hidden Files.
        Để tránh công việc thiết lập lại các settings (font màn hình, ảnh nến, cài đặt mạng, các settings của OpenOffice, các extensions của Firefox,…) một công việc rất mất thì giờ khi cài lại Kubuntu, nên làm như sau:
        1- Khi cài Kubuntu lần đầu tiên, chia phần ổ cài Kubuntu thành 3 ổ (partition): một ổ cài Kubuntu (tối thiểu 4GB) mount vào thư mục gốc /, một ổ chứa dữ liệu dung lượng tùy chọn (đủ chứa các settings và các file dữ liệu) mount vào /home, ổ này bắt buộc phải format dạng ext3 và một ổ swap chứa bộ nhớ ảo thường có dung lượng gấp đôi lượng RAM của máy. (tương tự cách chia ổ C, D của Windows, xem chi tiết trong tài liệu “Cài đặt Kubuntu 7.10″).
        2- Khi cài lại Kubuntu ở các lần cài sau, chia ổ đúng như trên (dung lượng có thể thay đổi). Khi cài xong, khai báo username đúng như username đã dùng trong lần cài trước. Khi log in vào theo tên username, toàn bộ màn hình, các settings y nguyên như trước không phải khai báo lại. Chỉ cần cài bổ xung các phần mềm ngoài (ví dụ x-unikey) là dùng được ngay.trong môi trường quen thuộc cũ. Trong Windows để đạt được điều đó, cách làm phức tạp hơn nhiều.
        3- Nếu như có chương trình nào bị trục trặc do lỗi của settings, xóa thư mục settings của chương trình đó trong thư mục /home/<username> đi để chương trình tự tạo lại thư mục settings mới (vd: /home/nvhung/.mozilla/firefox).
        4- Ngoài ra, nếu vẫn dùng song song Windows và Kubuntu, có thể dùng chung My Documents của Windows. Để truy cập nhanh vào thư mục này, trong màn hình Desktop nhấn phím phải chuột tạo một Link to Location (shortcut) đến thư mục My Documents (cách tạo link xem tài liệu “Cài đặt Kubuntu 7.10″). Kéo thả link đó vào /home/<username> và vào panel. Trong OpenOffice, vào Tools -> Options, ở mục Paths-MyDocument khai đường dẫn đến MyDocuments. Các phần mềm khác làm tương tự. Như vậy các file dữ liệu (doc, xls, mp3, v.v….) đều chứa chung trong một thư mục, khi làm việc trong Windows hay Kubuntu đều truy cập được.

        Chuyển mã font trong Kubuntu (update 1/2009)

        Rất may là trong Kubuntu 7.10, bộ OpenOffice 2.3 đọc được font VNI, font TCVN3 thì vẫn bị lỗi chữ “ư”.
        Gõ tiếng Việt kiểu telex dùng font VNI hoặc font TCVN3 trong OpenOffice Writer được bình thường.
        Bộ gõ x-unikey không có chức năng chuyển mã font. Tôi đã tìm hiểu được cách chuyển mã dùng chức năng chuyển mã của Unikey for Windows chạy trong Kubuntu. Đồng thời cũng khắc phục được lỗi chữ “ư” khi chuyển sang font unicode.
        Tài liệu hướng dẫn có tại site www.mediafire.com/zxc232

        UPDATE (1/2009): Hiện nay đã có công cụ chuyển mã font rất hay và đơn giản hơn cả cách chuyển mã bằng clipboard của unikey for Windows. Đó là extension OvniConv .
        Cài vào OpenOffice, mở file cần chuyển mã rồi nhấn vào menu Tools – Add-Ons – Convert to Unicode, văn bản sẽ tự động chuyển mã các đoạn font TCVN, VNI sang Unicode, các đoạn đã là unicode thì giữ nguyên!

        Kubuntu 7.10: Cài đặt máy in Canon LBP 1120, 1210, 2900,… và HP 1020

        UPDATE 24/3/2009: xem hướng dẫn chi tiết cho K/Ubuntu 8.10 tại đây.

        MANDRIVA 2008: CÀI MÁY IN CANON LBP-1120, 1210, 2900, 3000, 3200, 3210, 3300, 3500, 5000, 5100, 5300 dùng CAPT driver

        xem hướng dẫn cho Mandriva 2009.0 tại đây.

