Bộ Quốc phòng Mỹ đẩy mạnh việc dùng phần mềm nguồn mở

BỘ QUỐC PHÒNG MỸ ĐẨY MẠNH VIỆC DÙNG PHẦN MỀM NGUỒN MỞ.

Zxc232 tổng hợp từ Internet

Ngày 16/10/2009, bộ Quốc phòng Mỹ (DoD) phát hành công văn (official memo) “Giải thích làm rõ về Phần mềm Nguồn mở” . Với văn bản này, phần mềm nguồn mở có đủ điều kiện thực tế để được xem xét, mua sắm và sử dụng trong quân đội Mỹ bình đẳng như các phần mềm thương mại nguồn đóng khác.

Năm 2003, bộ QP Mỹ đã có một công văn về “ Phần mềm Nguồn mở trong bộ Quốc phòng” hướng dẫn việc mua sắm, sử dụng và phát triển PMNM trong bộ. Tuy nhiên, như công văn mới nhận xét “ còn có những nhận thức sai, hiểu sai các luật lệ, chính sách, quy chế hiện hành về phần mềm và việc áp dụng vào PMNM do đó cản trở việc sử dụng và phát triển PMNM trong bộ”. Và công văn này sẽ giải thích rõ, chấm dứt các cản trở đó, như vậy PMNM mới có đủ điều kiện thực tế bước chân vào bộ QP. Từ nay trong quân đội Mỹ, PMNM phải được xem xét bình đẳng như các phần mềm nguồn đóng khác trong các vụ mua sắm, trang bị, xây dựng phần mềm.

Điều này cũng giống như Việt nam, thiếu các văn bản hướng dẫn thi hành không luật lệ nào áp dụng vào thực tế được.

Một trong những điểm quan trọng là đánh giá về vai trò của PMNM trong bộ QP, công văn viết:” Để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của mình, bộ QP phải phát triển và cập nhật khả năng phần mềm nhanh hơn bao giờ hết, dự kiến được các nguy cơ mới và đáp ứng được với các yêu cầu thay đổi liên tục. Việc sử dụng PMNM có thể tạo thuận lợi cho các vấn đề đó – To effectively achieve its missions, the Department of Defense must develop and update its software-based capabilities faster than ever, to anticipate new threats and respond to continuously changing requirements. The use of Open Source Software (OSS) can provide advantages in this regard…”

Điểm (b) trong section 2, phụ lục 2 của công văn phân tích rõ các ưu điểm đã nói ở trên.

Hiện nay, mặc dù còn những cản trở nói trên, bộ QP Mỹ đang dùng khá nhiều PMNM và cũng nguồn mở hóa hơn 1 triệu dòng lệnh phần mềm của mình cho công chúng (xem thêm tại đây , tại đâytại đây). Giám đốc một công ty tư vấn về PMNM cho chính phủ Mỹ đánh giá rằng khoảng từ 1/3 đến một nửa phần mềm của bộ QP hiện nay là PMNM.

Việc quân đội Mỹ tích cực dùng PMNM như vậy chứng minh rằng về tính năng và bảo mật, PMNM có thể áp dụng trong bất cứ lĩnh vực nào.

Không hiểu điều này đã đủ để thuyết phục các cấp lãnh đạo của Việt nam chưa?

Website Nhà Trắng chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở

Thoughts on the Whitehouse.gov switch to Drupal

by Tim O’Reilly Zxc232 lược dịch

Ngày hôm qua (24/10/09), bộ phận truyền thông mới của Nhà Trắng (phủ Tổng thống Mỹ) tuyên bố với hãng thông tấn AP rằng website whitehouse.gov giờ đã chuyển sang chạy trên nền Drupal, hệ quản trị nội dung nguồn mở. Drupal lại chạy trên nền bộ phần mềm nguồn mở LAMP gồm: hệ điều hành Red Hat Linux , phần mềm website Apache, hệ cơ sở dữ liệu MySQL và các ngôn ngữ lập trình Perl/PHP/Python. Công cụ tìm kiếm của website là Apache Solr.

Đây là một chiến thắng lớn cho phần mềm nguồn mở ở cả hai mặt: Nhà Trắng chấp nhận dùng phần mềm nguồn mở và cũng chấp nhận cả phương thức phát triển phần mềm dựa trên cộng đồng ( các phần mềm nói trên sẽ tiếp tục được nâng cấp, phát triển bởi cộng đồng nguồn mở). Việc làm của Nhà Trắng sẽ là tấm gương cho các cơ quan chính phủ khác noi theo.

Điều đáng để nói là lý do của việc chuyển đổi đó. Theo bài báo của AP thì:

Các quan chức Nhà Trắng mô tả việc chuyển đổi này giống như xây lại móng nhà nhưng không thay đổi diện mạo mặt tiền. Nó sẽ làm cho website của Nhà Trắng an toàn hơn và điều đó cũng đúng cho các site khác của chính phủ trong tương lai ….

Việc lập trình công cộng nghe thì có vẻ kém an toàn, nhưng thực ra là ngược lại, các chuyên gia trong và ngoài chính phủ khẳng định. Các nhà lập trình sẽ hợp tác cùng tìm lỗi và các lỗ hổng an ninh và do đó sản phẩm cuối cùng sẽ an toàn hơn.

Macon Phillips, giám đốc truyền thông của Nhà Trắng nói với hãng AP rằng: “Chúng tôi bây giờ đã có một nền tảng công nghệ cho phép thu được nhiều ý kiến hơn trên site. Đó là một công nghệ tiên tiến nhất và chính phủ tham gia vào đó”.

Một ví dụ: 60.000 người theo dõi bài phát biểu của Obama về chương trình bảo hiểm y tế trước lưỡng viện quốc hội. Một phần ba trong số đó đồng thời lên mạng để trao đổi với các quan chức chính phủ về bài phát biểu đó. Nhưng hồi đó công nghệ còn bị hạn chế (dùng công nghệ của Facebook).

“ Chúng tôi muốn cải tiến các công cụ mà hàng nghìn người truy cập vào website Nhà Trắng dùng để nói chuyện với các quan chức” Phillips nói.

Đây cũng là một khẳng định cho cam kết của Obama làm cho chính phủ cởi mở hơn và minh bạch hơn. Các trợ lý nói đùa rằng không còn gì minh bạch hơn là cho toàn thế giới biết mã nguồn của website

Ngoài an ninh, Nhà Trắng cũng nhìn thấy cơ hội tăng tính linh hoạt của site. Drupal có một thư viện khổng lồ các module do người dùng đóng góp, nó sẽ giúp bổ xung các tính năng để site của Nhà Trắng có nhiều khả năng giao tiếp công cộng hơn từ việc chat online với số lượng lớn cho đến việc hỗ trợ nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đó chính là việc thực hiện Công nghệ nền Chính phủ (Government as Platform) mà tôi đã nói. Khi ta xây dựng một nền móng linh hoạt, mở rộng được, những người khác sẽ bổ xung thêm các giá trị vào đó; khi sử dụng một nền móng như vậy, ta được lợi từ nhiều cái mà chính ta không làm.

Tất nhiên không khó để hình dung việc dùng phần mềm nguồn mở sẽ tiết kiệm cho ngân sách IT của chính phủ. Tất cà những phần mềm nói trên đều có thể tải tự do về từ Internet. Nhưng tôi nghĩ là còn nhiều vấn đề hơn thế.

Thứ nhất, chính phủ có rất nhiều yêu cầu đặc biệt (hãy nhớ lại sự ồn ào về cái điện thoại blackberry của Tổng thống Obama). Thứ hai, môi trường kinh doanh ở Washington rất phức tạp, chỉ có ít hãng phần mềm nguồn mở hiểu được nó. Thứ ba, một vụ khai triển IT lớn như thế yêu cầu phải phối hợp nhiều công ty. Theo trang techpresident.com, có không dưới năm công ty tham gia vào vụ chuyển đổi này: nhà thầu chính là General Dynamics Information Systems, hai công ty chuyên về Drupal là Phase 2Acquia, nhà cung cấp dịch vụ hosting Terremark, nhà cung cấp CDN ( Content Delivery Network) Akamai..

IBM và Canonical tuyên chiến với Windows 7

IBM VÀ CANONICAL TUYÊN CHIẾN VỚI WINDOWS 7

Ngày 20/10/2009 vừa qua, IBM và Canonical tuyên bố tung ra thị trường Mỹ bộ phần mềm IBM Client for Smart Work (ICSW) cạnh tranh trực tiếp với Windows 7.

Bộ phần mềm này dành cho một dải rộng cấu hình máy (máy để bàn, laptop và netbook), gồm có:

  • Hệ điều hành Linux Ubuntu 8.04.1. Bản này là bản hỗ trợ dài hạn (LTS) đến tháng 4/2011

  • Bộ phần mềm văn phòng Lotus Symphony của IBM dựa trên nền OpenOffice.

  • Bộ phần mềm cộng tác (mail, calendar, task,…) Lotus Note/Domino, Domino Web Access, iNotes của IBM. (mail của đám mây điện toán LotusLive iNotes có giá $3/user/tháng).

  • Dịch vụ cộng tác online Lotus Online Collaboration Services dùng dịch vụ đám mây điện toán LotusLive.com ($10/user/tháng)

  • Tích hợp sẵn một loạt chức năng: chia sẻ file, quản lý văn bản, chat, web conferencing, điện thoại IP, blog, wikis,…

  • Có thể chọn nhiều dạng client từ nặng đến nhẹ tùy cấu hình máy. Đây là ưu điểm của Ubuntu.

Đây là một cuộc đấu hay. Lần đầu tiên, Microsoft bị thách thức bởi một đại gia trong làng tin học tại ngay thị trường Mỹ. Bộ sản phẩm Lotus Notes/Domino của IBM cũng là sản phẩm nổi tiếng lâu đời ngang ngửa với Microsoft Exchange/Outlook, kết hợp với Ubuntu là bộ Linux đang lên như diều và phổ biến nhất hiện nay.

Điểm mạnh của giải pháp này là: kết hợp các công nghệ mới nhất (Ubuntu, nguồn mở, đám mây điện toán) với các công nghệ lâu năm, ổn định (Lotus Notes/Domino), có support từ các hãng lớn, giá rẻ, dùng được máy hiện có không phải nâng cấp phần cứng.

Riêng Lotus Symphony thì hơi nghi ngờ: giao diện mới, hiện đại nhưng phần lõi lại dựa trên những phiên bản OpenOffice cũ (xem thêm tại đây).

Thị trường Mỹ là thị trường tuân thủ nghiêm ngặt luật bản quyền. Vì vậy các tổ chức hiện đang dùng Windows XP đứng trước những lựa chọn khó khăn khi Windows 7 ra đời và Windows XP không còn được hỗ trợ nữa. Nếu tiếp tục dùng Windows, họ buộc phải nâng cấp phần mềm và cả phần cứng để chạy được phần mềm đó. Theo IBM, các nhà nghiên cứu thị trường độc lập đã ước tính để chuyển sang Windows 7, mỗi user phải mất tới 2000 USD ?!

Theo IBM, tổng chi phí sở hữu ICSW (tính cả phần máy chủ cho các phần mềm cộng tác) chỉ bằng một nửa phần mềm Microsoft và không phải nâng cấp máy. IBM có đưa ra một bảng tính chi tiết tổng chi phí sở hữu (phải đăng ký mới đọc được), sau 5 năm, số tiền tiết kiệm được lên tới hơn 2 triệu USD! (cách tính chưa tìm hiểu được).

File cài đặt (Ubuntu 8.04 + các phần mềm của IBM nói trên) có thể tải về từ đây. File này lớn tới 1,08GB nên phải burn vào đĩa DVD.

Tôi sẽ cài thử và review sau.

Đám mây điện toán Ubuntu

ĐÁM MÂY ĐIỆN TOÁN CỦA UBUNTU.

Trong một post trước, tôi trình bày quan niệm đám mây điện toán dưới góc nhìn của người sử dụng. Toàn bộ Internet như một máy tính mainframe khổng lồ, cung cấp đủ thứ dịch vụ: tin tức, phim ảnh, kho dữ liệu, nơi cho thuê máy tính để chạy ứng dụng, phần mềm kế toán, v.v. và v.v Người dùng chỉ việc mở trình duyệt, gõ địa chỉ là có được dịch vụ mình cần.

Trong một post khác, có một câu này đáng chú ý: “ đám mây điện toán là yếu tố then chốt để làm phim nhanh hơn và hiệu quả hơn, cho phép DreamWorks có được năng lực máy tính phù hợp lúc ổn định cũng như lúc cao điểm , giảm yêu cầu nhân vi xử lý (core) từ 21.000 xuống 16.000

Trường hợp này khác với trên, không liên quan gì đến Internet và là một công cụ sản xuất của doanh nghiệp, có khả năng điều chỉnh công suất tính toán theo yêu cầu. Đó là cái mà Ubuntu đang nhắm vào bắt đầu từ phiên bản 9.04. Ta thử lướt qua xem nó là cái gì.

Hiện tại, hướng phát triển công nghệ đám mây điện toán của Ubuntu gồm ba thành phần:

  1. Hệ điều hành máy chủ Ubuntu trong đám mây điện toán Amazon EC2

  2. Đám mây điện toán Ubuntu dùng cho các tổ chức (Ubuntu Enterprise Cloud)

  3. Dịch vụ UbuntuOne.

Dịch vụ UbuntuOne là một dịch vụ phần mềm (Software as a Service – SaaS), hiện tại mới chỉ là dịch vụ lưu trữ và đồng bộ file tương tự như Dropbox, được tích hợp vào Ubuntu 9.10 sắp công bố. Sau này nó được mở rộng thế nào thì chưa rõ.

Hai mục 1-2 đi theo hướng IaaS (Infrastructure as a Service – dịch vụ hạ tầng).

Amazon EC2 là một dịch vụ cho thuê máy chủ ảo trên Internet hiện đang hoạt động. Khách hàng thông qua một giao diện web, tự tạo và khởi động các máy chủ ảo có cấu hình theo yêu cầu, cài đặt các phần mềm mình cần, chạy các ứng dụng rồi tắt máy và trả tiền thuê theo giờ. Để làm được như vậy, các hệ điều hành máy chủ trong đám mây phải hỗ trợ một loạt các tính năng từ cụm máy chủ (cluster) cho đến phần mềm ảo hóa. Hệ điều hành Ubuntu Server Edition được xây dựng theo hướng đó để chạy trên các máy chủ của Amazon EC2.

Ubuntu Enterprise Cloud là một bộ phần mềm gồm nhiều thành phần để tạo nên các đám mây điện toán riêng (private cloud). Nếu như hiện nay, hạ tầng của các tổ chức gồm các phòng máy chủ (server farm) liên kết với nhau bằng các loại mạng LAN, WAN,… thì Ubuntu Enterprise Cloud vẫn giữ nguyên hạ tầng đó nhưng biến chúng thành một đám mây điện toán để nâng cao tính năng, tận dụng được năng lực tính toán như trường hợp DreamWorks đã là

Như vậy, đám mây điện toán Ubuntu là một đám mây điện toán của riêng từng tổ chức, hoạt động sau tường lửa, khác với đám mây công cộng Amazon hoạt động trên Internet (public cloud). Nhưng khi cần, nó có thể mở rộng ra sử dụng cả các đám mây công cộng tạo thành một đám mây hỗn hợp (hybrid cloud). Sơ đồ như hình sau:


Trong hình trên, đám mây điện toán gồm các máy chủ (mô tả bằng các khối vuông) liên kết với nhau bằng các loại mạng thông thường (LAN, WAN, VPN và cả Internet). Người dùng thông qua một giao diện web của phần mềm điều khiển đám mây (Cloud Controller – CLC) để sử dụng các dịch vụ do đám mây cung cấp.

Kiến trúc đám mây điện toán của Ubuntu dựa trên kiến trúc phần mềm nguồn mở Eucalyptus gồm 5 thành phần chính sau:

  1. Bộ điều khiển đám mây (Cloud Controller): người dùng dùng phần mềm này để giao tiếp với đám mây và sử dụng các dịch vụ của nó.

  2. Bộ điều khiển lưu trữ (Wallrus Storage Controller): nơi lưu ảnh các máy ảo có thể khởi tạo và lưu dữ liệu. Có vai trò tương tự như máy chủ file.

  3. Bộ điều khiển các thiết bị lưu trữ ảo ( Elastic Block Storage Controller): để tạo các partition của ổ cứng ảo, sau đó format, mount vào một thư mục nào đó để sử dụng.

  4. Bộ điều khiển các cụm máy chủ (Cluster Controller): khi người sử dụng ra lệnh khởi tạo một máy chủ ảo, lệnh được Cloud Controller chuyển cho Cluster Controller. Căn cứ trên thông tin về trạng thái đang hoạt động của các máy chủ vật lý, Cluster Controller sẽ quyết định cho tạo máy chủ ảo trên máy nào và chuyển lệnh cho bộ quản lý máy chủ đó (Node Controller). Cluster Controller cũng quản lý các liên kết mạng với máy chủ ảo.

  5. Bộ điều khiển máy chủ vật lý (Node Controller): bộ điều khiển này chạy trên từng máy chủ vật lý trong đám mây. Nó quản lý các thông tin cần thiết của máy chủ vật lý đó (dung lượng ổ cứng, kiểu và số lượng các bộ vi xử lý, bộ nhớ, các máy chủ ảo đang chạy trên đó,…). Khi có lệnh từ Cluster Controller khởi tạo máy chủ ảo, Node Controller sẽ:

  • Xác thực người sử dụng.

  • Tải file ảnh máy chủ ảo từ Wallrus Storage Controller về

  • Tạo các card mạng ảo cần thiết.

  • Khởi tạo máy ảo yêu cầu.

Tóm lại, hiện nay đám mây điện toán đã lan vào đến các phòng máy chủ. Ưu nhược điểm của nó ta sẽ bàn sau.

Để tránh mã độc Windows: giao dịch ngân hàng bằng LiveCD Linux

Avoid Windows Malware: Bank on a Live CD

krebs_lol_624.gif

(Sau một loạt bài về các vụ ăn trộm tiền trên mạng đăng trong chuyên mục Security Fix , phóng viên Brian Krebs đề xuất một giải pháp chống trộm hiệu quả và rẻ tiền. Bài đăng trên một trong những tờ báo hàng đầu thế giới: Washington Post)

Loạt phóng sự điều tra tôi viết về các tổ chức tội phạm trên mạng ăn trộm hàng triệu đô la của các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tạo ra nhiều câu hỏi của các chủ doanh nghiệp muốn biết làm thế nào để tự bảo vệ trước dạng tội phạm như thế.

Tôi biết một cách đơn giản nhất, hiệu quả nhất: đừng dùng Windows khi truy cập vào tài khoản ngân hàng trên mạng.

Tôi không đưa ra lời khuyên đó một cách dễ dàng. Tôi đã phỏng vấn hàng chục công ty nạn nhân mất từ $10,000 đến $500,000 chỉ vì bị nhiễm một phần mềm mã độc. Tôi đã nghe nhiều câu chuyện đáng tin cậy về vô số cách mà bọn tội phạm dùng để qua mặt gần như mọi hàng rào an ninh mà các ngân hàng dựng nên.

Nhưng dù cho các ngân hàng hoặc bọn tội phạm dùng cách gì, tất cả các cuộc tấn công đều có một mẫu số chung duy nhất không thể phủ nhận được: chúng thành công vì bọn tội phạm có thể cài được một phần mềm mã độc cho phép chúng dành được quyền kiểm soát các máy tính Windows

Tại sao hệ điều hành lại quan trọng như vậy? Hầu như tất cả các phần mềm ăn trộm dữ liệu hiện nay đều được viết để tấn công Windows và sẽ không thể chạy được trên một hệ điều hành không phải Windows. Các mã độc chạy trên Windows hiện tinh vi đến mức mà ngân hàng rất khó phân biệt được đâu là giao dịch của khách hàng và đâu là của hacker.

Cuộc tấn công nổi tiếng ăn trộm tiền của quận Bullit, Kentucky cho thấy bọn trộm đã dùng mã độc làm thất bại hai tuyến phòng thủ chủ yếu của ngân hàng như thế nào. Nhiều ngân hàng có chế độ “kiểm soát kép”: phải có ít nhất hai người có thẩm quyền cùng ký một lệnh chuyển tiền. Trong cuộc tấn công nói trên, bọn trộm cấy phần mềm mã độc vào máy tính của kho bạc, từ đó đăng ký được chính chúng là người có thẩm quyền cho chuyển tiền.

Ngân hàng cũng thường đăng ký các địa chỉ IP của khách hàng và có các biện pháp an ninh phụ khi khách hàng truy cập vào tài khoản nhưng không dùng địa chỉ IP đó. Trong trường hợp quận Bullit và ít nhất ba nạn nhân khác mà tôi đã phỏng vấn trong ba tháng qua, bọn hacker dùng phần mềm mã độc để chuyển hướng kết nối của chúng vào site của ngân hàng đi qua chính máy tính và địa chỉ IP của nạn nhân (do đó đối với ngân hàng, kết nối đến từ IP đã đăng ký).