        Hỗ trợ phần cứng thường là điểm yếu của các hệ Linux so với Windows. Các driver phần cứng trong Linux chia làm hai loại:
        1- Các driver nguồn mở. Các driver này thường chỉ có cho những thiết bị phần cứng tương đối phổ thông, đảm bảo được các tính năng cơ bản. Do bí mật thương mại, các nhà sản xuất phần cứng không công bố hết các đặc điểm kỹ thuật, do vậy driver nguồn mở không khai thác hết được các đặc tính cao cấp, đặc thù của thiết bị.
        2- Các driver Linux nguồn đóng của nhà sản xuất. Driver loại này tốt hơn loại nguồn mở, nhưng do không tuân thủ giấy phép nguồn mở (không công bố mã nguồn) nên mặc định không được cài sẵn trong Kubuntu. Người dùng tự cài (ví dụ qua Restricted Drivers trong System Settings).
        Ví dụ về hai loại driver nói trên là driver cho các card màn hình của NVIDIA. Vấn đề này đã trình bày chi tiết trong các tài liệu công bố trên blog này.

        So với phiên bản 6.10, bản Kubuntu 7.10 hỗ trợ phần cứng khá hơn rất nhiều và với đà này chắc chắn sẽ ngày càng hoàn thiện. Khi cài máy in cần lưu ý các điểm sau:
        1- Các file driver máy in trong Kubuntu có đuôi file là ppd và nằm trong thư mục /usr/share/ppd. Trong đó, thư mục con openprinting chứa các driver nguồn mở. Các máy in nằm trong thư mục này được liệt kê sẵn để chọn khi ta cài máy in theo Printer Wizard của mục Printers trong System Settings.
        2- Nếu không thấy có tên máy in trong danh sách, nhấn nút Other, chuyển đến các thư mục con của /usr/share/ppd để tìm driver (Ví dụ máy in HP1020 nằm trong thư mục /usr/share/ppd/foo2zjs).
        3- Nếu vẫn không tìm được driver có sẵn trên máy, phải tìm đến site của nhà sản xuất hoặc search trên Internet. Ví dụ các loại máy in Canon LBP 1120, 1210, 2900, 3000, 3200, 3210, 3300, 3600, 5000 có driver (Canon CAPT Printer Driver for Linux) dạng deb tại site Canon. Sau khi tải về, cài hai file đó rồi làm theo hướng dẫn tại đây. Với Kubuntu 7.10 chỉ cần làm theo bước 3 là được.

        CẬP NHẬT 1/7/2008: trong gói driver tải về, có file hướng dẫn cài từng bước. Xem post cài máy in Canon trong Mandriva để biết cách đọc file này.
        Trang hỗ trợ máy in trong Kubuntu tại đây. Lưu ý là dữ liệu trong trang này nhiều khi không được cập nhật (Ví dụ với máy in LBP 2900). Do đó tốt nhất là search trên Internet.

        UPDATE (16/2/2008): Tải file “Cai dat may in Canon LBP.pdf” mới nhất tại các kho dữ liệu Windows LiveSavefile .

        Tìm kiếm file và thư mục trong Kubuntu Gutsy 7.10

        Trong các phiên bản Kubuntu trước, việc tìm kiếm file và thư mục được thực hiện bằng chương trình KFind, cách nhập từ cần tìm có hơi khác Windows và không tìm được trong nội dung các file MS Office.

        Trong bản Kubuntu 7.10, chương trình tìm kiếm mặc định là Strigi. Chương trình này khá tồi, sử dụng phức tạp, cũng không tim được nội dung các file MS Office.

        Tuy nhiên, có thể cài đặt Google Desktop, một công cụ tìm kiếm rất mạnh, cài đặt đơn giản, tìm được trong nội dung các file MS Office và đồng thời lại là công cụ sao lưu tự động các file.

        Tài liệu “Tìm kiếm trong Kubuntu 7.10.pdf” trình bày cách sử dụng KFind, cách cài đặt, cấu hình và sử dụng Google Desktop.

        Có thể tải tài liệu này tại:

        1- Site http://www.mediamax.com/zxc232
        2- Site http://savefile.com/projects/1064804

        UDATE: mục tìm kiếm bằng KFind và Google Desktop đã được đưa vào tài liệu “Sử dụng Kubuntu Gutsy Gibbon phần 2″ tải về từ kho dữ liệu Mediafire.

        MỚI: Các tài liệu hướng dẫn Kubuntu 7.10 version 2

        Các tài liệu hướng dẫn cài đặt, sử dụng Kubuntu 7.10 đã được sửa đổi, bổ xung và tập hợp trong một file nén “Huong dan Kubuntu 7.10 version 2.zip” (13MB) đặt trên:
        1- site www.mediamax.com/zxc232.
        2- site savefile.com

        Tài liệu Sử dụng Kubuntu 7.10

        Tôi up lên đây và lên mediamax tài liệu “Sử dụng Kubuntu Gutsy Gibbon 7.10″ phần 1 và phần 2. Những tài liệu này dựa trên “Sử dụng Kubuntu Edgy” có sửa lại cho phù hợp với phiên bản 7.10.
        Hai tài liệu này hợp cùng với bản “Cài đặt Kubuntu 7.10″ thành một bộ.
        Download tại các kho dữ liệu nêu ở góc trên bên phải màn hình
        Những sai sót, góp ý xin post tại đây hoặc: zxc232@gmail.com

        Từ điển StarDict và Kubuntu 7.10

        Bản StarDict 3.0.0 có sẵn trong kho của Kubuntu 7.10 (cài qua Add/Remove Programs) có một lỗi khi chạy: nếu tra từ bằng cách bôi đen từ rồi nhấn phím Win thì màn hình hiện lên không cố định lại được (di chuột là màn hình tắt).
        Phải tải bản 3.0.1 beta từ site của StarDict về cài mới không bị lỗi nói trên. Trước khi cài, vào Adept Manager, gỡ bỏ cả stardict và stardict-common đi.
        So với bản trước 2.4.8 thì bản này hay hơn hẳn, nhiều từ điển hơn, từ điển Anh-Việt cũng “có vẻ” nhiều từ hơn (chưa kiểm tra kỹ).
        Cách dùng nêu trong tài liệu “Sử dụng Kubuntu 7.10″ sẽ up lên trong một ngày gần đây.

        Bộ gõ tiếng Việt X-unikey và Kubuntu 7.10

        Trên site của unikey (http://www.unikey.org/linux.php) có hai bộ x-unikey dưới dạng file deb có thể cài ngay vào Kubuntu không phải dịch (nhưng trước khi cài phải update Kubuntu). Tôi đã thử bộ x-unikey_1.0.4-1_i386.deb trong Kubuntu 7.10 thì bị lỗi: đang gõ thỉnh thoảng lại không gõ được tiếng Việt. Phải nhấn Ctrl+Shift tắt tiếng Việt đi rồi lại Ctrl+Shift thì mới tiếp tục gõ được.
        Khi gỡ bộ đó ra rồi cài x-unikey-0.92.i386.ubuntu.deb thì không bị lỗi trên nữa.
        Cần chú ý là khi cài phải xuất hiện màn hình Installation finished thì quá trình cài mới thành công. Nếu không phải Restart máy rồi cài lại. Phần mềm GDebi dùng cài các file deb trực quan hơn so với màn hình terminal trong các phiên bản Kubuntu trước nhưng có vẻ làm việc chưa ngon lắm.

        Cài đặt Kubuntu 7.10

        Ngày mai 18/10/2007, Kubuntu 7.10 sẽ chính thức phát hành. Dựa trên bản Kubuntu 7.10 Release Candidate, tôi soạn tài liệu “Cài đặt Kubuntu Gutsy Gibbon 7.10″ và một số file phụ trợ cài đặt lưu trong file “Linux Gibbon.zip” chia sẻ với các bạn tại www.mediamax.com/zxc232.
        Hy vọng có thời gian để viết “Sử dụng Kubuntu Gutsy Gibbon 7.10″ và sẽ upload lên sau.
        Mong mọi người cho ý kiến để cùng hoàn thiện.