Phần mềm mã độc cũng giúp bọn trộm làm thất bại hệ thống xác thực hai yếu tố, yêu cầu khách hàng ngoài username và password phải cung cấp thêm một mã xác thực phụ nữa ví dụ mã sáu ký tự do một thẻ tạo mã bỏ túi tạo ra và thay cái khác 30 giây một lần.

Trong hai tháng qua, tôi đã viết về cảnh ngộ khốn khổ của hai công ty nạn nhân mặc dù ngân hàng của họ đã yêu cầu dùng các mã an ninh phụ đó.

David Johnston, chủ công ty Sign Designs, California, mất gần $100,000 ngày 23/7 do một phần mềm mã độc Windows. Ngân hàng của Johston cũng yêu cầu khách hàng ngoài username và password phải nhập mã do thẻ an ninh Vasco tạo ra. Nhưng bọn trộm cài được mã độc vào máy tính của người quản lý và bắt được một mã an ninh khi người đó log in. Sau đó chúng làm chậm quá trình log in của người quản lý đó lại để chúng có thời gian hoạt động.

Cũng bằng cách đó, bọn trộm đã lấy được $447,000 của công ty Ferma.

Tôi không phải người duy nhất khuyên các khách hàng giao dịch ngân hàng qua mạng nên truy cập vào tài khoản từ các máy tính không Windows. Trung tâm Phân tích và Chia sẻ thông tin dịch vụ tài chính (Financial Services Information Sharing and Analysis Center, FS-ISAC), một nhóm các nhà công nghiệp được một số các ngân hàng lớn nhất thế giới hỗ trợ, vừa mới ban hành bản hướng dẫn khuyến nghị các doanh nghiệp thực hiện các giao dịch ngân hàng qua mạng “bằng một máy tính không nối mạng LAN, được bảo mật và khóa hoàn toàn sao cho các hoạt động duyệt Web và gửi email thông thường không thực hiện được”.

Đáp lại loạt bài phóng sự được công bố trên chuyên mục Security Fix của Washington Post, học viện công nghệ SANS, một tổ chức đào tạo và nghiên cứu về an ninh mạng đã treo giải cho sinh viên viết báo cáo về các phương pháp hiệu quả nhất để các doanh nghiệp vừa và nhỏ phòng chống tội phạm trên mạng. Kết quả? Có rất nhiều cách, nhưng cách rẻ nhất và hiển nhiên nhất là dùng một đĩa CD chỉ đọc (read-only), boot được có một hệ điều hành như Knoppix hoặc Ubuntu. Báo cáo của SANS có thể xem ở đây.

Được gọi là “Live CD”, những hệ điều hành này có thể tải miễn phí từ mạng và ghi vào đĩa CDROM. Cái hay của những đĩa này là nó có thể biến một máy tính Windows tạm thời thành máy Linux mà không phải cài bất kỳ cái gì vào ổ cứng. Các chương trình từ Live CD được tải vào bộ nhớ RAM của máy và mọi dữ liệu như lịch sử các trang web đã duyệt hoặc các hoạt động khác sẽ bị xóa hoàn toàn khi tắt máy. Để quay lại Windows chỉ cần khởi động lại và lấy đĩa CD ra khỏi ổ.

Điểm quan trọng hơn là những phần mềm mã độc dùng ăn trộm dữ liệu trong Windows không thể tải hoặc hoạt động được trong Linux. Ngay cả nếu máy Windows đã nhiễm mã độc trong ổ cứng, khi boot máy bằng Live CD, các mã độc đó không hoạt động được.

Arc of Steuben, một tổ chức phi lợi nhuận chăm sóc những người khuyết tật đã theo đúng lời khuyên trên. Tháng 9/2009 tôi có viết bài về bọn trộm đã dùng mã độc để ăn trộm gần $200,000 của họ như thế nào. Kể từ đó, họ đã giới hạn chỉ cho phép dùng các máy Linux trong mạng của họ để giao dịch ngân hàng theo một báo cáo tại đây cho biết.

Tất nhiên một máy tính Mac cũng có thể tránh được mã độc Windows. Nhưng dùng Live CD Linux là cách rẻ nhất. Nếu bạn muốn làm quen xin xem hướng dẫn tại đây.

Cảnh sát bang New South Wales: đừng dùng Windows để giao dịch ngân hàng trên Internet

NSW Police: Don’t use Windows for internet banking

By Munir Kotadia
Oct 8, 2009 5:31 PM

Các khách hàng muốn an toàn khi kết nối với các dịch vụ ngân hàng internet thì nên dùng Linux hoặc Apple iPhone, một thanh tra cảnh sát bang New South Wales, Australia khuyên như vậy khi phát biểu thay mặt chính quyền bang trong một buổi điều trần trước quốc hội về tội phạm Internet.

Thanh tra Bruce van der Graaf thuộc đơn vị điều tra tội phạm máy tính nói rằng ông có hai quy tắc để bảo vệ chính ông khỏi bọn tội phạm Internet khi giao dịch ngân hàng qua mạng (banking online).

Quy tắc 1 là không bao giờ kích chuột vào một đường link trên site ngân hàng (nếu site đó là site giả mạo – phishing – đường link trên đó sẽ là một cái bẫy của bọn tội phạm) và quy tắc 2 là không dùng Microsoft Windows (để giao dịch ngân hàng trên mạng).

(Xem thêm: Giám đốc FBI suýt bị sập bẫy tin tặc)

“Nếu bạn muốn dùng Internet để mua bán, hãy khởi động từ một đĩa Linux, Ubuntu hay gì đó tùy bạn. Puppy Linux cũng là một bản Linux nhỏ , khởi động rất nhanh. Bạn sẽ có một hệ điều hành hoàn toàn sạch, chỉ làm việc trong bộ nhớ máy tính và rất an toàn khi giao dịch ngân hàng qua mạng” van der Graaf khuyên.

Sau đó, van der Graaf giải thích cho các dân biểu khởi động máy tính nghĩa là thế nào và nói rằng phương pháp mà ông đề nghị đảm bảo “100 phần trăm là sạch”. Ông nói khởi động sạch như vậy sẽ tránh được mọi mã độc đã nhiễm vào máy “Nếu quý vị có một ổ cứng bị nhiễm mã độc … thì sẽ không sao”

Van der Graaf cũng nhắc đến iPhone mà ông nói là “hoàn toàn an toàn” khi giao dịch ngân hàng qua mạng. “Một phương pháp nữa là dùng điện thoại iPhone của Apple. Nó chỉ chạy được một lệnh một lần do đó không sợ nhiễm mã độc” (ở đây chắc có ý muốn nói iPhone là hệ single-tasking, mà các mã độc thì phải hoạt động trong môi trường multi-tasking).

Van der Graaf nói ông nêu hai phương án thay thế Windows nói trên vì ông lo rằng các đạo luật trong tương lai buộc các nhà cung cấp dịch vụ Internet hoặc các ngân hàng phải kiểm tra máy của khách hàng đã được bảo vệ thì mới cho kết nối vào hệ thống.

“Nếu quý vị đặt ra luật buộc các ISP phải kiểm tra máy khách hàng phải có tường lửa hay một cái gì đó tương tự, thì những người dùng các phương pháp nêu trên không giao dịch được (vì không có tường lửa, nhưng lại rất an toàn. Tóm lại là đừng chỉ dựa vào Windows mà làm luật!)”

(Washingtonpost vừa có một bài hướng dẫn dùng LiveCD Ubuntu để E-Banking)

zxc232

Sàn chứng khoán London bỏ phần mềm Microsoft chuyển sang dùng Linux.

Sàn chứng khoán London bỏ phần mềm Microsoft chuyển sang dùng Linux.

Zxc232 tổng hợp từ Internet.

Nguồn:

  1. http://blogs.computerworld.com/london_stock_exchange_suffers_net_crash
  2. http://computerworld.co.nz/news.nsf/news/59A7846C896BEA95CC2575E5007D8F33
  3. http://blogs.computerworld.com/london_stock_exchange_to_abandon_failed_windows_platform
  4. http://www.ibspublishing.com/index.cfm?section=news&action=view&id=13440
  5. http://www.computerworlduk.com/community/blogs/index.cfm?entryid=2568

Ngày thứ hai 8/9/2008 đáng lẽ sẽ là một ngày đầy sôi động của sàn chứng khoán London (London Stock Exchange – LSE). Ngày chủ nhật trước đó, chính phủ Mỹ vừa tuyên bố sẽ cứu hai công ty bất động sản Freddie Mac và Fannie Mae khỏi phá sản. Tuy nhiên đúng 9h15 giờ GMT, phần mềm giao dịch chứng khoán ngừng hoạt động và phải gần 7 tiếng sau (đến 4 giờ chiều) mới khôi phục lại được. Các nhà đầu tư lỡ một cơ hội vàng lịch sử.

Tuy thông tin chính thức của sàn phủ nhận đó là lỗi phần mềm và cũng không chịu nói rõ nguyên nhân, nhưng các diễn biến sau đó chứng minh điều ngược lại.

Ngay sau sự cố, tổng giám đốc của sản Clara Furse phải ra đi. Tổng giám đốc mới Xavier Rolet lập tức quyết định chấm dứt hệ thống phần mềm TradElect đang sử dụng để chuyển sang hệ thống mới.

TradElect là phần mềm chứng khoán do Microsoft và công ty tư vấn Accenture cùng xây dựng bằng C# và .NET chạy trên 100 máy chủ HP Proliant, hệ điều hành Windows Server 2003, cơ sở dữ liệu Microsoft SQL Server 2000. Mục tiêu của phần mềm là phải có được thời gian đáp ứng dưới 10 miligiây cho các giao dịch. (Xem thêm ở đây để thấy vai trò của thời gian đáp ứng đối với phần mềm chứng khoán). Hệ thống này vừa được Clara Furse nâng cấp, trị giá 65 triệu USD.

Thay cho trước đây 95% công việc phần mềm là oursourcing ra bên ngoài, LSE quyết định mua nguyên một công ty phần mềm Sri Lanka MilleniumIT với giá 30 triệu USD gồm một trung tâm phát triển phần mềm gần Colombo (thủ đô SriLanka) với 300 chuyên gia lập trình và phần mềm chứng khoán của công ty được xem là có năng suất cao, linh hoạt, mạnh và chi phí thấp hơn nhiều so với TradElect. LSE dự kiến tiết kiệm được hàng năm ít nhất là 14,7 triệu USD. Giám đốc thông tin và công nghệ của LSE, David Lester, cho biết: “ Phần mềm mới nhẹ hơn, nhanh hơn và dễ cài đặt hơn, thời gian ra một phiên bản mới cũng ngắn hơn”

Để chuyển đổi công nghệ, LSE đã tiến hành một quá trình chọn lọc trong 4 tháng, “20 phương án phần mềm khác nhau đã được xem xét và đưa ra một shortlist 4 công ty. Các thử nghiệm tổng thể được tiến hành và cuối cùng chỉ ra MilleniumIT là phương án tối ưu cho LSE” Lester cho biết.

Phần mềm của MilleniumIT chạy trên nền Linux và Solaris. Lester nói rằng việc bỏ TradElect không phải vì công nghệ dotNET (mặc dù tốc độ giao dịch của TradElect chỉ đạt 2,7 miligiây trong khi phần mềm của sàn cạnh tranh Chi-X chạy trên Linux đạt 0,4 miligiây) mà vì MilleniumIT “điều khiển được nhiều hơn, rẻ hơn và cho phép xây dựng và đổi mới được”.

Cùng với LSE, chi nhánh của nó là sàn Borsa Italiana cũng sẽ chuyển sang Linux. Như vậy công nghệ dotNet của Microsoft hiện chỉ còn được dùng ở sàn chứng khoán Johannesburg.

Một sàn chứng khoán Nauy, Oslo Bors, đang định dùng TradElect vào tháng 2/2010 giờ cũng sẽ chuyển sang MilleniumIT.

Microsoft không bình luận gì về các sự kiện nói trên, chỉ nói rằng hãng đang hoàn thiện các công nghệ mới cho phần mềm chứng khoán để chứng minh rằng Windows Server 2008 và Microsoft dotNet có thể hỗ trợ thành công các giao dịch chứng khoán với độ trễ rất thấp cỡ 100 microgiây. Nếu bổ xung thêm Microsoft Network Direct thì độ trễ còn có thể giảm xuống 50% nữa.

Ngoài sàn Chi-X đã nói ở trên, Linux hiện cũng đang được dùng ở các sàn CME (Chicago Mercantile Exchange), sàn chứng khoán New York NYSE (New York Stock Exchange), …

(Các tin khác về việc dùng Linux trong các ngân hàng và sàn chứng khoán có thể xem rải rác trong blog này. Nhìn chung, hiệu quả của Linux trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng và các lĩnh vực cần đến tốc độ tính toán nhanh có vẻ đã được khẳng định.

Điều đáng ngạc nhiên là một công ty phần mềm nhỏ của SriLanka, một đất nước nhỏ bé và lạc hậu, mới đây còn đầy mùi khói súng lại có thể làm nên được một sản phẩm cao cấp đến như vậy. Trông người lại nghĩ đến ta. Buồn 5 phút!)

zxc232

Linux đã cứu hệ thống điện Australia

Linux saves Aussie electrical grid

By Nick Farrell

Thursday, 1 October 2009, 09:52

(Đây là một vấn đề nghiêm trọng. Không biết các hệ thống điều khiển của Việt nam nghĩ sao về chuyện này)

Những người yêu phần mềm nguồn mở đã có phản ứng nhanh cứu được hệ thống phân phối điện Australia sau khi mạng máy tính của phòng điều khiển trung tâm bị nhiễm virus.

Một con virus Windows W32.Virus.CF đã nhiễm vào mạng của hệ thống Năng lượng tích hợp (Integral Energy) và lan ra các máy tính trong phòng điều khiển.

Những kỹ thuật viên của phòng đã thay các máy Windows bị nhiễm virus bằng các máy Linux đang dùng để viết phần mềm. Nhờ thế, virus đã không lan được sang các máy điều khiển còn lại.

Đã có nhiều các cuộc điều tra của các chính phủ trên toàn cầu về an ninh của các công ty điện lực vì sợ rằng các hacker, các tên khủng bố hoặc các chiến binh mạng của các nước thù địch có thể chiếm quyền kiểm soát mạng lưới điện quốc gia. Nay điều lo lắng đó có vẻ đã thành sự thật.

Theo báo Sydney Morning Herald, nhiều máy Windows khác trong hệ thống Năng lượng tích hợp cũng bị nhiễm virus và hơn 1000 máy phải cài đặt lại.

Hệ thống được bảo vệ bởi phần mềm của Symantec và virus W32.Virus.CF đã được đăng ký trong cơ sở dữ liệu của hãng từ tháng hai. Website của Symantec mô tả con virus này là đặc biệt độc hại (particularly sinister), lây nhiễm nhanh và khó tiêu diệt. Nó thiết lập một cổng hậu (back door) trên máy bị nhiễm, cho phép hacker phát lệnh điều khiển máy qua kênh Internet Relay Chat (IRC). (và như vậy, hacker có thể điều khiển được hệ thống truyền tải và phân phối điện).

Chris Gatford, một chuyên gia an ninh mạng của Hacklabs cho rằng sự cố trên xảy ra có thể do một số máy đã không được cập nhật virus hoặc phần mềm của Symantec đã không phát hiện ra do kỹ thuật che dấu của virus.

zxc232

Cơ sở dữ liệu nguồn mở trong thực tế.

EnterpriseDB says open source database saves big bucks

zxc232 lược dịch

(Tôi giới thiệu bài này để thấy trong thực tế cơ sở dữ liệu nguồn mở đã và đang được ứng dụng trong kinh doanh. Các thông tin về tính năng trong bài là lời quảng cáo của hãng bán sản phẩm, bạn đọc tự đánh giá – ND)

Nhờ chuyển từ cơ sở dữ liệu nguồn đóng sang cơ sở dữ liệu nguồn mở, các công ty bán hoa online FTD và công ty Sony Online Entertainment đã tiết kiệm được một số tiền lớn mà vẫn đáp ứng được nhu cầu kinh doanh.

Trong hội nghị Red Hat Summit, Tổng giám đốc của công ty cơ sở dữ liệu nguồn mở EnterpriseDB, Ed Boyajian, đã nhắc đến hai công ty nói trên như ví dụ chuyển đổi thành công từ phần mềm cơ sở dữ liệu Oracle sang phần mềm cơ sở dữ liệu Postgres của EnterpriseDB (các khách hàng khác xem ở đây). Postgres dựa trên PostgreSQL, một trong hai phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn mở nổi tiếng nhất hiện nay. EnterpriseDB đã giúp hai khách hàng trên xây dựng hạ tấng IT với chi phí rất thấp.

Boyajian cho rằng “Cơ sở dữ liệu là lĩnh vực chuyển sang phần mềm nguồn mở rất hấp dẫn và có thể là công nghệ nguồn mở đột phá nhất trong 5 năm tới. Công nghệ Thông tin đang đối mặt với thách thức: nhu cầu xử lý càng ngày càng tăng nhưng ngân sách dành cho IT lại không tăng hoặc giảm. Đó là một vấn đề kinh tế cơ bản nhưng cũng là một động lực lớn cho việc đổi mới trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Ngược lại, cơ sở dữ liệu Oracle đang là một “con bò vắt tiền” của khách hàng, trói chặt khách hàng vì không thể tách các phần mềm ứng dụng khỏi cơ sở dữ liệu.”

Cơ hội của cơ sở dữ liệu nguồn mở.

Vẫn theo Boyajian, mặc dù MySQL vẫn là cơ sở dữ liệu nguồn mở phổ biến nhất, Postgres của EnterpriseDB mạnh hơn và nhanh hơn. Ví dụ hãng FTD đã dùng Postgres Plus để tạo một cơ sở dữ liệu riêng, tách khỏi Oracle và tiết kiệm được hàng trăm nghìn đôla, tốc độ tăng 400%, thời gian chuyển đổi mất sáu tuần.

Sony Online Entertainment, một khách hàng cũ của Oracle, đã tung ra trò chơi Free Realms chạy trên cơ sở dữ liệu Postgres Plus. Sau khi đã tiết kiệm được 80% chi phí cơ sở dữ liệu cho trò chơi mới, hãng quyết định từ nay sẽ dùng Postgres Plus cho các trò chơi trong tương lai.

Ngoài ra, một hãng viễn thông hàng đầu đang chuyển vài trăm hệ phần mềm từ Oracle sang Postgres, bắt đầu từ hệ quản lý nhân sự và bán hàng, tiếp theo là thanh toán và quản lý thiết bị trong hai ba năm tới. Hãng dự kiến sẽ tiết kiệm được 90 triệu đôla.

Các ví dụ nói trên đã gây ấn tượng cho Craig Bogovich, nhà kiến trúc hệ thống của công ty Pilgrim Health Care. Bogovich cho biết công ty bảo hiểm y tế của ông “đang tích cực tìm kiếm các giải pháp phần mềm nguồn mở để tiết kiệm chi phí” và có lẽ sẽ xem xét EnterpriseDB. “Chúng tôi đang rất hài lòng với hệ điều hành Linux Red Hat chạy trên các máy chủ thương mại và đã tích cực từ bỏ các máy chủ HP_UX với bộ xử lý RISC từ năm 2004. Thách thức lớn nhất của chúng tôi là chọn các ứng dụng của bên thứ ba. Chúng tôi yêu cầu dứt khoát là các ứng dụng đó phải được xác nhận là chạy tốt trên cơ sở dữ liệu được chọn. “

Boyajian nêu ra các con số để chứng minh số tiền tiết kiệm thực tế khi dùng PostgreSQL so với các phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn đóng. Bản PostgreSQL Enterprise miễn phí, trong khi phần mềm cơ sở dữ liệu DB2 của IBM chi phí ban đầu là 582.400 USD cho giấy phép sử dụng 3 năm trên 8 máy chủ, còn cơ sở dữ liệu Oracle thì mất 760.000 USD. Chi phí bảo trì hàng năm của 8 máy chủ đó là 215.760 USD đối với EnterpriseDB, 349.440 USD đối với IBM và 501.600 đối với Oracle.