        Kubuntu 7.10

        Theo đúng hẹn, bản Kubuntu 7.10 sẽ ra đời vào ngày 18/10/2007. Tôi đã cài thử bản Kubuntu 7.10 Release Candidate và có một số nhận xét ban đầu post ở đây

        Một rắc rối nhỏ với x-unikey trong Kubuntu 6.10

        X-unikey là bộ gõ tiếng Việt tốt trong Kubuntu, tốt hơn cả xvnkb trong Ubuntu. Trong Kubuntu, x-unikey tự động khởi động nhờ link đặt trong /home/<username>/.kde/Autostart.
        Tuy nhiên có một rắc rối nhỏ cần lưu ý: khi khóa màn hình bằng KMenu – Lock Session thì biểu tượng của x-unikey nhấp nháy liên tục và màn hình, bàn phím, chuột bị khóa không thể unlock được. Đôi khi phải chờ khá lâu, session đang chạy mới thực sự bị lock. Sau đó gõ phím bất kỳ hoặc rê chuột sẽ xuất hiện màn hình nhập password để unlock.
        Nếu không chờ được mà muốn vào lại Kubuntu, đôi khi phải reset máy bằng nút Restart. Tóm lại là x-unikey cản trở và làm treo quá trình lock session.
        Để khắc phục, phải tắt x-unikey trước khi lock session bằng tổ hợp phím Ctrl+Alt+nhấn chuột trái vào biểu tượng x-unikey. Sau đó vào KMenu-Lock Session thì màn hình sẽ tắt ngay, gõ phím bất kỳ hoặc rê chuột sẽ làm xuất hiện màn hình unlock.

        Cách đơn giản hơn là không dùng KMenu. Tổ hợp phím Ctrl+Alt+L sẽ thực hiện việc lock session nhanh và không bị treo.

        Sửa lỗi khi dùng Adept Manager

        Chương trình apt-get và các giao diện đồ họa của nó (Adept Manager, Add/Remove Programs) được coi là một trong những chương trình quản lý và cài đặt các gói phần mềm mạnh nhất hiện nay.Tuy nhiên, khi dùng các giao diện đồ họa để cài, ta có thể gặp lỗi, quá trình cài không hòan tất do chưa down đủ các gói phần mềm về chằng hạn. Sau khi đã báo lỗi đó là Adept Manager không dùng được nữa.Để chữa dạng lỗi trên, phải mở Terminal và chạy lần lượt các lệnh sau:
        sudo dpkg   – -configure -a
        sudo apt-get install -f

        Lệnh đầu sẽ cài tiếp các gói đã down được về. Lệnh sau down lại gói còn dở. Nó cũng soát cho biết có gói nào thừa không dùng để bạn có thể remove đi.

        Restricted Manager

        Như đã giới thiệu trong tài liệu sử dụng Kubuntu, các gói phần mềm restricted là những gói không tuân thủ hoàn toàn tiêu chuẩn của Ubuntu: được sử dụng tự do nhưng không được sửa (ví dụ các driver card màn hình của ATI và NVIDIA).
        Trong Ubuntu Feisty Fawn 7.04 có một phần mềm quản lý và tự cài đặt các gói restricted mà trong Kubuntu 7.04 không có. Ta có thể tự cài đặt phần mềm đó lên Kubuntu 7.04 (không cài được lên Kubuntu 6.10).
        Tên phần mềm đó là restricted-manager có thể cải được từ trong Adept Manager (xem cách cài trong tài liệu Sử dụng Kubuntu). Sau khi cài, chạy từ Run Command.
        Phần mềm này sẽ rà soát phần cứng và hiện lên danh sách các gói restricted có thể cài. Ví dụ máy bạn có card màn hình ATI, mặc định Kubuntu đã dùng driver opensource là ati, phần mềm này sẽ báo cho bạn biết là còn có driver fglrx của chính hãng. Nếu bạn đồng ý Enable driver này, chương trình sẽ tự download và cài cho bạn. Sau đó báo là cần Restart máy.
        Sau khi restart máy, vào System Settings-Monitor&Display-Hardware ta sẽ thấy trong mục Driver bây giờ là fglrx không phải ati nữa. Tất nhiên là driver của chính chủ sẽ tốt hơn driver opensource (ví dụ dùng được các hiệu ứng 3D).
        Chạy Adept Manager, gõ từ fglrx vào ô Search ta sẽ thấy là driver đã được cài có tên đầy đủ là xorg-driver-fglrx. Tuy nhiên một phần mềm tiện ích là fglrx-control lại chưa được cài.
        Cài xong fglrx-control, trên KMenu sẽ xuất hiện menu ATI Control. Nhấn vào đó sẽ xuất hiện ATI Control Panel cho biết các thông tin về card màn hình và có thể chỉnh sửa được một số thiết lập.

        Tăng tốc độ cho Ubuntu

        Địa chỉ này http://blog.lxpages.com/2007/04/24/ubuntu-performance-guides/ có nhiều link dành cho việc cải thiện tốc độ của Ubuntu và Kubuntu.