(Các hệ thống lớn trước đây thường dùng các máy chủ đặc chủng đắt tiền chạy hệ điều hành Unix. Các hệ điều hành Linux có thể chạy trên các máy chủ thương mại phổ thông – commodity server – với chi phí rẻ hơn nhiều mà vẫn đáp ứng được yêu cầu. Một hãng bảo hiểm y tế mà dùng tới máy chủ hàng khủng như HP_UX, 128 processor cores là một điều mới mẻ ở Việt nam, chứng tỏ nhu cầu IT thực sự phải như thế nào – ND)

“Mỗi công ty công nghệ lớn đều có những cái riêng làm cho khó mà tách ra khỏi họ” Boyajian nói ” Cái riêng của phần mềm nguồn mở là cho bạn sự tự do, trao lại quyền kiểm soát cho khách hàng”

Lấp khoảng cách về tính năng
Nhưng sự tự do cũng đi kèm với những thỏa hiệp về tính năng mà các cơ sở dữ liệu nguồn mở còn chưa vượt qua được. Craig Mullins, phó chủ tịch chiến lược dữ liệu của Neon Enterprise Software nói rằng các công ty cơ sở dữ liệu nguồn mở như EnterpriseDB đã lấp được các khoảng cách về các chức năng của cơ sở dữ liệu (database functionality) so với các phần mềm nguồn đóng nhưng còn thua về các công cụ quản trị, thay đổi cơ sở dữ liệu, công cụ sao lưu và khôi phục, những công cụ mà các hãng lớn phải mất nhiều năm mới xây dựng được.

EnterpriseDB đã làm được một việc rất hay là làm cho PostgreSQL có thể chạy các ứng dụng Oracle, do đó đơn giản hóa được quá trình phát triển và bảo trì phần mềm ứng dụng, nhưng việc thiếu các công cụ có thểlàm cơ sở dữ liệu và ứng dụng khó đáp ứng các yêu cầu về tính năng trong các hợp đồng dịch vụ, Mullins cho biết.

Boyajian cho rằng việc phát triển phần mềm nguồn mở PostgreSQL đã hơn 20 năm trong trường đại học Berkeley, có đội ngũ các nhà phát triển tích cực nên bảo đảm chất lượng tốt hơn là các phần mềm nguồn đóng . Do bản chất phát triển cộng đồng, Postgres hiện thiếu sự thúc đẩy thương mại  mà EnterpriseDB đang cố gắng làm điều đó. EnterpriseDB là một liên doanh giữa IBM và Sony mới thành lập được 5 năm, có được hàng trăm khách hàng và doanh số tăng gấp đôi hàng năm nhưng vẫn chưa có lãi.

Hãng phim DreamWorks dùng đám mây điện toán của Red Hat để giảm chi phí làm phim.

DreamWorks uses Red Hat cloud to cut filmmaking costs

spacer.gif By Pam Derringer, News Contributor
10 Sep 2009 | SearchEnterpriseLinux.com spacer.gif

zxc232 lược dịch

(Làm phim hoạt hình tốn công suất máy tính dễ sợ. Xem thêm về Hollywood dùng Linux tại đây)

Công ty phần mềm nguồn mở Red Hat đang thảo luận với hãng phim DreamWorks về việc dùng đám mây điện toán chạy trên Red Hat Linux để sản xuất bộ phim hoạt hình nổi, ba chiều đầu tiên trên thế giới trong năm nay.

Đám mây điện toán của Red Hat cùng với các phần mềm dựng phim mới nhất sẽ giúp dựng bộ phim hoạt hình “Cuộc chiến giữa các con quỷ và người ngoài hành tinh” có những cảnh hoàng tráng như cảnh sụp đổ của cầu treo Cổng Vàng tại San Francisco.

Các hiệu ứng đặc biệt sẽ làm cho dự án phim này tốn đến 40 triệu giờ công, chi phí gấp 8 lần bộ phim Shrek nổi tiếng và hoàn thành trong 2 năm.

Linh hoạt hơn.

Điện toán đám mây là yếu tố then chốt để làm phim nhanh hơn và hiệu quả hơn, cho phép DreamWorks có được năng lực máy tính phù hợp lúc ổn định cũng như lúc cao điểm, giảm yêu cầu nhân vi xử lý (core) từ 21.000 xuống 16.000. Điện toán đám mây cung cấp dịch vụ linh hoạt hơn các dàn máy chủ, cho phép chia nhỏ các đoạn phim gửi đồng thời cho 40 nhân xử lý, tự động hóa được một số công việc trước đây phải làm thủ công, giảm thời gian quay vòng từ 4 giờ xuống còn vài phút.

Ứng dụng ảo hóa trong đám mây điện toán cũng cho phép DreamWorks xử lý tách biệt các công việc, đo lường được mức độ sử dụng tài nguyên tính toán và kiểm tra được trạng thái từng việc, do đó giảm thời gian dựng phim.

Cơ sở máy tính của DreamWorks là một mạng lưới máy chủ xây dựng đã 10 năm gồm hơn 20.000 nhân vi xử lý phân bổ trong 4 trung tâm dữ liệu nối với nhau bằng hơn 20.000 km cáp đôi gigabit (trừ trung tâm đặt tại Bangalor, Ấn độ). Mặc dù vậy, DreamWorks luôn phải đối mặt với những “thách thức khó chịu” về thiếu băng thông và mật độ I/O cao khi chuyển dữ liệu vào ra mạng lưới điện toán của họ.

Red Hat đã giải quyết được các khó khăn đó bằng việc ảo hóa nhân hệ điều hành, quản lý ảo hóa, phối hợp các ứng dụng và tạo các lớp đám mây trừu tượng (kernel virtualization, virtualization management, the application orchestration and cloud abstraction layers).

Mô hình nguồn mở trong một số lĩnh vực ngoài phần mềm.

Gần đây có một số bài báo về hai sản phẩm mới: Thiết kế xe ôtô cho tương laiHệ điều hành nguồn mở cho máy ảnh. Nhưng ý tưởng chính đằng sau các sản phẩm đó chưa được rõ ràng.

Phong trào Phần mềm nguồn mở không chỉ liên quan đến phần mềm máy tính. Nó tạo nên một mô hình (hoặc triết lý, tư tưởng, nguyên tắc, phương pháp luận, …) nguồn mở chi phối ở các mức độ khác nhau toàn bộ quá trình thiết kế, xây dựng, phân phối một sản phẩm. Về đại thể, một sản phẩm nguồn mở là do một cộng đồng tự nguyện tham gia đóng góp xây dựng (một phần hay toàn bộ) và cho phép người khác tự do sử dụng phần đóng góp của mình.

Hiện tại, những sản phẩm nguồn mở thường là sản phẩm chất xám (phần mềm, thông tin, ….) hoặc là phần chất xám trong sản phẩm đó (ý tưởng, thiết kế, phần mềm điều khiển, …).

Sản phẩm nguồn mở có thể là (một số ví dụ và còn nữa):

  • Truyền thông nguồn mở: điển hình là phong trào viết blog hiện nay. Ngoài ra còn có các diễn đàn (forum), các bảng tin (messageboard). Tất cả thông tin của blog, diễn đàn, bảng tin đều do cộng đồng tự nguyện đóng góp và chia sẻ cho mọi người cùng sử dụng.
  • Tình báo nguồn mở (Open source intelligence): phương pháp tìm kiếm, chọn lọc, phân tích các nguồn tin công khai để tạo nên các nguồn tin tình báo có giá trị. Đây là một ngành tình báo quan trọng, có tổ chức chặt chẽ (xem thêm).
  • Chính trị nguồn mở (Open Politics): phương pháp tiến hành các hoạt động chính trị sử dụng các phương tiện Internet như blog, email, poll (thăm dò ý kiến) để tăng cường giao lưu giữa các tổ chức chính trị và đội ngũ quần chúng ủng hộ. Tổng thống Mỹ Obama đã sử dụng xuất sắc phương pháp này trong kỳ bầu cử vừa qua. Một biến thể khác là dùng các phương tiện trên để quần chúng tham gia rộng rãi vào quá trình xây dựng một chính sách.
  • Giáo dục nguồn mở: bộ giáo trình mở (OpenCourseWare) đồ sộ của học viện công nghệ Massachusetts đưa công khai, miễn phí lên mạng Internet và từ điển bách khoa Wikipedia là các ví dụ.
  • Văn hóa nguồn mở: ví dụ điển hình nhất là các bản dịch truyện của cộng đồng mạng Việt nam gần đây (Harry Porter, Tru tiên, ….) hoặc các website thư viện do cộng đồng người đọc bỏ công gõ truyện đóng góp (Vietnam Thư quán, Nhạn môn quan, …).
  • Sản phẩm nguồn mở: trong một post trước đã giới thiệu notebook nguồn mở: thiết kế của laptop OpenBook được công khai để mọi người tham gia góp ý, sửa và sử dụng. Hãng chế tạo điện thoại smartphone Openmoko còn nguồn mở hóa cả thiết kế phần cứng lẫn phần mềm điện thoại của hãng. Và cả hai sản phẩm oto, máy ảnh đã nêu ở phần đầu bài này.
  • Y học nguồn mở: xem ví dụ
  • Còn nữa … (hỏi cụ Gúc).

Dự án xe ôtô tương lai:

Dự án C,mm,n (phát âm là ‘common’) là một dự án nguồn mở xây dựng một giải pháp tổng thể về phương tiện di chuyển cá nhân bền vững (sustainable personal mobility) cho tương lai. Về cơ bản nó là một kiểu xe chạy điện nhưng không phải chỉ có thiết kế xe mà cả hệ thống trạm nạp, điều khiển, tín hiệu, …Ai cũng có thể tham gia dự án này, đóng góp các ý tưởng, phương án, thiết kế; sửa đổi, bổ xung những kết quả đã có hoặc tối thiểu là nhận xét, góp ý và sử dụng miễn phí các kết quả của dự án đúng như một dự án phần mềm nguồn mở. Các công trình đóng góp vào dự án cũng được cấp phép sử dụng theo một giấy phép nguồn mở.

Hiện dự án đã đạt tới phiên bản C,mm,n car 2.0. Nội dung cụ thể xem tại đây.

Máy ảnh Frankencamera

Máy ảnh Frankencamera là một trong hai dự án con của dự án Camera, một dự án chung của trường đại học Stanford và các công ty Nokia, Adobe Systems, Kodak, Hewlett-Packard, Walt Disney.

Dự án Camera là một dự án về công nghệ chụp ảnh bằng máy tính (computational photography), tức là chụp ảnh, quay video bằng máy ảnh có máy tính bên trong (có thể tạm gọi là máy tính chụp ảnh). Công nghệ ảnh máy tính dùng các phần mềm bên trong máy ảnh điều khiển quá trình chụp, nhằm tăng cường và mở rộng khả năng của công nghệ ảnh số hóa (digital photography). Máy ảnh loại computational photography chụp ra được những bức ảnh mà máy ảnh số bình thường (digital camera) không thể chụp được.

frankencamera 2 0 2 sshbal

Phần cứng của máy ảnh Frankencamera lắp tạp nham từ linh kiện của nhiều loại máy ảnh khác nhau: bo mạch chính của Texas Instruments có các bộ xử lý chung và xử lý ảnh, một màn hình LCD nhỏ, chạy hệ điều hành Linux; chip chụp ảnh lấy của điện thoại Nokia N95, ống kính thì của Canon,… tất cả đều có thể điều khiển bằng phần mềm được.

Mục tiêu của dự án là xây dựng một nền tảng phần mềm (platform) nguồn mở cho việc chụp ảnh và quay video. Vì là nguồn mở nên ai cũng có thể lập trình các tính năng mình thích dưới dạng phần mềm bổ xung (add-ons), tải vào máy cho chạy để chụp ra những bức ảnh mong muốn. Người dùng bình thường cũng có thể kết nối máy ảnh kiểu này vào Internet, chọn phần mềm bổ xung cần thiết tải về máy rồi chụp.

Những ai đã dùng trình duyệt nguồn mở Firefox đều rất quen thuộc với kho tính năng bổ xung add-ons và extensions kiểu này. Có điều đây là máy ảnh.

Nếu không dùng Photoshop, sẽ phải bố trí sân khấu, dàn đèn, máy ảnh, … rất đắt tiền và công phu để đạt được những hiệu ứng tương tự. Tương tự, máy tính chụp ảnh hứa hẹn sẽ tạo nên một cuộc cách mạng trong nghệ thuật nhiếp ảnh vì:

  • Chỉ dùng những máy ảnh rẻ tiền chụp được các bức ảnh cao cấp, thậm chí có những tính năng mà máy ảnh thường không thể đạt được.
  • Cho phép người chụp tự trang bị tính năng cần thiết cho máy ảnh bằng các phần mềm tải về từ Internet.

Và cuộc cách mạng đó là dựa trên mô hình nguồn mở!

Microsoft ủng hộ phong trào phần mềm nguồn mở bằng ….tiền!

Năm 2001, trả lời phỏng vấn báo Chicago Sun-Times, Tổng giám đốc Steve Balmer của Microsoft còn gọi Linux là một căn bệnh ung thư. Từ đó đến nay, đã có những bước thay đổi lớn như đã nêu trong bài Microsoft đang chuyển sang phần mềm nguồn mở!!! và bài Microsoft mở cửa cho cộng đồng nguồn mở.

Trong các bài viết đó, tôi đã nhận xét :
“Nếu nhìn lại lịch sử thì Microsoft luôn là người đi sau. Họ không phải là người viết ra DOS, giao diện đô họa kiểu Windows là sáng kiến của Apple, phần mềm soạn văn bản WordPerfect và bảng tính Lotus 1-2-3 ra đời trước Word, Excel, trình duyệt web đầu tiên là Netscape, hệ điều hành mạng Novell Netware có trước WinNT, v.v…. Nhưng Microsoft lại có khả năng bắt chước và kiếm tiền cực giỏi trên những cái mà những người khai sáng thất bại về mặt kinh doanh.”

Như vậy, với khả năng kinh doanh siêu đẳng, Microsoft chấp nhận Linux ở những nơi không cưỡng lại được (thị trường máy chủ) và đang đi bán Linux Server; tận dụng phong trào nguồn mở: cung cấp tài liệu để cải tiến phần mềm nguồn mở và hỗ trợ cộng đồng nguồn mở để …. sử dụng công nghệ Microsoft và chạy được trên Windows. Tóm lại, mèo trắng, mèo đen gì cũng được miễn là bắt được chuột trong ngôi nhà ở Redmond.

Trong một báo cáo gần đây gửi Ủy ban Chứng khoán châu Âu, Microsoft đã chính thức liệt kê Red Hat và Ubuntu như các đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực máy tính để bàn.

Ngày 10/9/2009, Microsoft tuyên bố thành lập quỹ CodePlex (CodePlex Foundationcodeplex.org). với các thông tin ban đầu như sau:

Quỹ CodePlex là một quỹ phi lợi nhuận thành lập với nhiệm vụ hỗ trợ việc trao đổi mã nguồn và sự hiểu biết lẫn nhau giữa các công ty phần mềm và cộng đồng phần mềm nguồn mở (The CodePlex Foundation, a non-profit foundation formed with the mission of enabling the exchange of code and understanding among software companies and open source communities).

Quỹ CodePlex được tạo nên như một diễn đàn trong đó cộng đồng nguồn mở và cộng đồng các nhà lập trình (nguồn đóng) có thể đi cùng với nhau nhằm mục tiêu chung tăng cường sự tham gia vào các dự án nguồn mở. Quỹ CodePlex sẽ bổ xung vào hàng ngũ các quỹ và tổ chức phần mềm nguồn mở hiện có (ví dụ Mozilla Foundation, Gnome Foundation – zxc232) tạo nên một diễn đàn trong đó một nhóm rộng rãi các thành viên gồm các công ty phần mềm và cộng đồng nguồn mở có thể thiết lập các thực tiễn tốt nhất và các hiểu biết được chia sẻ. Phần vốn ban đầu của quỹ sẽ do công ty Microsoft tài trợ. (the CodePlex Foundation was created as a forum in which open source communities and the software development community can come together with the shared goal of increasing participation in open source community projects. The CodePlex Foundation will complement existing open source foundations and organizations, providing a forum in which best practices and shared understanding can be established by a broad group of participants, both software companies and open source communities. Initial funding for the Foundation comes from Microsoft Corporation.)

Thông báo trên cũng khằng định Microsoft không phải nhà tài trợ độc quyền cho quỹ. Mọi cá nhân, tổ chức khác có thể tham gia quỹ này dưới các hình thức: nhà tài trợ (sponsors), đóng góp dự án, tham gia hội đồng cố vấn. Trong những tháng tiếp theo, sẽ hoàn thiện cơ cấu tổ chức và xem xét các dự án phần mềm nguồn mở được tài trợ.

Cũng cần phân biệt quỹ CodePlex (codeplex.org) và site CodePlex.com. CodePlex.com (cũng của Microsoft) hình thành năm 2006 là site lưu trữ các dự án nguồn mở (tương tự như SourceForge.net) và hiện đã có hơn 10.000 dự án (tất nhiên là đều chạy trên nền Windows).

Một điểm khác biệt nữa giữa quỹ CodePlex và các quỹ nguồn mở hiện có như Mozilla Foundation, Gnome Foudation, … là các quỹ nguồn mở tập trung vào một sản phẩm cụ thể, một lĩnh vực hẹp. CodePlex có tham vọng bao trùm một phạm vi dự án rộng hơn, không cạnh tranh với các quỹ hiện có và luôn lưu ý đến các giấy phép sử dụng và nhu cầu bảo vệ tài sản tri thức của các công ty phần mềm thương mại (with the licensing and intellectual property needs of commercial software companies in mind).

Có thể hình dung quá trình hoạt động tiếp theo của quỹ như sau: dù có ai tham gia thêm đi nữa, Microsoft với tiềm lực tài chính khổng lồ vẫn sẽ là nhà tài trợ hàng đầu và nắm quyền chi phối quỹ. Vì vậy các dự án nguồn mở được quỹ tài trợ sẽ là các dự án chạy trên nền Windows hoặc bổ xung tính năng cho các sản phẩm Windows. Để làm được như vậy, nếu cần thiết, Microsoft sẽ nguồn mở hóa một số tài liệu kỹ thuật cần thiết như gần đây họ đã làm với dự án Samba.

Như vậy về bản chất, CodePlex là một công cụ kinh doanh mới của Microsoft khai thác mô hình phát triển phần mềm nguồn mở. Bỏ ra một số tiền nhỏ để tài trợ cho các dự án, huy động được một đội ngũ lập trình lớn để phát triển các phần mềm cho Windows với chi phí chắc chắn là thấp hơn thuê lập trình viên chính thức trong biên chế và đông đảo hơn số lượng lập trình viên chính thức hiện có. Các dự án phần mềm nguồn mở của quỹ này sẽ góp phần củng cố nền tảng Windows mạnh hơn.

Nếu khôn ngoan hơn thì đại đa số dự án chạy trên Windows hoặc dùng công nghệ của Microsoft. Nhưng cũng có một vài dự án cross-platform hoặc thậm chí chạy trên Linux!

Quỹ này không vô tư như các quỹ phần mềm nguồn mở và là một bằng chứng cho khả năng kinh doanh siêu việt của Microsoft như đã nói ở trên. Nhận thấy mô hình phát triển phần mềm nguồn mở có lợi là sử dụng luôn!

Ta hãy chờ xem những dự báo trên có đúng không?

Phần mềm chứng khoán nhanh nhất thế giới chạy trên Linux

Phần mềm chứng khoán nhanh nhất thế giới chạy trên Linux

Steven J. Vaughan-Nichols

zxc232 lược dịch

(Các thị trường chứng khoán lớn nhất thế giới đã và đang chuyển sang nền Linux như đã giới thiệu trong một số post trước đây (ví dụ). Một trong những lý do là tốc độ: tính bằng miligiây! Bài báo này giới thiệu một phần mềm chứng khoán nhanh nhất hiện nay chạy trên Red Hat Enterprise Linux. Những link trong bài có nhiều thông tin nếu muốn tìm hiểu thêm – ND)

Thời kỳ buôn chứng khoán tính bằng ngày qua lâu rồi. Hiện nay, các nhà buôn lanh lợi kiếm tiền bằng cách vượt trước đối thủ vài mili giây. Để làm được điều đó, bạn thực sự cần đến các phần mềm chứng khoán nhanh chạy trên nền Linux.

Tập đoàn Deutsche Borse có phần mềm chứng khoán riêng Xetra cash exchange để quản lý sàn chứng khoán Quốc tế (International Securities Exchange ) tại New York, cũng như sàn Eurex tại châu Âu. Xetra stock exchange platform cũng được dùng tại sàn chứng khoán Ailen, Thượng hải và sàn chứng khoán năng lượng châu Âu, v.v.. Cuối năm nay, một thế hệ mới của Xetra sẽ được công bố dùng IBM WebSphere MQ Low Latency Messaging và Linux để trở thành một phần mềm chứng khoán nhanh nhất thế giới (phiên bản hiện tại chạy trên Windows Server 2003 và Sun Solaris 10).