        Định giờ tắt máy

        1- Chạy lệnh kdesu kcron trong Run Command
        2- Trong màn hình Kcron, mở mục Root, nhấn phím phải chuột chọn New Task. Trong ô Program gõ: /sbin/poweroff. Chọn ngày giờ, phút muốn tắt máy tự động. OK rồi save lại.
        Với các chương trình khác mà user thường có thể thực hiện được không cần quyền root thì chỉ cần chạy Kcron từ KMenu-System-Kcron.

        Bộ gõ tiếng Việt x-unikey trong Kubuntu 7.04

        Bộ gõ tiếng Việt x-unikey (từ file x-unikey-0.92.i386.ubuntu.deb) cài trơn tru trong Kubuntu 6.10 chỉ cần một lần cài.
        Trong Kubuntu 7.04, khi nhấn phím phải chuột vào file và chọn Install Package sẽ bị báo lỗi thiếu thư viện libstdc++5. Trong 7.04, thư viện này đã có bản mới libstdc++6. Để cài tiếp, mở Adept Manager ra sẽ thấy xuất hiện x-unikey với trạng thái BROKEN. Chọn Request Install, Adept Manager sẽ tự down libstdc++5 về cài cùng với x-unikey (Xem chi tiết cách cài kiểu này trong tài liệu “Sử dụng Kubuntu Edgy” đã post trên blog này).
        Trên site của unikey còn bản 1.0.2b.deb nửa nhưng tôi chưa có dịp thử.

        Phiên bản mới Kubuntu 7.04

        Cuối cùng thì phiên bản mới của Kubuntu cũng đã ra đời vào ngày 19/4/2007. Một vài nhận xét sơ bộ ban đầu xem tại đâyNếu bạn mới học cài lần đầu thì chưa nên cài bộ này, hãy cứ dùng bản 6.10 có đầy đủ hướng dẫn đã post ở blog này. Nếu bạn đã có đủ kinh nghiệm thì có thể thử, tất nhiên là bản mới hơn bao giờ cũng có nhiều tính năng và chất lượng khá hơn nhưng cũng sẽ gặp những trục trặc mới cần giải quyết.

        Chỉnh sửa cấu hình màn hình, chuột, bàn phím

        Chỉnh sửa các cấu hình màn hình (thay đổi độ phân giải, thay driver,..), bàn phím và chuột có lẽ là phần “khoai” nhất trong Kubuntu (và có lẽ một số hệ Linux khác?). Sau khi chỉnh, khởi động lại máy ta nhận được một màn hình đen kịt với thông báo kiểu như “Out of range”. Trước đây tôi đã một vài lần phải cài lại cả Kubuntu sau những lần như thế.Ngoài ra, nếu ban đầu cài Kubuntu với một màn hình nhỏ, nay thay màn hình khác to hơn thì vào System Settings không thấy có chỗ nào chỉnh được độ phân giải lên cao hơn!

        Tài liệu kèm theo đây chia sẻ các kinh nghiệm về các vấn đề nêu trên. Hy vọng nó có ích cho mọi người.
        Xorg configuration.pdf

        Lưu ý khi cài phần mềm bằng Adept Manager

        Khi cài phần mềm bổ xung vào Kubuntu bằng Adept Manager, phần mềm và các gói liên quan được tự động download về và cài. Nếu đang trong quá trình cài (đã download xong), bạn thấy màn hình đứng yên tức là quá trình cài yêu cầu thông tin bổ xung. Nhấn vào nút Show Details (ở bên phải thanh trạng thái cài đặt). Một màn hình chi tiết sẽ mở ra cho thấy ví dụ phần mềm đang chờ bạn trả lời đồng ý với các điều kiện bản quyền của nó hoặc chọn một mục nào đó chẳng hạn. Trong màn hình này phải dùng phím Tab di chuyển đến các vị trí, dùng Space để chọn các option, Enter để chấp nhận, không dùng chuột được.Trường hợp này sẽ gặp khi cài java, egroupware,… tức là những phần mềm đòi hỏi tương tác khi cài.