Nhanh đến mức nào? Một đại diện của Deutsche Borse nói rằng phần mềm chứng khoán chạy trên Linux của họ “dễ dàng thực hiện trên một triệu lệnh giao dịch trong một giây, làm cho ngay cả sản chứng khoán NewYork hùng mạnh cũng trở thành một chú lùn”

Tốc độ không chỉ là để nhanh. Người phát ngôn của Deutsche Borse nói với tôi: “ Vì thị trường tài chính đang trong quá trình hồi phục, các sàn chứng khoán trên toàn cầu – 161 sàn tất cả – phải chiến đấu khốc liệt để thắng và giữ được khách hàng bằng cách cung cấp cho khách những thứ họ cần nhất: giao dịch nhanh nhất, an toàn nhất và tin cậy nhất có thể. Điều đó dẫn đến cuộc “chạy đua vũ trang” về công nghệ giữa các sàn, nơi các thuật toán máy tính xử lý hàng trăm nghìn cổ phiếu trong một lệnh giao dịch chỉ tính bằng một phần của giây”.

“Tốc độ là tối cần thiết với những giao dịch như thế. Một phần của giây có thể mang lại những khoản lãi hoặc lỗ khổng lồ của nhà đầu tư. Những giao dịch trước đây tính bằng phút hoặc giây thì nay được xử lý trong vài phần nghìn, phần triệu giây. Những phần mềm nhanh nhất sẽ mang lại lợi nhuận cao nhất”.

Như một bài báo gần đây trên tờ New York Times đã chỉ ra, cái cách giao dịch tần số cao đó “cho phép các nhà buôn chứng khoán chuyển đi hàng triệu lệnh với tốc độ ánh sáng “

Khía cạnh may rủi của kiểu giao dịch cao tốc đó là bạn có thể kiếm được hàng tỷ. Tờ Thời báo NewYork dẫn lời Joseph M. Mecane của sàn chứng khoán New York Stock Exchange Euronext , một sàn cũng dựa trên nền Linux, “Đó là cuộc chạy đua vũ trang về công nghệ, điều phân biệt kẻ thắng người thua là ai chạy nhanh hơn”.

Nếu bạn chạy sau trong cuộc đua đó, bạn sẽ mất lợi thế cạnh tranh. Như người phát ngôn của Deutsche Borse đã chỉ ra :” những sàn nào thua trong cuộc chạy đua tốc độ, sự cố sẽ trở thành thảm họa như sàn chứng khoán London đã gặp trong tháng 9 vừa qua khi một trục trặc của phần mềm chạy trên Windows của họ làm ngưng trệ giao dịch trong 7 giờ, dẫn đến những tổn thất khổng lồ cho các công ty niêm yết trên sàn, cho các nhà đầu tư và cho chính bản thân sàn.”

Điều đúng cho các sàn cũng đúng cho nhà đầu tư. Nếu bạn không phải nhà đầu tư dài hạn, chỉ lướt sóng, bạn sẽ nhanh chóng bị thua các nhà đầu tư dùng phương pháp mua bán nhanh trên những sàn cao tốc.

Sàn chứng khoán London (LSE) đã rời bỏ Windows (bài này có 294 comments tranh luận sôi nổi, nên xem – ND) nhưng không nói sẽ chuyển sang cái gì. Nếu Linux là tốt cho Deutsche Borse, cho sàn chứng khoán NewYork và cho sàn Chicago Mercantile Exchange, tôi nghĩ nó cũng đủ tốt cho LSE.

Hệ thống mới của Deutsche Borse sẽ là xương sống cho các sàn dùng phần mềm Xetra. Sàn chứng khoán Quốc tế của Deutsche Borse sẽ là sàn đầu tiên chuyển sang hệ thống mới và các sản khác dùng Xetra sẽ nhanh chóng theo sau.

Hệ thống chủ yếu dựa trên Red Hat Enterprise Linux. Bộ phần mềm MQ Low Latency Messaging của IBM cũng đóng một vai trò quan trọng.

Không quân Úc đào tạo phi công bằng thiết bị nguồn mở

Không quân Úc chi 1,7 triệu USD cho thiết bị mô phỏng bay dùng Linux

Đăng trên itnews.com.au
By Munir Kotadia
Aug 31, 2009 6:08 AM
Tags: defence | linux | opteron | flight | simulator

Nền đồ họa cũng là nguồn mở

Lực lượng quốc phòng Úc (The Australian Defence Force-ADF) đã tiết lộ thiết bị mô phỏng bay mới nhất chạy trên cụm máy chủ (clusters) dùng bộ xử lý Operon của AMD, hệ điều hành Suse Linux và một môi trường đồ họa nguồn mở.

Thiết bị này tạo nên một thế giới ảo cho phép các phi công trải nghiệm các tình huống chiến đấu thực mà không phải rời mặt đất.

Greg Combet, bộ trưởng Quân lực, Vật tư và Khoa học Quốc phòng nói thiết bị mới sẽ tạo ra “những kinh nghiệm thực và ảo cho các phi công và nhân viên điều hành bay”.

“Bằng cách tái tạo các hoàn cảnh thực tế trong một môi trường ảo, thiết bị cho phép diễn tập và đánh giá các hoạt động không chiến với chi phí giảm đi rất nhiều và không đặt các phi công vào những tình huống nguy hiểm”

Người phát ngôn bộ Quốc phòng cho biết thiết bị sẽ khởi động trong 30 giây, dùng cụm máy chủ Opteron 2218 4 lõi, card màn hình nVidia Quadro FX 5600G. Các bộ mô phỏng bay và khí động học chạy trên nhiều máy chủ dùng bộ xử lý Opteron 8 lõi.

Tất cả các máy chủ trong cụm (cluster) chạy hệ điều hành Suse Linux. Khác với các cụm máy chủ Linux truyền thống tập trung vào thông lượng dữ liệu, cụm máy chủ này chú trọng đến tốc độ đáp ứng theo thời gian thực bằng cách dùng các tính năng của nhân Linux như khóa bộ nhớ (memory locking), lập lịch thời gian thực (real-time scheduling) và truyền dữ liệu có độ trễ thấp (low-delay communication).

Phần mềm quan sát được viết trong OpenGL dùng các engine đồ họa nguồn mở và đóng, dựa rất nhiều vào các chương trình OpenGL Shader Language để tạo các hiệu ứng như các đám mây, khói và cây cối.

OpenDiscovery- bản Linux dành cho sinh học phân tử

Open Discovery là một bản Linux dựa trên nền Fedora dành riêng cho sinh học phân tử. Nó có các công cụ phần mềm để phân tích chuỗi DNA, xem cấu trúc protein và cấu trúc hóa học, mô hình hóa phân tử, động học phân tử, v.v.. (chi tiết xem thêm và tải về tại đây). OpenDiscovery hỗ trợ các máy tính nhiều processors để tăng tốc các quá trình tính toán và hỗ trợ các ngôn ngữ lập trình phổ biến trong lĩnh vực sinh học phân tử như PERL và PYTHON.

screenshot-5

Những ai hay chống Linux nhất?

Nếu bạn chỉ vọc Linux cho riêng mình thì thôi. Nếu bạn lại muốn phổ biến tuyên truyền điều mình ham thích thì dưới đây là những đối tượng bạn nên tránh.

Chống lại Linux mạnh nhất, kiên quyết nhất lại chính là dân tin học. Các giám đốc công ty tin học lớn nhỏ, các “chuyên gia” tin học kỳ cựu, các “cử nhân” tin học vất vả mãi mới tốt nghiệp được đều nhìn Linux với con mắt đầy căm thù, hằn học và sợ hãi.

Vì Linux đe dọa cái cần câu cơm của họ! Điều đó hoàn toàn có thể hiểu và thông cảm được.

Và sự chống đối của họ thường có hiệu quả cao đối với những người ngoại đạo do cái “mác” mà họ có và những lời lẽ “uyên bác” đầy những từ ngữ kỹ thuật. Tôi đã từng được đọc những bản tư vấn chống lại opensource của các “chuyên gia” VNPT thuộc loại này, từng được nhận những cái bĩu môi khinh bỉ kèm theo những lời vàng ngọc của các cây đại thụ trong hội Tin học đất nước và thủ đô!. Những chuyên gia của văn phòng đại diện Microsoft thì phản ứng khá hơn nhưng cũng là nông nổi.
Tất cả đều có một điểm chung là không ai hiểu gì về Linux, opensource cả! Trước nguy cơ đe dọa, họ vội vã thu góp các thông tin thậm chí chỉ là nghe thoáng qua không thèm hỏi lại cụ Gúc nữa để tung ra phản công.

Và những lý lẽ của họ thật khôi hài!

Trong hàng ngũ những người sử dụng, chống Linux hăng nhất là những người trước đây bắt buộc phải học Windows, trầy trật mãi mới tạm biết sử dụng, tiếng Anh cũng không thạo. Bây giờ lại phải chuyển qua Linux thì thật kinh hoàng! Thuộc loại này thường là lớp cán bộ già và cũng có cả cán bộ trẻ nhưng IQ thấp (chú ý là tôi không vơ đũa cả nắm, “thường là” thôi nhé).

Cán bộ già mà chống thì thật đáng sợ vì thường có chức, có quyền, học hàm, học vị đầy người, ăn nói có gang có thép. Những ý kiến quý báu như thế này : “Kubuntu không dùng giao dịch quốc tế được”, “Phần mềm nguồn mở rất kém an toàn, chẳng có ai chịu trách nhiệm cả”, “Thì giờ đi học Linux để làm những cái cần thiết hơn” v.v. và v.v không phải là hiếm. Đụng phải đối tượng này, bạn là nhân viên dưới quyền có thể thân bại, danh liệt.

Trước đây dùng Windows, nếu gặp lỗi hoặc không biết làm thì tự biết là mình kém không dám đổ cho ai. Nhưng nếu dùng Linux, bất kỳ trục trặc lớn nhỏ là đổ hết lên đầu Linux, khi kiểm tra ra mới biết là không thạo sử dụng máy tính nói chung, nếu dùng Windows thì cũng trục trặc như thế. Đường Internet đứt, không vào được mạng, tại Ubuntu; bảng tính sai kết quả do chính công thức sai, cũng tại Ubuntu nốt. Thậm chí máy in chưa bật, không in ra được cũng tại Ubuntu luôn cho tiện!

Có những cán bộ già vẫn mang đầy hoài niệm về thời trẻ oai hùng là học sinh chuyên toán mà bây giờ cũng nhìn Linux đầy ngần ngại. Chẳng ai chống được tuổi tác và ông Trời!
Khác với lớp người trên, những người này chống không phải vì sợ mất cần câu cơm mà xuất phát từ bản năng “tiết kiệm năng lượng” hay nói một cách thô thiển là bản năng “lười” của con người. Đối với một số người là ám ảnh của ký ức đầy gian khổ của thời buộc phải học Windows nữa. Đang yên ổn, chẳng ai muốn thay đổi.
Nhưng các cụ đã dạy rằng “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” mà nhiều người không chịu theo.

Nhưng cũng có một phần là do thiếu thông tin.
Chính bản thân tôi ban đầu lao vào Linux là do “ham của lạ”. Chỉ sau này tìm hiểu kỹ hơn mới giật mình là trước đây mình ngu quá. Ngay bộ ngoại giao Mỹ mà còn cho rằng Dùng Firefox tốn kém lắm thì còn trách ai được. Trên các phương tiện truyền thông chỉ lơ thơ vài ba tin. Ngay cái site “Phần mềm tự do nguồn mở” của bộ Khoa học Công nghệ có nội dung thật đáng thất vọng.
Lớp người tiếp thu nhanh nhất là lớp trẻ có chỉ số IQ khá, tư duy thoáng và cởi mở, không ngại những cái mới nói chung (trừ loại có IQ thấp, lười và mua bằng ra nhé). Để tự tìm hiểu và sử dụng được Linux cho những nhu cầu thông thường, lớp người này thường chỉ cần mất vài ngày. Và đấy là lực lượng bạn nên dựa vào nếu muốn tuyên truyền phổ biến về Linux.
Chia sẻ những kinh nghiệm trên để bạn tránh, không phải để bi quan. Nếu như gần đây chính Microsoft còn phải công khai nhìn nhận sự đe dọa của Linux thì không ai có thể cản bánh xe lịch sử được. Bạn không phải Đông Ki sốt mà là Kim Ngọc của một trào lưu mới.

Lý do số 1 chuyển sang OpenSource là để cải thiện an ninh, bảo mật

Bill Vass là Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành (Chief Operating Officer) của Sun Microsystems Federal, Inc. Bài dưới đây đăng trên blog của ông, tôi lược dịch lại. Link gốc nhấn vào tên bài.

Thursday Apr 16, 2009

Lý do số 1 chuyển sang phần mềm nguồn mở là để cải thiện an ninh (The No. 1 Reason to Move to Open Source is to IMPROVE Security)

Nếu bạn cũng như tôi đã làm việc lâu năm trong lĩnh vực mã hóa và an ninh mạng thì sẽ thấy rõ ràng rằng các phần mềm mã nguồn mở thương mại an toàn hơn. Thực tế cho thấy  cuối những năm 90 nhiều hệ thống tác nghiệp của các cơ quan tình báo và các hệ thống chiến thuật của bộ Quốc phòng Mỹ chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở CHỈ ĐỂ CẢI THIỆN AN NINH. Hiện nay, đại đa số các hệ thống quan trọng của các cơ quan tình báo (những người quan tâm nhất đến an ninh mạng – Cyber security) đều chạy trên các hệ điều hành nguồn mở như Solaris và Linux. Điều đó cũng đúng với các cơ quan khác như cục Hàng không Liên bang (FAA – Federal Aviation Administration), cục Thuế (Internal Revenue Service -IRS) và nhiều cơ quan khác quan tâm về an ninh mạng.

Dưới đây tôi sẽ dẫn bạn đi qua một vài lý do tại sao phần mềm nguồn mở thương mại lại an toàn hơn, rồi sẽ cung cấp cho bạn một vài số liệu cụ thể.

Trước tiên cần nhìn vào dây chuyền xây dựng phần mềm. Thực tế hiện nay, tất cả các phần mềm đều được viết trên toàn cầu. Bạn phải chấp nhận rằng phần mềm của Microsoft, Oracle và IBM được lập trình tại Ấn độ, Trung quốc và Nga. Nếu phần mềm có nguồn mở thì không có gì có thể giấu ẩn bên trong mã. Nếu con ngựa thành Troa được làm bằng thủy tinh thì những người dân thành Troa có kéo nó vào bên trong thành không? KHÔNG. Các chính phủ minh bạch (open gvernments) thì các công dân của họ an toàn hơn và phần mềm nguồn mở cũng an toàn hơn cho bất kỳ ai dùng chúng. Sự giám sát công cộng là một điều rất hay.

Giả sử bạn đang xếp hàng chờ qua cổng an ninh ở sân bay, trước bạn là một người mang một cái cặp “nguồn đóng” khóa kín. Anh ta nói với nhân viên an ninh sân bay rằng đừng lo, hãy tin vào anh ta, mọi thứ trong cặp đã được kiểm tra kỹ rồi. Bạn cảm thấy thế nào? Tốt hơn hết người đứng trước bạn là người mang cặp “nguồn mở” vui vẻ mời nhân viên an ninh kiểm tra mọi thứ trong đó vì anh ta không có gì phải che dấu.

Bạn sẽ cảm thấy an toàn hơn khi đi máy bay với người nào trong hai người nói trên? Vậy thì tại sao bạn lại phải tin một người bán phần mềm chất vào máy chủ của bạn những phần mềm cực kỳ quan trọng mà chẳng ai biết có gì trong đó trừ chính công ty bán phần mềm hoặc một nhóm nhà lập trình? Đôi khi tôi cũng có nghe những người bán phần mềm nguồn đóng nói rằng “nhưng ai cũng có thể nhìn thấy cơ chế bảo mật của phần mềm nguồn mở hoạt động như thế nào”. Đó lại chính là điều làm cho phần mềm nguồn mở mạnh hơn phần mềm nguồn đóng.

Các nhà lập trình nguồn đóng chỉ biết nói: “Hãy tin vào chúng tôi”. Các nhà lập trình nguồn mở thì có thể nói: “Hãy xem việc đảm bảo an ninh của chúng tôi. Chúng tôi xây dựng tính an toàn bảo mật trong mọi thứ: hồ sơ, mô hình, kiến trúc, quá trình xét duyệt, việc chọn ngôn ngữ lập trình, các tiêu chuẩn lập trình, mã nguồn, các phương pháp kiểm tra, các công cụ, kỹ thuật, cấp phép, quản lý rủi ro, sửa chữa, ….”. Bạn có được bức tranh toàn cảnh của toàn bộ quá trình lập trình. Với phần mềm nguồn mở, ưu điểm về an ninh bảo mật không chỉ ở khả năng đọc được mã nguồn mà là cả vòng đời phát triển công nghệ ngay từ đầu đã dựa trên những nền tảng an ninh và mục tiêu an ninh.

Tất cả các loại thiết bị an ninh vật lý đều là nguồn mở. Bạn có thể đến phòng đăng ký sáng chế hoặc xem online trên mạng để biết một cái khóa có cấu tạo thế nào, hoạt động ra sao và chính điều đó làm cho chúng trở nên an toàn hơn. Tôi thường nghe các nhà bán phần mềm nguồn đóng nói rằng họ có những người “đủ năng lực” xem xét mã nguồn của họ. Anh chàng mang cặp “nguồn đóng” trong ví dụ trên có lẽ cũng đã có ai đó “đủ năng lực” trong công ty khám xét cặp của anh ta rồi và nhân viên an ninh sân bay tốt hơn hết là cứ cho cái cặp đó qua cổng an ninh mà không phải xem xét gì cả? Sai. Với cái cặp “nguồn mở” BẤT KỲ AI cũng có quyền khám xét … kể cả các cơ quan tình báo.

Các cơ quan tình báo là một bộ phận của Cộng đồng Nguồn mở tham gia xem xét mã nguồn. Nhưng nên nhớ rằng có hàng triệu triệu dòng lệnh. Microsoft có khoảng 30 triệu dòng lệnh, Oracle khoảng 15 triệu, Solaris khoảng 20 triệu. Rồi Linux khoảng 12 triệu, MySQL khoảng …Vài trăm chuyên gia chẳng có cách nào xem hết được cái đống lệnh đó.

Hệ điều hành Solaris của Sun trước đây đã được điểm cao nhất về an ninh mà chính phủ dành cho hệ điều hành dùng trong các tổ chức và ngày nay vẫn thế. Nó được cấp phép bởi chính phủ liên bang, được rà soát bởi các chuyên gia giỏi nhất của Sun, của các cơ quan tình báo và vô số những người thông minh khác trong cộng đồng. Ấy thế mà khi Solaris được công bố mã nguồn, trong vòng một tháng chúng tôi nhận được thông báo về 28 lỗi bảo mật mới do cộng đồng 160,000 người dùng Solaris phát hiện và đã kịp vá lỗi trước khi có kẻ khai thác chúng vào những mục đích xấu.

Cũng những điều nói trên đã xảy ra khi chúng tôi nguồn mở hóa Java. Ngay khi bạn nguồn mở hóa một phần mềm, một cộng đồng người dùng đông đảo sẽ xem xét mã nguồn đó và bạn sẽ kịp vá lỗi trước khi nó gây ra tai họa.

Vì thế tại sao các cơ quan an ninh quốc gia và nhiều tổ chức nhà nước khác đã có một sáng kiến lớn là chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở. Sự quan sát, săm soi của công chúng sẽ làm tăng chất lượng của chương trình. Mỗi lần bạn mua bán trên mạng, bạn đều phải dùng thuật toán mã hóa RSA. Thuật toán này là nguồn mở, nó bị phê phán, sửa, rồi lại bị phê phán, lại sửa bởi rất nhiều người cứ như thế cho đến khi nó được đưa vào ứng dụng.

Một ví dụ ngược lại là clipper chip, một con chip mã hóa được chính quyền Clinton tung ra làm thiết bị bảo mật cho các công ty viễn thông. Sau khi ra đời được 48 giờ thì nó bị phá (chip này ra đời năm 1993 và đến 1996 thì chết – ND). Nếu nó là nguồn mở thì sẽ có người phát hiện được lỗi và sẽ kịp sửa trước lúc đưa vào ứng dụng. Nhưng nó lại là nguồn đóng. Thuật toán RSA theo tôi biết thì chưa bao giờ bị phá trừ khi dùng cách tấn công brute force.

Nếu bạn xem Cơ sở Lỗi bảo mật quốc gia (National Vulnerability Database – NVD), bạn sẽ thấy rằng các sản phẩm phần mềm nguồn mở có ít lỗi hơn và mức độ bị khai thác lỗi cũng thấp hơn các sản phẩm nguồn đóng tương đương.

Đồ thị dưới đây là mức độ rủi ro theo báo cáo Airius Risk Report tính toán dựa trên số liệu của NVD. Nhìn vào đó bạn sẽ thấy rằng các sản phẩm nguồn đóng có độ rủi ro (về bảo mật) cao hơn nhiều so với các sản phẩm nguồn mở tương đương.

sun-rr-b-123107-new-small

sun-rr-a-123107-new-small.jpg

Và cũng không phải vì các phần mềm nguồn mở ít người dùng. Có 6 tỷ lần cài đặt Java, 14 triệu lần Open Solaris, 120 triệu lần Open Office và 115 triệu lần MySQL.

Phần mềm nguồn mở có an toàn không?

Một trong những lý luận thường gặp nhất của những người chống Linux (nhưng tuyệt đại đa số không hiểu gì về Linux) là Linux không an toàn. Cái cảm giác mơ hồ về một sản phẩm  do một đám người ảo trên mạng tham gia xây dựng, ai cũng có thể đọc được “ruột” của nó dẫn đến cảm giác bất an cũng là điều dễ hiểu.

Để trấn an nỗi lo lắng đó của những người sử dụng bình thường, có thể dùng các lý lẽ sau đây:

  1. Quân đội Mỹ, quân đội Pháp, các tổ chức tài chính hàng đầu: ngân hàng HSBC, Morgan Stanley, thị trường chứng khoán NewYork, các chính phủ G7, các đại công ty thuộc danh sách Fortune 500, v.v…. đều đang dùng Linux và dùng trong những hệ thống có yêu cầu an ninh rất cao (chi tiết xem thêm ở đây).
  2. Trong một cuộc thi hack các hệ điều hành năm 2008, các hệ điều hành Mac Leopard và Windows Vista đều bị hạ. Duy nhất chỉ có Ubuntu Linux trụ vững được.
  3. Khi bạn mua một thiết bị gia dụng đắt tiền (xe máy, điều hòa, v.v…), giữa một thiết bị được mở toang, bày giữa cửa hàng cho ai cũng xem được từng bộ phận bên trong với một thiết bị niêm phong kín, (của cùng các hãng danh tiếng) cái nào đáng tin cậy hơn?
  4. Cách đây ít năm, Microsoft đã có lần bị tố cáo là để cổng hậu (backdoor) trong Windows cho FBI khi cần có thể vào kiểm soát máy tính. Tất nhiên là hãng ra sức thanh minh. Nhưng ngoài việc tin vào Bill Gate, bạn có cách nào kiểm tra được không? Ngược lại, với phần mềm nguồn mở, về nguyên tắc có thể đọc từng dòng mã nguồn để kiểm tra xem có mã độc nào lẫn trong đó không trước khi cho dịch thành mã máy để chạy. Tất nhiên việc này đòi hỏi phải có một đội ngũ chuyên gia trình độ cao mà chỉ ở quy mô chính phủ hoặc các ngành cần an ninh cao như quân đội, công an có thể tổ chức làm được (và nên làm, như Cuba, một nước có tinh thần cảnh giác rất cao hiện đang làm. Việt nam mà chưa làm thì cũng hơi lạ).
  5. Nếu các lý lẽ nói trên vẫn chưa thuyết phục nổi bạn và bạn cho rằng mình cẩn thận hơn chính phủ Anh, công việc của mình quan trọng hơn chỉ huy tác chiến của quân đội Mỹ và những thứ “linh tinh” đã nêu ở mục 1 thì mời bạn chịu khó xem báo cáo sau đây:

Báo cáo về an ninh: Windows so với Linux

Một đánh giá độc lập của  Nicholas Petreley

Posted in Security, 22nd October 2004 07:26 GMT

(Bản báo cáo này khoảng 50 trang, tôi lược dịch một số phần đáng chú ý. Những lập luận thì có thể còn phải bàn, nhưng hệ tiêu chí đánh giá lỗi bảo mật và số lượng, tỷ lệ lỗi thì đáng tin cậy. Nguyên bản xem tại đây – ND)

Tóm tắt

Nhiều công trình đã được thực hiện để xem Linux có thực sự an toàn hơn Windows hay không. Chúng tôi so sánh Windows và Linux bằng cách tìm hiểu 40 bản vá/thông báo lỗi bảo mật gần đây của Microsoft Windows Server 2003 và Red Hat Enterprise Linux AS v.3 theo các tiêu chí sau:

  1. Mức độ nghiêm trọng của lỗi bảo mật dựa trên các tiêu chí:
    1. Mức độ thiệt hại có thể do lỗi đó gây ra.
    2. Khả năng khai thác lỗi đó dễ hay khó.
    3. Khả năng bộc lộ của hệ thống do lỗi (cần loại truy cập nào để khai thác được lỗi?)
  2. Số lượng lỗi nghiêm trọng.

Kết quả không có gì bất ngờ. Ngay cả theo những tiêu chuẩn chủ quan của Microsoft, 38% lỗi bảo mật của Windows được xem là nghiêm trọng, trong khi đó Red Hat chỉ có 10%. Nếu theo các tiêu chuẩn riêng của chúng tôi, số lỗi nghiêm trọng của Windows chiếm tới 50% tổng số lỗi đã công bố.

Thêm vào đó, chúng tôi đã tìm kiếm trong cơ sở dữ liệu lỗi bảo mật của đội Ứng cứu khẩn cấp máy tính Mỹ ( the United States Computer Emergency Readiness Team- CERT), các dữ liệu ở đó khẳng định kết luận của chúng tôi ở một tầm mức còn lớn hơn. Khi tìm trong cơ sở dữ liệu về lỗi bảo mật của Windows, trong 40 lỗi đầu xếp theo thứ tự giảm dần về mức độ nghiêm trọng thì 39 lỗi thuộc loại trên ngưỡng báo động cao (severe alert) của CERT. Trong khi đó Red Hat Linux chỉ có 3/40 lỗi thuộc loại đó. Nếu tìm chung trong cơ sở dữ liệu Linux, chỉ có 6/40 lỗi đầu vượt ngưỡng nói trên.

Vậy thì tại sao vẫn còn những lời đồn đại rằng Linux không an toàn bằng Windows? Một trong những nguyên nhân là những lời đồn đại đó dựa trên những tiêu chí không đầy đủ và có những lỗ hổng về mặt logic như phân tích dưới đây.

Hóa giải những điều đồn đại

Số lượng ít nên an toàn

Một trong những điều hoang tưởng được lặp lại nhiều nhất về độ an toàn của Windows so với Linux là lập luận rằng Windows có nhiều virus, mã độc và các vụ tấn công an ninh là do các hacker chỉ tập trung vào Windows vì thị phần của nó rất lớn. Linux ít bị hơn vì chiếm thị phần nhỏ, các hacker chưa thèm để ý đến. Và ngụ ý đằng sau lập luận này là Linux và các ứng dụng Linux cũng không an toàn gì hơn Windows và các ứng dụng Windows.

Lý luận này không đứng vững được khi xét đến các phần mềm máy chủ web. Theo một nghiên cứu của hãng NetCrap tháng 9/2004 [1], 68% website chạy trên phần mềm máy chủ web nguồn mở Apache, 21% chạy trên Microsoft IIS (Internet Information Services). Nếu theo lý luận trên, virus, malware nhằm vào Apache và hệ điều hành bên dưới nó phải nhiều hơn, cũng như các cuộc tấn công thành công vào Apache phải nhiều hơn Windows server và IIS.

Tuy nhiên thực tế lại chứng tỏ ngược lại. IIS từ lâu đã là mục tiêu hàng đầu của các loại sâu (worm) và các kiểu tấn công, và nhiều những cuộc tấn công thành công lớn. Sâu Code Red khai thác lỗi tràn bộ đệm của IIS để giành quyền kiểm soát web server đã lan tràn trên 300,000 máy chủ và chỉ dừng lại do bản thân sâu đó được lập trình tự ý ngừng lây nhiễm. Sâu Code Red.A còn lây nhanh hơn và cũng tự ngừng sau ba tuần. Một sâu khác, IISWorm, có tác hại giới hạn chỉ vì người viết nó kém chứ không phải IIS tự bảo vệ tốt.

Sâu cho Apache cũng có, ví dụ Slapper (mặc dù thực ra Slapper khai thác lỗi của OpenSSL, không phải lỗi của Apache). Tuy nhiên, sâu Apache hiếm khi tạo nên thành tựu nổi bật vì tác hại của chúng giới hạn và dễ dàng bị tiêu diệt. Có thể diệt sâu và khôi phục site bị nhiễm chỉ bằng một vài lệnh mà không cần phải reboot máy nhờ vào bản chất module của Linux và Unix.

Có lẽ vì thế mà theo nghiên cứu nói trên của Netcrapt, 47 trong 50 site có thời gian chạy liên tục dài nhất (uptime) chạy trên Apache [2] . Không một site nào trong 50 site trên chạy trên Windows hoặc IIS.

Xem được mã nguồn là dễ tìm ra lỗi để tấn công.

Thành công về an ninh nêu trên của Apache cũng bác bỏ một điều hoang tưởng khác: Phần mềm nguồn mở nguy hiểm hơn phần mềm nguồn đóng vì ai cũng có thể tìm hiểu mã nguồn để tìm ra khe hở tấn công.

Thực tế thì số lượng virus, worm, Trojan, spyware và các loại mã độc khác trên Windows nhiều không đếm xuể (mặc dù mã nguồn của Windows không công khai). Chúng hung hăng tới mức có thể lây nhiễm vào một hệ Windows XP chưa được vá sau 16 phút kết nối Internet, ngắn hơi thời gian cần để tải và cài đặt bản vá [3].

Một ví dụ khác: Apache là phần mềm nguồn mở và thường cũng chạy trên các hệ điều hành nguồn mở, ai cũng đọc được mã nguồn của hai phần mềm đó. Nếu theo lý luận trên, chúng phải bị tấn công nhiều hơn, thời gian uptime ngắn hơn Microsoft Windows và IIS, nhưng thực tế ngược lại như đã nói ở trên. Vậy việc đọc được mã nguồn không mang lại lợi ích gì thêm cho hacker. (Đọc được mã nguồn là một chuyện, có tìm ra khe hở trong đó để tấn công hay không lại là chuyện khác – ND)

Các lý lẽ mơ hồ chỉ dựa trên một tiêu chí

Hai lý lẽ nữa là “Linux có nhiều cảnh báo về lỗi an ninh hơn Windows và vì thế Windows an toàn hơn” và “thời gian trung bình từ lúc phát hiện lỗi đến lúc công bố bản vá của Linux dài hơn của Windows và do đó Windows an toàn hơn”.

Cái lý lẽ sau là bí hiểm nhất vì không hiểu nó dựa vào đâu. Microsoft mất bảy tháng để chữa một trong những lỗi nghiêm trọng nhất (Microsoft Security Bulletin MS04-007 ASN.1 Vulnerability, eEye Digital Security publishes the delay in advisory AD20040210) và có những lỗi Microsoft còn công khai nói họ sẽ không bao giờ chữa.

Thời gian khắc phục lỗi nhanh cũng không phải là một tiêu chí để nói là Windows an toàn hơn Linux. Nếu bạn bị đau tim, bạn muốn vào cấp cứu ở một bệnh viện có thời gian từ lúc vào viện đến lúc xuất viện ngắn nhất hay là đến một bệnh viện có chế độ chăm sóc chu đáo nhất?

Việc lựa chọn phần mềm rõ ràng không chỉ dựa trên một tiêu chí thời gian chữa lỗi ngắn nhất. Ngay số lần cảnh báo lỗi an ninh chung chung cũng vô nghĩa. Phải biết rõ trong đó bao nhiêu lỗi có thể gây hậu quả, trong các hậu quả, bao nhiêu phần trăm là nghiêm trọng? Nên chọn một phần mềm có 100 lỗi nhưng đều nhẹ hoặc chỉ user có quyền đăng nhập mới khai thác được hay chọn một phần mềm chỉ có 1 lỗi nhưng hacker có thể qua Internet chui vào xóa hết dữ liệu?

(Trong phần sau của báo cáo này, tác giả xây dựng một hệ thống các tiêu chí logic, chi tiết để đánh giá mức độ nghiêm trọng của các lỗi bảo mật. Kết quả đánh giá đã trình bày tóm tắt ở phần đầu báo cáo – ND)

So sánh thiết kế của Windows và Linux.

Thiết kế của Windows

Virus, Trojan và các loại mã độc khác thâm nhập được vào Windows vì những nguyên nhân rất thông thường với Windows nhưng xa lạ với Linux:

  1. Windows chỉ gần đây mới chuyển từ thiết kế một người dùng sang thiết kế nhiều người dùng.
  2. Windows được thiết kế theo nguyên tắc đơn khối (monolithic) không phải đa khối (modular) như Linux.
  3. Windows phụ thuộc quá sâu vào mô hình RPC ( Remote Procedure Call).
  4. Windows tập trung vào giao diện đồ họa.

Gần đây Windows mới phát triển từ thiết kế một người dùng (single-user design) sang mô hình đa người dùng (multi-user model)

Thiết kế đầu tiên của Windows là một người dùng (single-user). Vì vậy cả người dùng và phần mềm ứng dụng đều có thể tự do truy cập đến toàn hệ thống, lục lọi mọi chương trình hệ thống hoặc file hệ thống quan trọng. Do đó, virus và các loại mã độc cũng có thể làm vậy vì Windows không cô lập, bảo vệ các chương trình hoặc file hệ thống.

Windows XP là phiên bản Windows đầu tiên có những cố gắng nghiêm chỉnh để cách ly người dùng khỏi hệ thống, mỗi người dùng có các file riêng và quyền truy cập hệ thống hạn chế. Nhưng khi đó, các ứng dụng Windows cũ lại không chạy được vì chúng “quen” được phép lục tung hệ thống. Do đó, Windows XP có một kiểu chạy tương thích (compatibility mode) cho phép các chương trình ứng dụng chạy như thể chạy trên các hệ Windows cũ, có quyền truy cập tự do vào hệ thống. (Và virus cũng có thể làm được vậy – ND)

Như vậy, Windows XP đã là một tiến bộ nhưng vẫn không phải hệ đa người dùng (multi-user) thực sự và do đó vẫn còn các lỗ hổng an ninh của hệ single-user.

Windows Server 2003 là một bước tiến mới về môi trường đa người dùng thật sự nhưng vẫn không thoát khỏi các lỗ hổng an ninh thừa kế từ các đời single-user trước. Vì vậy, Windows server 2003 mặc định phải tắt nhiều tính năng của trình duyệt có nguy cơ về an ninh như ActiveX, scripting,…

(Ở đây có hai vấn đề: a/do mới chuyển sang multi-user nên công nghệ sẽ không hoàn chỉnh, chín muồi được như Linux đã làm từ hàng chục năm nay, b/vẫn phải đảm bảo tương thích với một số ứng dụng cũ nên sẽ tạo lỗ hổng an ninh. Gần đây, Google khi xây dựng hệ Chrome OS đã hứa hẹn là sẽ thiết kế mới hoàn toàn để đảm bảo an ninh. Và chỉ có như vậy mới triệt để -ND)

Windows được thiết kế đơn khối (Monolithic by Design) không phải đa khối (Modular).

Một hệ đơn khối thì các tính năng tích hợp trong một thể thống nhất. Ngược với đơn khối, trong hệ đa khối các tính năng được chia thành các lớp (các module) riêng biệt, mỗi lớp có khả năng truy cập giới hạn đến các lớp khác.

Trong khi một số nhược điểm an ninh của Windows là do thiết kế đơn người dùng như đã nói ở trên, một số nhược điểm khác lại do những quyết định thiết kế cố tình. Microsoft đã loại trình duyệt Nestcape cạnh tranh bằng cách tích hợp trình duyệt Internet Explorer vào hệ điều hành đến mức không thể gỡ ra được. Dùng Help hay Outlook, … đều phải gọi đến IE. Microsoft đã thành công loại các sản phẩm cạnh tranh bằng cách tích hợp ngày càng nhiều các dịch vụ vào hệ điều hành nhưng điều đó cũng tạo nên một con quái vật gồm các dịch vụ phụ thuộc qua lại lẫn nhau chặt chẽ và đó chính là một hệ đơn khối.

Sự phụ thuộc chặt chẽ vào nhau của các dịch vụ tạo ra hai hệ quả xấu.

Thứ nhất, trong một hệ đơn khối, mọi lỗ hổng an ninh của một bộ phận sẽ ảnh hưởng đến tất cả các bộ phận khác phụ thuộc vào nó. Việc tích hợp IE vào hệ điều hành sẽ làm cho một lỗ hổng an ninh của IE sẽ ảnh hường đến hàng loạt ứng dụng khác.

Thứ hai, một hệ đơn khối về bản chất là không ổn định. Khi thiết kế một hệ có quá nhiều quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các bộ phận, việc thay đổi một bộ phận có thể gây nên vô số rủi ro, ảnh hưởng dây chuyền đến các bộ phận khác phụ thuộc vào bộ phận bị thay đổi. Một ví dụ điển hình là mỗi lần cập nhật hoặc vá lỗi một bộ phận của Windows thường làm hỏng các bộ phận hoặc ứng dụng khác (nhất là ứng dụng của bên thứ ba).

Windows phụ thuộc quá nhiều vào mô hình RPC.

RPC là chữ viết tắt của Remote Procedure Call (gọi thủ tục từ xa). Một chương trình gửi một message lên mạng để bảo một chương trình khác làm một việc gì đó. Sở dĩ có từ “remote – từ xa” là vì chương trình được gọi có thể nằm trên cùng máy, trên máy khác trong mạng hoặc thậm chí trên Internet.

RPC là một nguy cơ an ninh tiềm ẩn vì nó cho phép một máy khác trong mạng có thể bảo máy của bạn làm một việc gì đó. Windows phụ thuộc vào RPC đến mức mà bạn không thể tắt RPC đi ngay cả khi máy không nối mạng. Một số lỗi an ninh nghiêm trọng của Windows Server 2003 (xem bảng dưới đây) là do khe hở an ninh trong chính chức năng RPC chứ không phải trong chương trình sử dụng RPC. Cách thông thường nhất để khai thác một lỗ hổng RPC là tấn công dịch vụ sử dụng RPC.

Điều quan trọng là RPC không phải lúc nào cũng cần và vì thế rất khó hiểu là tại sao Microsoft lại dựa vào nó một cách bừa bãi đến vậy. Nếu một web site dùng một database server và một web server trên cùng một máy thì database server không cần phải dùng đến RPC để liên lạc với web server (nhưng lại vẫn phải dùng nếu là sản phẩm của Microsoft).

Nhắc đến điều đó vì chính sâu Slammer, một trong những sâu nguy hiểm nhất từng tấn công Internet, khai thác một trong những lỗi RPC của Microsoft. Slammer lây nhanh qua nhiều hệ thống đến nỗi thực tế đã làm tê liệt Internet.

Windows chú trọng vào giao diện đồ họa máy để bàn quen thuộc

Microsoft xem giao diện Windows quen thuộc của máy để bàn là một ưu điểm khi dùng Windows Server 2003.

Vì thế người dùng đăng nhập vào Windows Server với tên người quản trị (admininstrator) và có toàn quyền với hệ thống. Như vậy, khi dùng một chương trình dễ bị lỗi an ninh như IE, toàn server sẽ bị nguy hiểm.

(Trong Linux server thì không như vậy. Xem phần sau)

Thiết kế của Linux

Theo kết quả một cuộc điều tra mùa hè 2004 của Evans Data Linux Developers, 93% nhà lập trình Linux đã gặp dưới hai sự cố khi máy Linux bị lỗi. 87% chỉ gặp 1 sự cố và 78% chưa bao giờ gặp một cuộc xâm nhập nào vào máy Linux. Trong một số ít trường hợp bị xâm nhập, nguyên nhân chủ yếu là do đặt cấu hình an ninh không tốt.

92% số người được hỏi chưa bao giờ gặp một virus, Trojan hoặc các loại mã độc khác trên các máy Linux.

Virus, Trojan và các loại mã độc khác hiếm khi nhiễm được vào một hệ Linux một phần vì các lý do sau:

  1. Linux có thiết kế multi-user lâu đời, được rà soát, bổ xung đầy đủ.
  2. Linux hầu như dựa trên thiết kế đa khối.
  3. Linux không phụ thuộc vào RPC, các dịch vụ thường mặc định được cấu hình không dùng RPC.
  4. Các máy chủ Linux là lý tưởng để quản trị từ xa, không trực tiếp.

Linux có thiết kế multi-user lâu đời, được rà soát, bổ xung đầy đủ.

Ngay từ đầu, Linux xây dựng theo mô hình Unix đã là một hệ multi-user, mỗi user chỉ có quyền truy cập hạn chế, vừa đủ vào hệ thống vào các ứng dụng. Khi một user chạy một ứng dụng, ứng dụng đó chạy theo các quyền hạn chế của user, chỉ ghi vào thư mục riêng của user, không thay đổi các file hệ thống và cả các thư mục của user khác trừ khi người quản trị cho phép.

Điều quan trọng nữa là mọi tính năng, dịch vụ mà Linux cung cấp hầu hết đều dưới dạng các module thư viện (modular libraries). Do đó, khi một trình soạn văn bản cần tô màu một ảnh JPEG, chức năng tô màu sẽ chạy với cùng quyền truy cập như trình soạn văn bản, tức là với quyền của user sử dụng trình soạn văn bản đó. Nếu có một lỗ hổng an ninh trong thủ tục tô màu, hacker khai thác lỗ hổng đó cũng chỉ có quyền như user và do đó hạn chế thiệt hại vì không tác động được vào hệ thống. Đó chính là ưu điểm của thiết kế đa khối.