        Sửa lỗi không vào được màn hình đồ họa

        Khi chỉnh sửa các thiết lập màn hình trong System Settings (độ phân giải, card và driver màn hình, loại màn hình,…) có thể gặp những trường hợp các thiết lập mới không đúng, do đó khi khởi động lại, Kubuntu không vào màn hình đồ họa được mà chỉ dứng lại ở màn hình text đen trắng. Một cách khôi phục lại thiết lập cũ như sau:
        1- Khởi động lại máy vào chế độ Recovery (chọn trong menu khởi động).
        2- Tại dấu nhắc lệnh, gõ cd /etc/X11rồi Enter
        3- Gõ lệnh rm xorg.conf rồi Enter.
        4- Gõ lệnh mv xorg.conf.1 xorg.conf hoặc mv xorg.conf.bak xorg.conf rồi Enter. (Trong cả 3 lệnh trên, giữa các cụm từ có dấu cách)
        5- Khởi động lại máy ở chế độ bình thường.
        Nói chung, không nên thay đổi các thiết lập màn hình. Khi chạy Kubuntu đã tự tìm thiết lập phù hợp nhất với nó rồi.Lưu ý: Các màn hình Đông Nam Á thường bị nhấp nháy nhẹ khi chạy Kubuntu. Tôi chưa tìm được cách khắc phục.

        Các biến thể của Ubuntu

        DANH SÁCH CÁC HỆ LINUX DỰA TRÊN UBUNTU

        (Bản phỏng dịch, bản gốc theo link ở trên, các danh từ, khái niệm chọn theo hướng đơn giản, dễ hiểu, ví dụ không dùng distro. Các chữ in nghiêng là lời người dịch. Các khái niệm cần tham khảo thêm có link chủ yếu tới Wikipedia cũng do người dịch đặt – ZXC)

        Dưới đây là danh sách các hệ điều hành Linux dựa trên Ubuntu, có thể có ích cho một số người sử dụng.

        1. Ubuntu

        Ubuntu là hệ điều hành Linux đầy đủ (dùng môi trường đồ họa GNOME), sử dụng miễn phí có sự hỗ trợ của cộng đồng (miễn phí) và hỗ trợ chuyên nghiệp (có phí, của công ty Canonical Ltd.). Hệ này được phát triển bởi một cộng đồng lớn và chúng tôi cũng mời bạn tham gia vào đó!

        Trang chủ của dự án

        http://www.ubuntu.com/

        Downloads

        http://www.ubuntu.com/products/GetUbuntu/download?action=show&redirect=download

        1. Kubuntu

        Kubuntu là hệ điều hành thân thiện với người dùng dựa trên môi trường đồ họa KDE. Kubuntu, một phần của dự án Ubuntu, là hệ Linux dành cho mọi người với chu kỳ phát triển dự kiến là 6 tháng một phiên bản mới.

        Trang chủ của dự án

        http://www.kubuntu.org/

        Downloads

        http://www.kubuntu.org/download.php

        1. Edubuntu

        Edubuntu là hệ điều hành Linux đầy đủ, sử dụng miễn phí có sự hỗ trợ của cộng đồng. Hệ này đặt mục tiêu là dành cho giáo dục.

        Trang chủ của dự án

        http://www.edubuntu.org/

        Downloads

        http://www.edubuntu.org/Download

        1. Xubuntu

        Xubuntu là một trong những biến thể chính thức của Ubuntu (hai biến thể chính thức khác là Kubuntu và Edubuntu) dùng môi trường đồ họa Xfce. Xubuntu dành cho các máy tính có tính năng thấp hoặc cho những người muốn có một hệ điều hành có hiệu quả cao (tập trung vào hiệu quả mà không chú ý hình thức giao diện). Xubuntu chủ yếu dùng các ứng dụng GTK+ (GTK+ cùng với Qt là hai bộ công cụ giao diện – GUI Toolkits – chủ yếu cho các hệ Linux hiện nay. Xem thêm ở đây)

        Trang chủ của dự án

        http://www.xubuntu.org/

        Downloads

        http://www.xubuntu.org/get

        1. Fluxbuntu

        Fluxbuntu là hệ điều hành Linux dựa trên Ubuntu, gọn nhẹ, tuân thủ các chuẩn và dùng phần mềm quản lý cửa sổ Fluxbox. Mục tiêu của hệ này là chạy được trên một dải rộng các máy tính và thiết bị di động cả cấu hình cao và thấp. Ban đầu phát triển cho kiến trúc PowerPC, gần đây bắt đầu hỗ trợ máy trò chơi Sony Playstation 3.

        Trang chủ của dự án

        http://fluxbuntu.org/

        Downloads

        http://fluxbuntu.org/?q=node/3

        1. Scibuntu

        Là hệ Ubuntu dành cho các nhà khoa học và sinh viên các ngành khoa học. Scibuntu không phải là một hệ điều hành đúng nghĩa mà là bản Ubuntu có bổ xung các phần mềm và công cụ khoa học thích hợp.

        Trang chủ của dự án

        http://scibuntu.sourceforge.net/

        1. Linux Mint

        Linux Mint đặt mục tiêu tạo một hệ điều hành thanh lịch, cập nhật và tiện lợi dựa trên Ubuntu.

        Trang chủ của dự án

        http://lt.k1011.nutime.de/index.html

        Downloads

        http://lt.k1011.nutime.de/download.html

        1. Ubuntu Multi Media

        Ubuntu Multimedia Center là hệ điều hành Linux hoàn chỉnh, miễn phí có sự hỗ trợ của cộng đồng và hỗ trợ chuyên nghiệp. Hệ này cũng có một bản live cd miễn phí. Hệ này ra đời vì Ubuntu không hỗ trợ đầy đủ multimedia. Người dùng phải tự tải các phần mềm mã để chơi nhạc mp3 và các mã có bản quyền khác. Mục tiêu của hệ là tạo điều kiện cho người dùng sử dụng các chương trình multimedia dễ dàng nhất.

        Trang chủ của dự án

        http://ubuntummc.com/

        1. Guadalinex

        Guadalinex là hệ điều hành dựa trên Ubuntu dùng cho vùng Andalusia của Tây ban nha.

        Trang chủ của dự án

        http://www.guadalinex.org/

        1. Arabian Linux

        Hệ Linux Ả rập là một đĩa CD boot được có các phần mềm Linux đã dịch hỗ trợ đầy đủ cho tiếng Ả rập và tiếng Anh, tự động phát hiện các phần cứng của máy. Bản live cd Ả rập này có giao diện KDE, dùng tiếng Ả rập trong mọi chỗ có thể. Bản Linux Ả rập 0.6 phát hành ngày 17/4/2006. Bản 0.7 dựa trên Ubuntu 6.06 LTS.

        Trang chủ của dự án

        http://arabian.arabicos.com/

        1. MoLinux

        MoLinux là hệ Linux do chính quyền vùng Castilla la Mancha của Tây ban nha xây dựng dùng trong các cơ quan chính quyền và trường học. Những phiên bản đầu dựa trên Debian rồi Progeny. Phiên bản 1.2 có tên mã Dulcinea (người đẹp của Đông Ki sốt) công bố ngày 16/7/2005 dựa trên Ubuntu. Phiên bản 2.0, tên mã Sancho (người hầu của Đông Ki sốt) công bố ngày 18/12/2005. Bản live cd của 2.0 ra đời ngày 10/2/2006. Phiên bản 2.2, tên mã Rocinante (con ngựa của Đông Ki sốt) dựa trên Ubuntu Dapper 6.06.1 ra đời ngày 3/10/2006.

        Trang chủ của dự án

        http://www.molinux.info/

        1. Ubuntu Lite

        Ý tưởng của Ubuntu Lite là đưa sức mạnh của Ubuntu đến cho những người sử dụng các máy tính cũ.

        Trang chủ của dự án

        http://www.ubuntulite.org/

        1. gNewSense

        Một dự án mã nguồn mở có mục đích loại bỏ tất cả những phần “không tự do” (non-free) ra khỏi các hệ điều hành và tạo nên một hệ free hoàn toàn. Hiện tại hệ này dựa trên Ubuntu và loại những phần không tự do trong lõi linux của Ubuntu ra.

        Ngoài ra, dự án này cũng xây dựng một bộ công cụ dùng cho bất kỳ ai cũng có thể tự xây dựng lấy một hệ điều hành Linux theo ý mình.

        Trang chủ của dự án

        http://www.gnewsense.org/

        Downloads

        http://cdimage.gnewsense.org/

        1. SimplyMEPIS

        SimplyMEPIS là hệ điều hành Linux dùng môi trường đồ họa KDE, nền là Debian (và hiện nay là Ubuntu Dapper), dành cho máy tính để bàn. Bản gần đây nhất ra đời vào tháng 5/2005. Hệ này tự nhận là hệ điều hành của thế kỷ 21, tập trung vào tính dễ sử dụng. Một trong những đặc điểm dễ sử dụng đó là quá trình tự phát hiện và cài đặt driver cho các bộ phận phần cứng trong máy.