Do bản chất đa khối của Linux, khi gửi một email có nhiễm virus cho một Linux user, virus đó không thể lan ra toàn bộ máy. Dù trình email client có tồi đến thế nào đi nữa thì virus cũng chỉ có thể nhiễm, làm hỏng thư mục riêng của user. Trình duyệt Linux không hỗ trợ các đối tượng kém an toàn như ActiveX controls, và dù nó có hỗ trợ thì một ActiveX control chứa mã độc cũng chỉ chạy với quyền của user đang dùng trình duyệt, không thể phá hoại hệ thống hoặc các user khác được.

Ngay cả các dịch vụ, như máy chủ web, cũng chạy như một user với quyền truy cập hạn chế. Ví dụ trong bản Linux Debian, máy chủ web Apache chạy với quyền của user www-data. Nếu hacker chiếm được quyền kiểm soát Apache, hacker đó cũng chỉ tác động được đến các file mà user www-data là chủ (owner). Cơ sở dữ liệu MySQL, thường dùng chung với Apache, được chạy với quyền của user mysql. Do đó nếu Apache có lỗ hổng, hacker kiểm soát được Apache cũng không kiểm soát được MySQL vì MySQL do một user khác làm chủ.

Ngoài ra, các user điều khiển các dịch vụ như nói ở trên thường không có quyền truy cập các lệnh. Vì vậy nếu hacker nắm được quyền điều khiển user mysql cũng không thể phát ra các lệnh cho máy chủ Linux vì user mysql không có quyền chạy lệnh.

Ngược hẳn lại các điều nói trên, Windows ban đầu được thiết kế để mọi user và mọi ứng dụng đều có quyền admininstrator với mọi file của toàn bộ hệ thống. Chỉ sau này, Windows mới hạn chế dần quyền của user. Windows Server 2003 đã gần đạt được đến mức đó. Nhưng phương pháp luận của Microsoft để dựng rào cản giữa user và hệ thống vẫn là dựa trên cơ sở thiết kế cũ mà không thiết kế lại một cách cơ bản để hỗ trợ khả năng multi-user và đảm bảo an ninh.

Thiết kế Linux là đa khối, không phải đơn khối

Linux là một hệ điều hành phần lớn theo thiết kế đa khối từ nhân (kernel) đến các ứng dụng. Trong Linux hầu như không có cái gì liên kết chặt với cái khác đến mức không gỡ ra được. Hệ thống Help hoặc trình email không phụ thuộc vào một động cơ trình duyệt (browser engine) duy nhất. Có thể dễ dàng cấu hình trình email dùng động cơ trình duyệt có sẵn hoặc bất kỳ trình duyệt nào khác để xem các thư HTML. Vì vậy một lỗ hổng an ninh trong động cơ trình duyệt sẽ ảnh hưởng rất ít hoặc không ảnh hưởng đến các ứng dụng khác vì có ít hoặc không có ứng dụng nào phụ thuộc vào trình duyệt đó.

Không phải mọi thứ trong Linux đều đa khối. Hai môi trường đồ họa phổ biến nhất GNOME và KDE có thiết kế ít nhiều đơn khối; ít nhất cũng đủ để nếu update một phần của GNOME hoặc KDE có thể có nguy cơ làm hỏng các phần khác. Tuy nhiên, chúng cũng không đơn khối đến độ chỉ cho phép chạy các ứng dụng viết riêng cho chúng. Có thể chạy các ứng dụng GNOME trong KDE và ngược lại.

Nhân Linux dùng các module driver, nhưng về cơ bản nó là nhân đơn khối trong đó các dịch vụ của nhân phụ thuộc lẫn nhau. Tuy nhiên, tác hại của tính đơn khối này cũng được giảm đến mức tối thiểu vì nhân Linux được thiết kế sao cho nhỏ nhất. Linux đi theo triết lý sau: “Nếu một việc có thể làm được bên ngoài nhân, thì nó phải được làm ngoài nhân”.

(Hình như điều này bây giờ đã thay đổi, xem tại đây – ND)

Ngược lại, lỗi driver màn hình là nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến cái-chết-màn-hình-xanh của Windows. Đó là vì Windows tích hợp đồ họa vào nhân, lỗi đồ họa sẽ làm sập cả hệ thống. Trong Linux, trừ một vài trường hợp ngoại lệ như với driver màn hình Nvidia, Linux buộc tất cả các driver card màn hình chạy bên ngoài nhân. Một lỗi của driver có thể làm hỏng môi trường đồ họa nhưng không làm sập cả hệ thống. Chỉ cần khởi động lại môi trường đồ họa mà không phải khởi động lại máy tính.

Linux không bị phụ thuộc vào mô hình RPC (Remote Procedure Call)

Như đã nói ở trên, Windows phụ thuộc nặng vào RPC và cho chạy nó cả khi không cần thiết. Điều đó dẫn tới những nguy cơ an ninh nghiêm trọng.

Phần lớn các chương trình Linux khi cài đặt đều mặc định tắt truy cập mạng. Ví dụ cơ sở dữ liệu MySQL thường được cài sao cho nó không nghe các lệnh từ mạng. Nếu bạn xây dựng một website dùng Apache và MySQL chạy trên cùng một máy thì Apache sẽ liên hệ trực tiếp với MySQL và MySQL sẽ không liên hệ gì với mạng. (Ngược lại Microsoft SQL Server luôn luôn lắng nghe mạng dù có cần hay không). Nếu muốn MySQL nghe các lệnh đến từ mạng thì phải thiết lập điều đó bằng tay, rồi xác định user và máy được phép truy cập đến MySQL.

Ngay cả khi các ứng dụng Linux mặc định sử dụng mạng, chúng cũng thường được cấu hình để chỉ trả lời máy cục bộ, bỏ qua các yêu cầu của các máy khác trong mạng.

Các máy chủ Linux là lý tưởng để quản trị từ xa

Máy chủ Linux thường có thể và nên cài như một hệ “không đầu – headless” (không có màn hình) và quản trị từ xa (truy cập máy chủ từ một máy khác trong mạng, không dùng bàn phím, màn hình nối trực tiếp vào máy chủ – ND). Đó là kiểu cài lý tưởng cho máy chủ vì quản trị từ xa không có những nguy cơ mà quản trị tại chỗ có thể gặp.

Ví dụ, bạn có thể log in vào máy để bàn của bạn như một user thường với quyền hạn hạn chế rồi quản trị máy chủ Linux qua một giao diện quản trị web (Admininstration consol). Ngay cả những lỗi an ninh nguy hiểm nhất của trình duyệt web cũng chỉ ảnh hưởng đến user thường mà bạn đã dùng log in vào máy để bàn của bạn, không ảnh hưởng gì đến máy chủ.

(webmin là một trong những giao diện quản trị web quản trị được khá nhiều thứ trên máy chủ – ND)

Trong các phần tiếp theo, tác giả xây dựng một hệ thống các tiêu chí đánh giá lỗi bảo mật, áp dụng cụ thể vào 40 lỗi được công bố gần thời điểm viết báo cáo và kết quả tìm kiếm trong cơ sở dữ liệu lỗi của CERT. Kết quả tóm tắt đã được nêu ở phần đầu báo cáo.

Chi tiết đọc thêm tại đây.

Mạng 1 triệu máy tính chạy trong một căn phòng!

Một mạng máy tính gồm 1 triệu cái chạy đồng thời trong một căn phòng! Và sắp tới là 10 triệu cái.
Không, đây không phải phim viễn tưởng.
Cuộc tấn công các site Hàn quốc và Mỹ vừa qua bằng một đội quân 160 000 máy tính âm binh (botnet) đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu an ninh mạng đã tiến hành tạo 1 triệu máy tính ảo chạy trên một siêu máy tính, mỗi máy ảo sẽ chạy hệ điều hành tối thiểu là nhân Linux (Linux kernel) để mô phỏng hành vi của một mạng 1 triệu máy tính ma. Nếu dùng Windows, chỉ tính riêng tiền bản quyền cứ cho là 10 USD/1 máy đi, thí nghiệm này sẽ mất 10 triệu USD. Trong các siêu máy tính thì Linux là hệ điều hành thống trị. Và cũng chỉ có Linux với phần nhân (kernel) rất nhỏ nhưng vẫn chạy độc lập được với một số chức năng cần thiết mới có thể tham gia thí nghiệm này (bản Tiny Linux khoảng 13 MB, kernel khoảng vài MB). Về ảo hóa trong môi trường máy tính đã giới thiệu tại đây.
Dưới đây là bản lược dịch bản tin gốc tại đây
07/31/09 4:00 AM PT

Các nhà nghiên cứu tai phòng thí nghiệm quốc gia Sandia đã tạo nền móng cho một thí nghiệm mô phỏng chưa từng có một mạng máy tính ma cỡ lớn khi họ cho khởi động 1 triệu máy tính ảo chạy nhân Linux (trên một siêu máy tính).

Các nhà khoa học máy tính tại phòng thí nghiệm Sandia: Ron Minnich (phía trước) và Don Rudish (phía sau)

Hiện họ đang chờ chế tạo xong một siêu máy tính mới mạnh hơn và nhanh hơn tại phòng thí nghiệm Livemore, California. Trên đó, họ hy vọng sẽ chạy được 10 triệu máy ảo có cả các Web server và mail server cũng như mô phỏng các user kích vào các email chứa virus rồi biến thành âm binh như thế nào.

Cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Ví dụ thiết bị chuyển mạch (switch) của siêu máy tính không thể nhận biết được 1 triệu địa chỉ MAC. Sau khi 100′000 máy ảo khởi động, mạng bò lê bò càng. Và đọc được 1 triệu dòng trong một file log mất vô khối thời gian.

Hiện nay thì các nhà nghiên cứu chưa biết gì nhiều về hoạt động của một mạng máy tính ma (botnet). Vì vậy họ dự kiến chờ siêu máy tính Red Sky sắp chế tạo xong để tạo nên một mạng máy ảo 10 triệu cái, đưa phần mềm botnet vào và xem điều gì sẽ xảy ra.

Các nhà nghiên cứu khác cũng đã mô phỏng hành vi của botnet trên máy tính, nhưng ít người biết nó thực sự hoạt động như thế nào. Thí nghiệm ở Sandia khác hẳn vì nó gần với thực tế hơn.

Lại mấy người khổng lồ chuyển sang dùng Linux

Hệ thống phối hợp hỗ trợ chiến đấu của quân đội Mỹ (the Global Combat Support System-Joint GCSS-J)

Cục Hệ thống thông tin Quốc phòng của quân đội Mỹ (The Defense Information Systems Agency DISA) chịu trách nhiệm về lập kế hoạch, phát triển, thử nghiệm, triển khai và hỗ trợ các hệ thống thông tin, viễn thông chỉ huy và điều khiển phục vụ cho Tổng thống, Phó tổng thống, bộ trưởng Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng liên quân, các tư lệnh chiến trường và các đơn vị khác của quân đội Mỹ trong mọi điều kiện thời chiến cũng như thời bình.

Hệ thống phối hợp hỗ trợ chiến đấu GCSS-J do DISA phát triển là hệ thống tích hợp các nguồn thông tin hậu cần (logistics information) khác nhau. GCSS-J có khả năng cung cấp cho các tư lệnh chiến trường thông tin theo thời gian thực về vận tải, tiếp liệu, quân lực, bảo trì, y tế, tài chính và các hệ thống kỹ thuật phục vụ chiến đấu. Chi tiết xem tại đây.

DISA đã chọn MetaMatrix Enterprise Data Services Platform của Red Hat làm hệ thống nền cho GCSS-J. Đây là một giải pháp của Red Hat cung cấp dịch vụ truy cập các nguồn dữ liệu đa dạng khác nhau cho phần mềm xây dựng theo kiến trúc hướng dịch vụ.

Hãng bán lẻ khổng lồ Gap Inc.

Gap Inc. là công ty đứng thứ 144 trong danh sách Fortune 500 năm 2007, sử dụng 150′000 nhân công tại 3100 chi nhánh trên toàn cầu. Để tân trang lại hạ tầng công nghệ thông tin, công ty đã tiến hành xem xét, thử nghiệm cả Unix, Windows và Linux. Kết quả Linux Red Hat được chọn như hệ điều hành nền cho toàn hệ thống.

Tuy nhiên, để quản lý user trong hệ thống toàn cầu của mình, Gap dùng Active Directory của Microsoft (giống cách làm của ngân hàng HSBC, xem tại đây). Likewise, một giải pháp nguồn mở khác cho phép các user trên máy Linux, Unix,.. xác thực trong Active Directory, đã được sử dụng làm cầu nối giữa các hệ điều hành này.

Như vậy cùng với WallMart, hãng bán lẻ lớn nhất và cũng là hãng đứng đầu Forune 500 2008 dùng SUSE Linux Enterprise (xem thêm tại đây) lại thêm một hãng trong Fortune 500 chuyển sang dùng Linux. Thông tin thêm về các hãng trong Fortune 500 dùng Linux xem tại đây. SUSE Linux Enterprise còn có một khách hàng lớn trong các hãng bán lẻ là Office Depot (xem tại đây)

Hãng sản xuất thép Posco

Posco là một trong những hãng sản xuất thép lớn nhất thế giới (30 triệu tấn/năm) có hơn 20′000 công nhân. Trước đây, hãng dùng các máy chủ Unix lớn và đắt tiền. Trong giai đoạn từ 2004-2009, hãng quyết định thay thế các máy chủ đã cũ đó bằng các máy chủ thương mại thông thường của IBM và HP. Hệ điều hành được chọn cho các máy chủ mới là Red Hat Enterprise Linux.

Còn nữa, nhưng tạm thế đã.

Điểm tin PMNM (22/7/2009)

Microsoft liên tiếp nguồn mở hóa một số phần mềm

Thứ hai, 20/7 vừa qua, Microsoft đã nguồn mở hóa 20 000 dòng mã lệnh của ba Linux driver thiết bị của hãng cho cộng đồng phát triển nhân Linux. Các driver này sẽ được tích hợp vào Linux kernel 2.6.32 giúp cho Linux OS chạy nhanh hơn trong máy ảo Hyper-V Server 2008 hoặc Windows Server 2008 R2 Hyper-V. Các driver này được nguồn mở hóa theo giấy phép GPL2 và đây là lần đầu Microsoft dùng giấy phép này.

Sam Ramji, giám đốc chiến lược công nghệ nguồn mở của Microsoft gọi hành động trên là cam kết quan trọng nhất chưa từng có của công ty đối với Linux và phần mềm nguồn mở.

Động thái này tạo nên hy vọng là các công ty khác cũng theo gương Microsoft nguồn mở hóa các driver của họ.

Tiếp theo, thứ ba 21/7, Microsoft lại nguồn mở hóa tiếp Live Services Plug-in cho phần mềm quản lý giảng dạy nguồn mở Moodle. Moodle dùng tổ chức các website học online trên Internet và hiện có khoảng 30 triệu người dùng.

Adobe nguồn mở hóa các công cụ phát triển ứng dụng cho Flash.

Adobe đang lập kế hoạch để nguồn mở hóa hai sản phẩm : OSMF (Open Source Media Framework) và Text Layout Framework. OSMF cho phép xây dựng các trình chơi multimedia (media player) trên nền Flash. Các cá nhân cũng có thể bổ xung các tính năng mới vào Flash Player. Text Layout Framework cho phép người dùng “làm mọi thứ mình muốn với text để cho nó thực sự cool hơn trên nền Flash”.

Đây được đánh giá là một đòn tấn công của Adobe nhằm giành ưu thế cho Flash trước đối thủ cạnh tranh là Microsoft Silverlight.

Trước đây, Adobe đã nguồn mở hóa một số công nghệ Flash: Flex và bộ dịch, máy ảo Tamarin.

Bang Connecticut xây dựng hệ thống thông  tin y tế dựa trên một phần nguồn mở.

Công ty dịch vụ y tế Hartford Healthcare tuyên bố sẽ tổ hợp công nghệ kết nối nguồn mở của Misys với hệ thống lưu trữ hồ sơ y tế Allscripts để tạo nên hệ thống Transforming Healthcare In Connecticut Communities (THICC), một hệ thống kết nối các bệnh viện, phòng khám và các cơ sở y tế khác trong toàn bang Connecticut.

THICC được kết nối vào hệ thống Thông tin Y tế Quốc gia, xây dựng trên nền phần mềm của Sun.

Các module điều khiển tàu vũ trụ Apollo 11 được nguồn mở hóa

Các phần mềm đã giúp con người đổ bộ lên Mặt trăng đã được trao cho cộng đồng nguồn mở để kỷ niệm 40 năm sứ mệnh Apollo 11.

Apollo 11 command module is released to open source

Chương trình Apollo 11 gồm có hai tàu vũ trụ: module chỉ huy ( Command Module (CM)) dùng đưa ba nhà du hành vũ trụ lên mặt trăng rồi quay về và module mặt trăng ( Lunar Module (LM), dùng chở hai nhà du hành vũ trụ đổ bộ xuống mặt trăng.

Trên mỗi con tàu trên có một máy tính  Apollo guidance computer (AGC) . Phần mềm khác với ngày nay được ghi trên băng đục lỗ và bìa đục lỗ.

Các nhà lập trình của dự án AGC ảo scan các băng và bìa đục lỗ được lưu tại bảo tàng MIT rồi tạo nên một phần mềm mô phỏng AGC, phần mềm này có thể chạy trên Linux. Windows XP và Mac OS.

Mã nguồn hiện được đặt tại Google Code. Nó tái tạo lại bảng điều khiển mà các nhà du hành vũ trụ đã dùng để bay và hạ cánh xuống mặt trăng.

//

Ngân hàng Morgan Stanley tăng cường sử dụng Linux

Morgan Stanley Growing Its Use of Linux

By Penny Crosman
April 06, 2009

Nguồn: Wallstreet&Technology.

Sáng nay, tại hội nghị Điện toán Linux cao tốc phố Wall, Anthony Golia, giám đốc điều hành Điện toán doanh nghiệp của ngân hàng Morgan Stanley phát biểu rằng ngân hàng của ông đã dùng Linux phổ biến từ năm 2001.

“Chúng tôi dùng Linux vì nó chạy rất tốt trên các máy tính thương mại, rẻ tiền. Điều đó hiện nay vẫn tiếp tục đúng và tiếp tục là lý do để chúng tôi dùng Linux.”

[Máy tính thương mại - commodity hardware - là những máy tính phổ thông (kể cả máy chủ) do các hãng máy tính sản xuất hàng loạt bán ra thị trường. Với các phần mềm tài chính ngân hàng, nếu chạy trên các hệ điều hành khác có thể phải dùng các loại máy chủ lớn (mainframe,...), chuyên dụng, sản xuất đơn chiếc nên giá sẽ đắt. Một trong những ưu điểm của Linux chạy trên các máy chủ là yêu cầu cấu hình thấp - ND]

Golia nói Morgan Stanley thích hệ điều hành Linux nguồn mở vì, thứ nhất, khi có một lỗi xuất hiện, có nhiều nhóm khác nhau suy nghĩ tìm cách khắc phục lỗi. Thứ hai, lịch sử quá trình lập trình Linux được lưu lại trên Internet và có thể tham khảo được. Thứ ba, “Morgan Stanley không phải là một công ty phần mềm, nhưng lĩnh vực do tôi phụ trách là phần mềm, chúng tôi đã và đang đóng góp vào việc sửa chữa lỗi và tăng cường tính năng của phần mềm. Điều đó mang lại cho chúng tôi những tình cảm nồng ấm (với Linux)”

Trước năm 2001, Morgan Stanley dùng hỗn hợp nhiều hệ điều hành khác nhau. Ngày nay, họ vẫn còn một môi trường điện toán hỗn hợp trong đó có một mảng lớn các hệ thống chạy Linux, ngay cả để chạy các ứng dụng tối quan trọng (mission-critical applications). RedHat được dùng chính, nhưng hãng vẫn thường xuyên xem xét các hệ Linux khác như Suse. Morgan Stanley đang tìm cách sử dụng Linux để chạy các ứng dụng cao tốc.

Morgan Stanley (NYSEMS) là một ngân hàng cung cấp các dịch vụ tài chính  (financial services) toàn cầu có trụ sở chính tại New York City, New York, United States.

Khách hàng gồm các công ty, chính phủ, các tổ chức tài chính và các cá nhân. Morgan Stanley hoạt động tại 33 nước trên thế giới với khoảng 600 chi nhánh và tổng nhân viên 45.000 người. Ngân hàng hiện đang quản lý 779 tỷ USD tài sản.

(Nguồn: Wikipedia).