        Trang chủ của dự án

        http://www.mepis.org/

        Downloads

        http://www.mepis.org/node/1462

        1. Devubuntu

        Devubuntu là hệ điều hành Linux dựa trên Ubuntu dành cho các nhà lập trình phần mềm, nhà quản trị web. Nó chứa nhiều môi trường lập trình khác nhau và nhiều tài liệu cần thiết về lập trình.

        Trang chủ của dự án

        http://www.giovelug.org/articles.php?lng=en&pg=106

        1. Elbuntu

        Elbuntu dựa trên Ubuntu nhưng không dùng GNOME mà dùng trình quản lý cửa sổ Enlightenment DR17.

        Trang chủ của dự án and Downloads

        https://launchpad.net/products/elbuntu

        1. Ichthux

        Ichthux là hệ điều hành dành cho những người sử dụng theo đạo Thiên chúa. Hệ dựa trên Kubuntu, kèm theo các phần mềm và thiết lập riêng phù hợp với người có đạo (Kinh thánh, các biểu tượng tôn giáo, từ điển Kinh thánh,….).

        Trang chủ của dự án

        http://www.ichthux.com/

        Downloads

        http://www.ichthux.com/en/download

        1. Ubuntu Christian Edition

        Hệ điều hành Ubuntu Thiên chúa giáo (còn gọi là Ubuntu CE) là hệ điều hành đầy đủ thiết kế dành cho người theo đạo Thiên chúa dựa trên nền Ubuntu.

        Trang chủ của dự án

        http://www.whatwouldjesusdownload.com/christianubuntu/2006/07/about-ubuntu-christian-edition.html

        Downloads

        http://www.whatwouldjesusdownload.com/christianubuntu/2006/07/download.html

        1. nUbuntu

        nUbuntu (Network Ubuntu) là hệ điều hành dựa trên Ubuntu trang bị thêm các công cụ thâm nhập và test các máy chủ và mạng. Ngoài việc dùng cho test máy chủ và mạng, nUbuntu là hệ điều hành máy để bàn dành cho người sử dụng Linux chuyên nghiệp.

        Trang chủ của dự án

        http://www.nubuntu.org/

        Downloads

        http://www.nubuntu.org/downloads.php

        1. Dubuntu

        Hệ điều hành Linux tiếng Hoa dựa trên Ubuntu.

        Project Home page and downloads

        http://www.dubuntu.com/

        1. zUbuntu

        zUbuntu là biến thể không chính thức của Ubuntu dành cho các máy chủ mainframe IBM eServer zSeries do Thomas Uhl phát triển. Công việc hiện đang tiến hành, chưa có phiên bản nào được công bố.

        Trang chủ của dự án

        https://launchpad.net/distros/zubuntu

        1. Ubuntu Satanic Edition

        Ubuntu SE không phải là một hệ điều hành đúng nghĩa. Nó bao gồm một số các chủ đề (theme) màn hình thay thế cho các theme của Ubuntu (theo hướng đối lập với Ubuntu Thiên chúa giáo. Ví dụ: ảnh màn hình chủ đạo là màu đen và lửa địa ngục, có các biểu tượng của quỷ Satăng,…)

        Bạn phải cài Ubuntu trước rồi upgrade nó lên Ubuntu SE.

        Trang chủ của dự án and Downloads

        http://parker1.co.uk/satanic

        1. ImpiLinux

        ImpiLinux là một bản Ubuntu mang tính địa phương Nam Phi dành cho doanh nghiệp và chính phủ. Phiên bản này do Mark Shuttleworth, nhà tỷ phú Nam Phi và cũng là nhà tài trợ chính cho Ubuntu đầu tư.

        Trang chủ của dự án

        http://www.impilinux.co.za/

        1. mEDUXa

        mEDUXa là hệ điều hành Linux dựa trên Ubuntu dành cho mục tiêu giáo dục thuộc dự án MEDUSA. Nó sẽ được khai triển trên 35′000 máy tính của 1′100 trường với khoảng 325′000 người sử dụng (25′000 giáo viên và 300′000 học sinh) tại bang Canary Islands của Tây Ban Nha.

        Trang chủ của dự án

        http://www.grupocpd.com/archivos_documentos/info_meduxa/meduxa_project_released