Đảng đối lập Ấn độ tuyên bố ủng hộ PMNM

Indian Opposition Party Backs Open Source Software (PC World)

Trước cuộc bầu cử Quốc hội sắp tới, đảng đối lập Bharatiya Janata (BJP) nói nếu họ lên nắm chính quyền, chính phủ sẽ chuẩn hoá theo các tiêu chuẩn mở và phần mềm nguồn mở.

(Ấn độ hiện có 1,2 tỷ dân, đứng thứ hai sau Trung quốc – ND)

BJP là đảng lãnh đạo phe đối lập trong quốc hội Ấn hiện tại đang dùng các quảng cáo online trên website của đảng như một công cụ then chốt trong chiến dịch vận động cho cuộc bầu cử quốc hội sẽ diễn ra vào tháng tới.

Lời hứa chuẩn hoá theo phần mềm nguồn mở là một bước tách khỏi chính sách cũ của đảng: không nghiêng về PMNM hay PMNĐ mà để quyền quyết định cho từng cơ quan chính phủ.

BJP lãnh đạo đất nước từ tháng 9/1999 đến tháng 5/2004. Chính phủ tiếp theo của liên minh Tiến bộ Thống nhất hiện đang cầm quyền cũng tiếp tục chính sách không can thiệp vào việc chọn lựa phần mềm nguồn mở hay đóng.

Tuy nhiên, một số chính quyền bang đã có một số chương trình về PMNM.

Trong tài liệu “Tầm nhìn Công nghệ Thông tin” của BJP (BJP’s IT Vision) vừa công bố cũng có một đề xuất cấp cho mỗi công dân Ấn độ một Chứng minh thư quốc gia đa dụng có một mã số công dân duy nhất. Chứng minh thư này sẽ thay thế mọi hệ thống chứng minh thư khác.

BJP cũng có kế hoạch bán các máy tính xách tay giá 200USD cho 10 triệu sinh viên, cho vay không lãi với các sinh viên không đủ tiền trả ngay.

BJP cũng hứa sẽ tạo 12 triệu việc làm outsourcing cho các vùng quê Ấn độ. Sự bùng nổ các công việc outsourcing tại Ấn chưa lan tới các vùng nông thôn, do đó tạo nên làn sóng nhập cư lớn người từ quê ra thành thị.

Bộ Quốc phòng Mỹ nguồn mở hoá một số phần mềm.

US Defense Dept. goes public with some open source plans

Gỡ bỏ những che dấu xung quanh các hoạt động nguồn mở, bộ Quốc phòng Mỹ công bố kế hoạch chia sẻ mã nguồn của 50 phần mềm ứng dụng.

By Jacqueline Emigh | Published March 17, 2009, 2:38 PM

Như một bước tiếp theo trong ứng dụng Phần mềm Nguồn mở (PMNM), bộ Quốc phòng Mỹ đã ký với viện Phần mềm nguồn mở một hợp đồng hợp tác Nghiên cứu và Phát triển. Theo hợp đồng này, trên 50 phần mềm ứng dụng dành cho chính quyền liên bang sẽ được phân phối công khai theo giấy phép nguồn mở.

Trong buổi giới thiệu tại trường đại học John Hopkins, các quan chức của bộ Quốc phòng nói rằng theo hợp đồng này các cơ quan chính quyền liên bang khác (và cả chính quyền bang cũng như công chúng) có thể sử dụng lại các mã nguồn bộ phần mềm Hệ thống thông tin quản lý cơ quan (Corporate Management Information System – CMIS) do Cục Công nghệ Thông tin Quốc phòng viết.

Bộ phần mềm được nguồn mở hoá này gồm hơn 50 phần mềm ứng dụng về quản lý nhân sự, huấn luyện, an ninh, mua sắm v.v… đang được các nhân viên bộ Quốc phòng Mỹ sử dụng trên toàn thế giới.

Tuy nhiên dù bộ Quốc phòng đã nguồn mở hoá bộ phần mềm này theo yêu cầu của các cơ quan chính phủ khác, bước đi này cũng không phải cao thượng 100%.

“Chúng tôi chọn dạng hợp đồng này và mô hình PMNM để kích động sự tham gia của các cơ quan chính quyền khác, của giới hàn lâm, ngành công nghiệp phần mềm và cộng đồng nguồn mở vào việc cải tiến hệ thống phần mềm của Cục Công nghệ Thông tin Quốc phòng. Chúng tôi tin tưởng rằng tất cả các bên liên quan đều có lợi,” Jack Penkoske, giám đốc nhân sự và an ninh của Cục Công nghệ Thông tin Quốc phòng phát biểu tại lễ chuyển giao công nghệ nói trên.

Tranh cãi chính trị về phần mềm nguồn mở

Phần mềm nguồn mở tại các nước tư bản chủ nghĩa hàng đầu hiện đang là một chủ đề chính trị:

Tại Mỹ, nơi chính quyền Obama ngay từ tuần đầu làm việc đã đặt hàng một báo cáo về PMNM, McNealy, chủ tịch của hãng Sun Microsystems, tác giả của báo cáo cho biết “Một số quan chức liên bang xem PMNM như phản-tư bản chủ nghĩa (anti-capitalist) và cách suy nghĩ đó không phải là cá biệt, bất thường”. Đáp lại, McNealy lập luận rằng: ” Nếu suy nghĩ như vậy thì phần mềm nguồn đóng tương đương với một nền kinh tế chỉ huy bởi những nhà độc tài (Bill Gate chẳng hạn – zxc232), trong khi phần mềm nguồn mở có mọi sự lựa chọn là nền kinh tế thị trường với nhiều người chơi cạnh tranh nhau”

Tại Nga, đáp ứng những vận động gần đây về PMNM, tổng thống Nga Medvedev khẳng định sự ủng hộ với PMNM, hiện đang được triển khai đại trà trong giáo dục, và yêu cầu phải tiếp tục tiến xa hơn xây dựng PMNM của Nga. (bản tiếng Ngabản dịch tiếng Anh)

Tại Anh, mới đây (27/1) đảng Bảo thủ đối lập lên án chính phủ của đảng Lao động đương quyền lãng phí “hàng tỷ bảng Anh” vào “những dự án tin học thảm họa – catastrophic IT projects” vì đã không dùng phần mềm nguồn mở. Báo cáo của đảng Bảo thủ cho rằng nếu dùng phần mềm nguồn mở trong chính phủ có thể tiết kiệm mỗi năm 600 triệu bảng tiền thuế.

Theo đảng Bảo thủ, dùng PMNM không chỉ tiết kiệm tiền. Nó còn giúp hiện đại hóa chính phủ, đổi mới khu vực công và cải tiến các dịch vụ công, giải phóng chính phủ khỏi phụ thuộc vào tình trạng chỉ có nguồn cung cấp phần mềm độc quyền. Đảng Bảo thủ cũng kêu gọi thiết lập một chuẩn dữ liệu chính phủ mới và chia nhỏ các dự án IT lớn thành các mô đun thành phần nhỏ hơn. Đảng này lý luận rằng các hợp đồng phần mềm dưới 100 triệu bảng sẽ ít bị rủi ro thất bại hơn, giảm chi phí vì có nhiều công ty hơn có thể tham gia thầu và tăng tính cạnh tranh của các hợp đồng thầu.

Ngay lập tức, ngày 24/2 chính phủ Anh công bố “Kế hoạch hành động của chính phủ về PMNM, chuẩn mở và tái sử dụng”. Bản kế hoạch này gây nhiều bất ngờ với cá nhân tôi vì những khái niệm mới, những đổi thay tương đối mạnh bạo, tiếp thu hầu hết những phê phán của phe đối lập.

Bản phỏng dịch cùng những lời “bình loạn” của người dịch có thể xem online tại đây hoặc tải file “UK opensource action plan.pdf” tại đây.

Chính phủ Anh hậu thuẫn phần mềm nguồn mở

Computer keyboard

Open source software allows users to read and alter code

BBC News 15:13 GMT, Wednesday, 25 February 2009.

Chính phủ Anh tuyên bố sẽ đẩy nhanh việc dùng phần mềm nguồn mở trong các dịch vụ công.

(Toàn văn kế hoạch hành động về PMNM của chính phủ Anh xem tại đây ., bản dịch tại đây. Trong kế hoạch này, chính phủ Anh nói rất rõ ràng, dứt khoát, với những tiêu chí cụ thể là chính phủ sẽ dùng PMNM ở những nơi mà nó xứng đáng).

Tom Watson MP, bộ trưởng chịu trách nhiệm về cam kết số (minister for digital engagement) nói phần phần mêm nguồn mở sẽ ở trong một sân chơi bình đẳng với các phần mềm bản quyền như Windows.

Phần mềm nguồn mở sẽ được chấp nhận “khi nó tạo ra giá trị tốt nhất xứng với chi phí”, bộ trưởng nói.

Ông cũng nói thêm rằng các dịch vụ công của chính phủ nên tránh “bị trói vào các phần mềm bản quyền” ở nơi nào có thể.

Giấy phép sử dụng các phần mềm nguồn mở nói chung là miễn phí và tuân thủ các chuẩn mở, có thể thay đổi mã nguồn của phần mềm mà không sợ chà đạp lên quyền sở hữu trí tuệ hoặc bản quyền.

Theo một số người trong nền công nghiệp phần mềm nguồn mở, chuyển ra khỏi các tiêu chuẩn nguồn đóng có thể tiết kiệm cho chính phủ 600 triệu bảng mỗi năm.

Simon Phipps, giám đốc PMNM của hãng Sun Microsystems nói lập trường của chính phủ Anh là một phần trong “làn sóng toàn cầu” đưa phần mềm nguồn mở vào quản lý nhà nước.

“Chúng ta lãng phí tiền bạc cho các phần mềm bản quyền để mua giấy phép và những hứa hẹn nâng cấp mà không phải cho các giá trị cần đến” ông nói.

Phipps nói các trường học, các bộ và các cơ quan cung cấp dịch vụ công nên có “tự do tối hậu” để quyết định có trả phí hỗ trợ và đào tạo khi dùng phần mềm nguồn mở hay không.

Kế hoạch hành động của chính phủ cho thấy làn sóng phần mềm nguồn mở đang được khai triển trong những lĩnh vực như ứng dụng văn phòng (soạn văn bản và bảng tính), quản lý hồ sơ và hạ tầng cơ sở dữ liệu, xương sống của nhiều hệ thống IT lớn.

‘Nhiều răng hơn’

Steve Shine, phó chủ tịch châu Âu của Ingres, một công ty cung cấp dịch vụ hỗ trợ phần mềm nguồn mở nói kế hoạch hành động của chính phủ có “nhiều răng” hơn chính sách đang được chấp nhận ở các nước khác vì kế hoạch gắn chặt với các chính sách quy định việc mua phần mềm mới.

Shine cũng nói việc chuyển dịch sang phần mềm nguồn mở một phần do nhiều những thất bại IT tầm cao gần đây liên quan đến việc dùng phần mềm bản quyền.

“Phần mềm nguồn mở giúp tránh được nhiều chi phí ẩn của phần mềm bản quyền như việc phải trả thêm phí sử dụng nếu muốn dịch chuyển một bộ phận phần mềm từ chỗ này sang chỗ khác. Điều đó là không tưởng tượng nổi trong thế giới nguồn mở.”

Khi công bố kế hoạch hành động về các chuẩn mở và phần mềm nguồn mở, chính phủ nói sẽ:

  • Đảm bảo rằng chính phủ chấp nhận các chuẩn mở và sử dụng các chuẩn đó để giao tiếp với các công dân và doanh nghiệp đã dùng các giải pháp nguồn mở.
  • Đảm bảo rằng các giải pháp nguồn mở sẽ được xem xét một cách thích đáng và khi nó tỏ ra  tốt hơn sẽ được chọn dùng trong chính phủ.
  • Củng cố kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng trong chính phủ cũng như trong các nhà cung cấp để dùng được phần mềm nguồn mở đạt các lợi thế lớn nhất.
  • Tích hợp văn hóa chia sẻ nguồn mở, sử dụng lại nhiều lần và hợp tác phát triển vào các cơ quan chính phủ và các nhà cung cấp.
  • Đảm bảo rằng các nhà tích hợp hệ thống và các nhà cung cấp phần mềm bản quyền phải chứng minh được tính linh hoạt và tính sử dụng lại của các giải pháp, sản phẩm của họ như vốn có trong các sản phẩm nguồn mở.

Các cơ quan chính phủ được yêu cầu dùng phần mềm nguồn mở khi “không có sai khác đáng kể về tổng chi phí giữa phần mềm nguồn mở và nguồn đóng” do “tính linh hoạt vốn có” của phần mềm nguồn mở.

Sự phản công được dự tính trước

Các ông Phipps và Shine nói họ chờ đợi sự phản công từ các hãng phần mềm nguồn đóng.

“Tôi tin chắc rằng có liên lạc giữa các lãnh đạo cao cấp chính phủ và các hãng phần mềm nguồn đóng lớn,” Shine nói.

Phipps nói thêm: “Về ngắn hạn, các nhà cung cấp phần mềm nguồn đóng sẽ giảm giá, làm mọi chuyện để giá có vẻ hạ đi. Nhưng giá trị thật sự của phần mềm nguồn mở là ở tính linh hoạt mới mà người dùng có được”

Ông nói thêm rằng việc chấp nhận rộng rãi phần mềm nguồn mở trong các dịch vụ công cũng sẽ có hiệu ứng gây sốc trong người dùng bình thường.

Tin ứng dụng PMNM trong quân đội Mỹ và Pháp

Tháng 5/2008, công ty tư vấn nổi tiếng Jane’s Information Group công bố bản báo cáo nghiên cứu “Phần mềm nguồn mở trong thị trường quân sự” trong đó có cả phần nghiên cứu về thị trường PMNM nói chung, khá hay. Toàn văn báo cáo này có thể tải về tại đây. Tháng 7/2008, Sun Microsystems cũng công bố bản báo cáo “Đánh giá phần mềm nguồn mở dành cho bộ Quốc phòng”, toàn văn tải về tại đây.

Dưới đây lược dịch vài tin mới nhất về tình hình ứng dụng PMNM của quân đội Mỹ và Pháp trên các trang mạng khác.

Bộ Quốc phòng Mỹ khai trương website nguồn mở Forge.mil

Department of Defense launches open source site Forge.mil

Bộ Quốc phòng Mỹ vừa khai trương website Forge.mil, một site quản lý các dự án phần mềm nguồn mở dành cho quân sự. Theo mô hình site SourgeForge, site mới được tạo nên để các cơ quan chính phủ dễ dàng hợp tác với nhau, tăng tốc phát triển các dự án nguồn mở dành cho quân sự. Việc này thêm một bước chứng tỏ sự cam kết ngày càng tăng của giới quân sự với PMNM.

Bộ Quốc phòng là một cơ quan đề xướng mô hình phát triển mở và sử dụng nhiều PMNM trong quân sự. Nhằm thúc đẩy việc ứng dụng PMNM, năm 2006 bộ QP đã công bố  Lộ trình phát triển Công nghệ mở. Trong văn bản đó nêu một loạt lý do nên dùng PMNM trong quản lý nhà nước, bao gồm tránh bị phụ thuộc vào nhà cung cấp, tăng tính linh hoạt, tạo tính tương tác lớn hơn và giảm chi phí IT.

Một bước tiến lớn đã diễn ra năm ngoái khi trong dự luật ngân sách quốc phòng hàng năm khyến khích sử dụng các giải pháp PMNM trong một số lĩnh vực như dịch vụ y tế cho các cựu chiến binh và các loại máy bay không người lái. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, PMNM chính thức có mặt trong một dự luật Quốc phòng.

Việc khai trương website chính thức lưu giữ các dự án nguồn mở là một bước tiến tiếp theo của bộ QP, chứng tỏ sự cam kết của bộ trong việc đẩy mạnh phát triển PMNM. Các mã nguồn công bố trên site này công khai cho mọi người xem nhưng chỉ các nhà lập trình của chính phủ mới có thể gửi mã lên và sửa đổi.

Một tin khác về ứng dụng PMNM trong quân đội Mỹ xem ở đây.

Bộ Quốc phòng Pháp sẽ ưu tiên PMNM và các chuẩn mở trong các dự án IT quân sự.

May 28, 2008 10:35 AM

Mục tiêu của bộ là tăng cường sử dụng PMNM.  Chỉ thị về sử dụng phần mềm trong bộ do Cục Công nghệ Thông tin ban hành  tháng 3/2008 nêu rõ: “Trước mọi dự án mua sắm hoặc tự phát triển phần mềm, phải chỉ ra được có giải pháp PMNM thay thế hoặc tương đương nào không”

Nếu chức năng, chi phí và rủi ro là tương đương với phần mềm nguồn đóng hoặc phần mềm tự viết, PMNM sẽ được chọn, chỉ thị quy định.

“Để hỗ trợ cạnh tranh và đổi mới trong một thị trường hiện đang bị độc quyền, bộ QP sẽ đóng góp vào các dự án phát triển PMNM khi có thể”

Chuẩn mở (Open standards)

Bộ cũng sẽ ưu tiên các chuẩn phần mềm mở. “Các chuẩn mở và định dạng mở sẽ được tuân thủ trong các hệ thống IT mới và trong những thay đổi quan trọng các hệ thống đang có.”

Lược sử Linux và ngành nghiên cứu vũ trụ

Lược sử Linux và ngành nghiên cứu vũ trụ

By Richard Hillesley, 5 Jun 2008 at 12:21

Lược dịch: zxc232 (nhấn vào tên bài để đến link gốc)

Mười lăm năm trước, các nhà khoa học chỉ dùng giấy kẻ li và mực để tính toán và xử lý dữ liệu.

Cuộc cách mạng máy tính lần thứ nhất vào những năm 70, 80 đã mang lại nhiều khả năng mới. Nhưng cuộc cách mạng máy tính thứ hai diễn ra vào thập niên trước mới thật sự biến đổi công việc của hầu hết các cơ sở khoa học.

Các công nghệ mạng băng thông rộng và thiết bị lưu trữ đã tạo điều kiện lưu trữ được nhiều dữ liệu hơn. Việc thu thập dữ liệu (từ vũ trụ) đã trở nên tinh vi hơn. Các máy tính đã có thể xử lý lượng dữ liệu vài năm trước đây không hình dung nổi và có thể thực hiện các bước tính toán lặp mà chỉ mới gần đây là không thể.

Tỷ lệ chi phí/tốc độ trước đây bị hạn chế nay đã cải thiện đáng kể dưới tác dụng của định luật Moore và sự xuất hiện của phần mềm nguồn mở (PMNM). Đối với phần lớn chúng ta, điều đó không có ý nghĩa gì đáng kể. Nhưng trong thế giới khoa học, điều đó có nghĩa rằng những giới hạn của kiến thức có thể khám phá được đã được mở rộng ra đáng kể.

Một trong những đóng góp đặc biệt của PMNM vào lĩnh vực tính toán khoa học là sự ra đời của công nghệ ảo hóa và cụm máy tính (virtualisation and clustering technologies). Nhờ các công nghệ đó, một số máy tính có thể chạy vô số phiên bản máy ảo Linux và đạt tới tốc độ tính toán của một supercomputer. Những công nghệ đó bắt đầu từ dự án Beowulf do Donald Becker và Thomas Sterling khởi xướng năm 1993 “phác thảo một cụm máy tính (cluster system) từ các máy tính thông thường như một phương án rẻ tiền thay thế cho các siêu máy tính.”

Linux hấp dẫn các công ty phần cứng chuyên chế tạo các hệ thống tính toán cao tốc (High Performance Computing – HPC) một phần vì các lý do kỹ thuật: khả năng tính toán, tính module, linh hoạt, xem được mã nguồn; một phần do giấy phép sử dụng khuyến khích chia sẻ mã nguồn. Cuối cùng thì trong TOP 500 siêu máy tính, Linux là hệ điều hành chính của 439 máy (số liệu tháng 11/2008)

Vũ trụ hình bánh rán.

Cụm máy tính chạy Linux đầu tiên của dự án Beowulf do các nhà khoa học NASA và CESDIS xây dựng đặt tại Trung tâm các chuyến bay không gian Goddard ở Greenbelt, bang Maryland để giải quyết các bài toán trong dự án Khoa học Không gian và Trái đất của NASA (Earth and Space Sciences project – ESS).

Một trong những mục tiêu của dự án ESS là “xác định tính khả thi của việc dùng hàng loạt các máy tính chạy song song để giải các bài toán của cộng đồng khoa học không gian và trái đất.” Dự án Beowulf phục vụ những người sử dụng nó và là dự án đầu tiên thuộc loại này nhưng chịu thách thức lớn vì các sản phẩm công nghệ thương mại mà nó sử dụng không phải cái nào cũng nguồn mở thật sự.

Những công nghệ nói trên (ảo hóa và cụm máy tính) đã mở rộng khả năng cho các nhà khoa học dành cả đời mình để chạy các mô hình mô phỏng những sự kiện ở biên giới vũ trụ của chúng ta. Những công nghệ đó cũng đã chứng tỏ có hiệu quả tương đương với những hệ thống máy tính thương mại chuyên môn hóa có khả năng toán học và/hoặc khả năng phân tích cực lớn.

Một trong những dự án như vậy là dự án COSMOS do Stephen Hawking lãnh đạo. Hawking là giáo sư toán học của đại học tổng hợp Cambridge, có lẽ là nhà khoa học được thừa nhận nhất thế giới sau Einstein, nổi tiếng với những người thường vì là tác giả cuốn Lược sử thời gian, một trong những cuốn sách bán chạy nhất mà nhiều người có nhưng ít người đọc được và cũng nổi tiếng vì những thành tựu mà ông đạt được đối mặt với những bất hạnh cá nhân khó tưởng tượng được đối với phần lớn chúng ta.

Hawking cũng là một trong những nhà vật lý lý thuyết xuất sắc nhất, giữ cương vị nhà nghiên cứu chính của dự án COSMOS, tập hợp các nhà vũ trụ học trong cái gọi là Tổ hợp Vũ trụ học Tính toán vương quốc Anh (UK Computational Cosmology Consortium – UK CCC) có mục đích tối cao là đi tìm nguồn gốc cuộc sống, vũ trụ và mọi thứ khác dựa trên một siêu máy tính Altix chạy hệ điều hành Linux.

Khi bắt đầu dự án, Hawking tuyên bố rằng COSMOS “ sẽ cho phép chúng ta tính toán lý thuyết tiên đoán giai đoạn đầu của vũ trụ và kiểm tra lý thuyết đó với những kết quả quan sát mới nhất.” Nghiên cứu vũ trụ học về nguồn gốc sự sống và vũ trụ vẫn còn là một lĩnh vực nghiên cứu hiếm mà nước Anh đang dẫn đầu thế giới.

Sự bắt đầu của kết thúc

Dự án COSMOS tìm cách thám hiểm giới hạn của vĩnh cửu và các lý thuyết ở giới hạn hiểu biết của con người về nguồn gốc sự sống và vũ trụ, một lĩnh vực “quá nhiều lý thuyết nhưng lại không đủ dữ liệu”. Một lĩnh vực nghiên cứu then chốt của UK CCC là khảo sát khoa học nền vi sóng vũ trụ, những bức xạ dư còn lại từ vụ nổ Big Bang.

Lý thuyết Vụ nổ lớn (Big Bang) cho rằng khoảng 14 tỷ năm trước, vũ trụ nóng và cô đặc đã bùng nổ và phát ra những luồng vật chất bức xạ cực mạnh tạo nên các thiên hà rải rác và những đám mây khí lạnh có thể quan sát được từ các đài thiên văn vũ trụ hiện nay. Big Bang để lại một lớp bức xạ tràn ngập khắp vũ trụ tạo dấu vết cho các nhà vật lý tìm kiếm nguồn gốc các thiên hà và các vì sao và nguồn gốc sự phân tán vật chất trong vũ trụ.

Dự án này liên kết chặt chẽ với Cơ quan Vũ trụ châu Âu (European Space Agency) và tạo ra nhiều dữ liệu từ các thông tin thu được bởi các vệ tinh châu Âu. Các nhà nghiên cứu phát biểu ba mục tiêu chính dưới dạng đơn giản hóa thì như sau:

  • Thu thập và phân tích dữ liệu từ các nguồn khác nhau để tạo nên một bức tranh toàn cảnh vũ trụ khoảng 300.000 đến 400.000 năm sau vụ nổ Big Bang.
  • Dùng các luồng dữ liệu vũ trụ liên tục đi tới trái đất để dựng mô hình vũ trụ dựa trên các lý thuyết hiện đại về nguồn gốc sự sống, ngoại suy đến hiện tại, thử và chỉnh sửa các lý thuyết đó theo những dữ liệu đã biết, chứng minh hoặc bác bỏ các lý thuyết đó trên cơ sở các thực tế đã xác lập.
  • Theo dõi sự hình thành và biến mất của các thiên hà, xác định nguồn gốc của chúng, xác định “kích thước và hình dáng các thành phần của vũ trụ”

Năm 1989, NASA phóng vệ tinh COBE nhằm mục đích “đo lường sự khuếch tán các bức xạ hồng ngoại và vi sóng từ khi hình thành vũ trụ đến những giới hạn có thể đạt tới bởi ngành vật lý thiên văn.” Vệ tinh này mang theo ba thiết bị: máy đo phổ hồng ngoại tuyệt đối để so sánh phổ bức xạ nền vi sóng vũ trụ với hố đen, máy đo vi sóng vi sai để bắt các bức xạ vũ trụ yếu và thiết bị thực nghiệm nền hồng ngoại khuếch tán để tìm các bức xạ nền hồng ngoại vũ trụ. Theo NASA “mỗi thiết bị của COBE sẽ tạo nên một phát hiện vũ trụ học cơ bản.”

Những bức ảnh của vệ tinh COBE là những bức ảnh đầu tiên chỉ ra rằng trên phông nền vi sóng vũ trụ trơn tru có những gợn sóng nhỏ. Những gợn sóng nguyên thuỷ đó liên hệ với cấu trúc của vũ trụ, các thiên hà và các vì sao mà ta nhìn thấy hiện nay. Nhiệm vụ cơ bản của dự án COSMOS là thử tìm ra nguyên nhân của các gợn sóng đó. Các nhà vật lý kiểm định lý thuyết của họ bằng cách chạy các chương trình mô phỏng vụ nổ Big Bang rồi so sánh kết quả mô phỏng với những kết quả quan sát thực tế của COBE để kiểm tra độ chính xác của lý thuyết.

“Vũ trụ học là một ngành phát triển nhanh và có tính cạnh tranh cao, căn cứ vào các kết quả,” Hawking nói. “ Siêu máy tính của dự án COSMOS cho phép chúng ta biến các ý tưởng thành các dự đoán cụ thể đảm bảo cho các nhà vũ trụ học Anh có những đóng góp hàng đầu thế giới.” Với thời gian “Câu hỏi chúng tôi đang thử trả lời bây giờ đã chính xác hơn rất nhiều,” Tiến sỹ Paul Shellard, giám đốc dự án COSMOS cho biết.

“Mười năm trước, chúng ta có nhiều lý thuyết về vũ trụ nguyên thuỷ, nhưng hiện nay, ngành vũ trụ học trở thành một ngành khoa học có tính định lượng hơn nhiều. Chúng tôi cần phải tính được các dự đoán dựa trên lý thuyết có tính định lượng và tính chính xác có thể so sánh được với các kết quả quan sát của các vệ tinh và kính thiên văn mới nhất; bản thân các kết quả quan sát đó cũng cần có máy tính mạnh hơn nhiều để phân tích. Vì thế nên máy tính mới quan trọng đến vậy. …”

Chia sẻ bộ nhớ.

Để phân tích và xử lý hàng terabyte dữ liệu cơ bản của dự án, COSMOS dùng một siêu máy tính SGI Altix chạy Linux. Hệ thống này có bộ nhớ chung chia sẻ, tích hợp ảo hóa, ổ cứng phân cấp và phụ thuộc rất nhiều vào tài trợ từ Hội đồng Nghiên cứu. “Chúng tôi hiện đang bị quá tải,” tiến sỹ Paul Shellard cho biết, “vì vậy chúng tôi đang tìm cách kết hợp Altix với các tài nguyên nhóm – cluster resources (nghĩa là nâng cấp lên kiến trúc ICE mới nhất). Trong khi chờ đợi, chúng tôi cố gắng hợp lý hóa hạ tầng hệ thống để cho user nhiều dung lượng nhớ hơn.”

Shellard nói rằng hệ thống “đã có một ngưỡng tốc độ bộ nhớ chia sẻ hoàn toàn mới … và “sẽ cho chúng tôi khả năng kiểm định trơn tru mô hình toán học vũ trụ so với khối lượng dữ liệu khổng lồ mà các quan sát vũ trụ thu thập được.”

……

Dự án dựa vào Linux để chạy các workstations. “Ưu điểm mạnh nhất của Linux là tính mở làm cho nó có tính cạnh tranh cao (so với các hệ điều hành khác) với một cộng đồng user rộng (đặc biệt là trong lĩnh vực tính toán cao tốc) . Linux là chuẩn mặc định được chọn cho các hệ thống tính toán cao tốc.

Các phương án hệ điều hành khác là Solarix, HPUX, OSX và Windows, nhưng trong lĩnh vực tính toán cao tốc, cộng đồng người dùng các hệ điều hành đó rất nhỏ so với cộng đồng người dùng Linux do bản chất nguồn đóng của các hệ điều hành đó. Một vài hệ điều hành nói trên có thể tốt hơn Linux trong những lĩnh vực rất đặc biệt nhưng không tốt đối với cách hoạt động của dự án COSMOS: phạm vi các ứng dụng và các nhiệm vụ nghiên cứu rất rộng. Theo quan điểm của đội ngũ hỗ trợ COSMOS, không có phương án hệ điều hành nào tốt hơn Linux đối với các ứng dụng tính toán cao tốc.”

Chính phủ Mỹ có thể tiết kiệm 24 tỷ USD nếu chuyển sang các công nghệ IT mới.

Study: Federal Gov’t Can Save Billions in IT Spending (PC World)

  • Posted on Fri Feb 20, 2009 5:40PM EST

(Phỏng dịch, các đoạn in nghiêng là lời người dịch)

Một nghiên cứu chung mới công bố của MeriTalk (cộng đồng mạng chuyên về IT và chính sách công), Red Hat (công ty phần mềm nguồn mở) và DLT Solutions (công ty giá trị gia tăng cho các sản phẩm Red Hat) cho rằng chính phủ Mỹ có thể tiết kiệm được 23,6 tỷ USD trong 3 năm nếu chuyển sang dùng 3 công nghệ IT mới là: phần mềm nguồn mở (open-source software), công nghệ ảo hoá (virtualization) và công nghệ điện toán đám mây (cloud computing) hoặc công nghệ phần mềm như dịch vụ (software-as-a-service).

“Sau nhiều năm bùng nổ về ngân sách, các nhà quản lý IT của chính quyền liên bang đang đối mặt với thách thức mới: ngân sách bị co hẹp lại” bản nghiên cứu viết. “Với viễn cảnh kinh tế suy thoái và bộ máy lãnh đạo mới được bổ nhiệm, các cơ quan chính phủ bắt buộc phải làm nhiều hơn với ngân sách ít hơn.”

Các tác giả của bản nghiên cứu đã khảo sát 30 cơ quan chính phủ cấp liên bang (bộ và cơ quan ngang bộ) với giả thiết là các cơ quan đó sẽ bắt đầu áp dụng các công nghệ mới nói trên từ đầu. Thay cho việc mua các phần mềm nguồn đóng mới, dùng phần mềm nguồn mở sẽ tiết kiệm được 3,7 tỷ USD. Không mua các máy chủ mới mà dùng công nghệ ảo hoá sẽ tiết kiệm 13,3 tỷ USD. Dùng công nghệ điện toán đám mây sẽ tiết kiệm được 6,6 tỷ USD không phải mua các phần cứng và phần mềm.

Các con số trên dựa trên ngân sách liên bang và các kết quả nghiên cứu khác về tài nguyên tin học chính phủ. Tổng ngân sách dành cho IT trong ba năm 2007, 2008 và 2009 của 30 cơ quan trên là 60 tỷ USD, số tiền tiết kiệm được là 23,6 tỷ USD, 39,3% ngân sách!. Báo cáo nghiên cứu này có thể tải về từ đây.

Một ví dụ cho việc tiết kiệm nhờ dùng phần mềm nguồn mở là:

  • Không quân Mỹ tiết kiệm được 467 triệu USD.
  • Kho bạc Mỹ tiết kiệm được 251 triệu USD.
  • Bộ Cựu chiến binh Mỹ tiết kiệm được 174 triệu USD.

(trong báo cáo có bảng kê chi tiết từng bộ)

Số tiền tiết kiệm được dùng làm gì?. Báo cáo đề nghị:

  • 3,7 tỷ tiết kiệm do dùng PMNM: mua cho mỗi công chức một smartphone và laptop mới.
  • 13,3 tỷ tiết kiệm do dùng công nghệ ảo hoá: bằng toàn bộ ngân sách liên bang dành cho năng lượng trong năm tài khoá 2007.
  • 6,6 tỷ tiết kiệm do dùng điện toán đám mây/phần mềm như dịch vụ: đảm bảo lương cho 107.000 công chức trong năm 2009.

Phản ứng của Microsoft?

Nghiên cứu hình như giả thiết hơi nhiều về số tiền tiết kiệm được. Susie Adams, CTO của Microsoft Federal nói. “Nghiên cứu này đã cố đơn giản hoá một vấn đề rất phức tạp”.

Microsoft đồng ý rằng các cơ quan chính phủ có thể tiết kiệm khi dùng điện toán đám mây và ảo hoá (vì những sản phẩm này Microsoft cũng có) nhưng còn phần mềm nguồn mở thì “đó chỉ là một mô hình kinh doanh khác” (just another business model) Adam nói. “Các cơ quan nên tìm hiểu kỹ về toàn bộ chi phí trước khi quyết định dùng phần mềm nguồn mở”

“Trong thế giới hiện nay, đặc biệt là trong chính phủ, chúng ta thực sự đang thấy một môi trường hỗn hợp phần mềm nguồn mở và đóng,” Adam nói. “Chúng tôi tin rằng điều chúng ta nên làm là tạo ra những phần mềm tương tác tốt hơn trong môi trường hỗn hợp đó. Chúng tôi cam kết sẽ làm như vậy.”

Qua những phát biểu trên có thể thấy:

  • Microsoft thừa nhận rằng PMNM hiện đang được sử dụng, nhất là trong hệ thống IT của chính phủ, đến mức tạo nên một môi trường IT hỗn hợp phải tính đến, không thể phủ nhận được. Trang 4 của báo cáo trên cũng xác nhận rằng hiện một số cơ quan chính phủ Mỹ đang dùng PMNM. Microsoft cũng không chê tính năng của PMNM mà chỉ doạ rằng dùng nó có thể tốn đấy, không rẻ đâu.
  • Khi đã chấp nhận điều đó, Microsoft đang cố gắng để các sản phẩm của mình tương tác tốt hơn với PMNM: cung cấp các số liệu kỹ thuật về các giao thức cho các nhóm PMNM, liên kết với các công ty nguồn mở như Novell và gần đây là Red Hat để đảm bảo tính tương tác đó.

Phản ứng của các quan chức chính phủ:

Nghiên cứu này có thể còn gây nhiều tranh cãi, nhưng thông điệp lớn nhất mà nó phát ra là các cơ quan chính phủ nên tìm những phương tiện mới để tiết kiệm ngân sách IT, Peter Tseronis, phó giám đốc thông tin của bộ Năng lượng Mỹ phát biểu. Nghiên cứu này cùng với cuộc thảo luận đang diễn ra về ngân sách IT liên bang trên site MeriTalk.com cho thấy nhu cầu của các cơ quan chính phủ tìm kiếm một phương thức làm việc mới và suy nghĩ một cách chiến lược về các khoản đầu tư IT dài hạn.

Tseronis hy vọng rằng các cơ quan chính phủ sẽ làm việc phối hợp với nhau, không tạo nên những “đám mây cô lập” của riêng từng cơ quan. “Chia sẻ các dịch vụ phải là mục tiêu chính.”

Thu nhận của người dịch:

  1. PMNM đã đạt tới trình độ có thể khuyến nghị cho chính phủ Mỹ dùng đại trà được và hiện cũng đang được dùng trong một số cơ quan chính phủ. Vậy thì tại Việt nam với trình độ tổ chức, năng suất công tác, áp lực công việc, …. như hiện nay chắc chắn là cũng đáp ứng được.
  2. Ba hướng công nghệ mới nên quan tâm như đã nêu trong báo cáo. Ảo hoá trước đây đã có một bài giới thiệu trên blog này nhưng tác giả cũng không nghĩ là nó hiệu quả đến thế. Điện toán đám mây (hoặc phần mềm như dịch vụ) là một công cụ đáng chú ý để bắt buộc thống nhất hoá, tập trung hoá cải tiến các quy trình nghiệp vụ còn lung tung trong các hệ thống hiện nay.
  3. Những gợi ý nêu lên từ bài này rất đáng chú ý cho việc triển khai một hệ thống IT thống nhất, nhanh và hiệu quả trong một đơn vị có nhiều bộ phận rải rác nhiều nơi với trình độ IT khác nhau.

Vụ triển khai Linux lớn nhất, tiết kiệm nhất, độc đáo nhất trong giáo dục.

Feb. 19, 2009- Userful, một công ty Canada chuyên về thiết bị ảo hoá máy trạm Linux vừa ra thông cáo báo chí về một vụ triển khai máy tính Linux được coi là lớn nhất thế giới hiện nay. Kết hợp với công ty bán thiết bị terminal ảo ThinNetworks, Userful vừa thắng một hợp đồng triển khai 356.800 máy trạm dùng thiết bị “Userful Multiplier” cho các trường học của Brazin.

(Click for larger view of Userful Multiplier kit)

Công nghệ của Userful Multiplier bắt nguồn từ sản phẩm DiscoverStation có giá dưới $50 một máy. Phần mềm ảo hoá cho phép 10 người dùng chung một máy tính, mỗi người có một màn hình, bàn phím và chuột riêng cắm vào một USB hub. Máy tính cũng cần có thêm card màn hình..

Khi ta đang đọc thư, lướt web, …. máy tính chạy không. Kết hợp 10 người dùng chung tận dụng được công suất máy, tiết kiệm chi phí đầu tư. điện. Nhất là trong giáo dục, cường độ sử dụng máy không cao.

Phần mềm ảo hoá Userful Multiplier có thể chạy trên bất cứ hệ điều hành Linux nào. Trong dự án này, các máy tính được cài hệ điều hành Linux Educacional 2.0 do bộ Giáo dục Brazin xây dựng. Năm ngoái, hệ điều hành này bắt đầu được cài trong các phòng máy tính của các trường phục vụ cho 52 triệu học sinh Brazin. Linux Educacional dựa trên nền hệ Linux Debian, dùng môi trường đồ họa KDE 3.5, các bộ phần mềm KDE-Edu, KDE-Games và một số công cụ do bộ Giáo dục phát triển.


Linux Educacional 2.0
(Click to enlarge)

Ngoài bộ Giáo dục, Userful kết hợp với các công ty Brazin khác như ThinNetwork, công ty máy tính Positivo, Daruma và Itaultec để triển khai dự án. Pha đầu của dự án bao gồm 18.750 máy cho các trường nông thôn đã hoàn thành và đang hoạt động tốt. Pha tiếp theo sẽ triển khai trên tất cả các trường của 5.560 thị trấn, thành phố của Brazin.

Userful có thiết bị đấu nối (USB hub) của riêng công ty (xem hình ở trên), nhưng ở đây dùng thiết bị của công ty ThinNetwork thiết kế riêng cho dự án. Sau dự án này, ThinNetwork tổng cộng đã triển khai trên 800.000 máy trạm đơn giản (thin clients) và terminal chạy Linux và Windows trên khắp Brazin.

Chi phí $50 gồm tiền phần mềm ảo hoá và USB hub, không tính tiền mua màn hình, bàn phím và chuột.

Tiết kiệm chi phí và giảm lượng khí thải cacbon

So với phương án dùng toàn bộ các máy tính riêng biệt, Brazin tiết kiệm được 60% chi phí ban đầu và 80% lượng điện tiêu thụ hàng năm, giảm đáng kể chi phí quản lý và hỗ trợ. Với lượng điện tiết kiệm được sẽ giảm 170.000 tấn khí CO2 thải ra khí quyển của các nhà máy nhiệt điện hoặc tương đương với bớt được 28.000 ôtô khỏi lưu thông, Userful cho biết.

Thông tin thêm

Toàn văn thông cáo báo chí của Userful xem tại đây.

Userful Multiplier có giá bán lẻ $70 một bộ cho các trường học, và $100 cho các cơ sở thương mại. Một bản Userful Multifier miễn phí cho hai người dùng có  tại đây. Thông tin thêm về ThinNetworks xem tại đây.

Điểm tin open source (18/2/2009)

Các tin điểm dưới đây không theo một thứ tự sắp xếp nào, đọc đến đâu thấy hay thì điểm vắn tắt. Bạn đọc quan tâm có thể nhấn vào tên mục tin để đến trang gốc (và có thể dùng chức năng dịch tự động từ Anh sang Việt của Google để xem cho nhanh).

Tăng tốc hệ thống bằng cách hạn chế dùng file swap.:Swap file dùng hỗ trợ cho RAM khi không đủ bộ nhớ nhưng cũng làm chậm hệ thống vì ổ cứng vốn chậm. Trong nhân Linux có một thông số điều khiển mức độ sử dụng swap file là swapiness. swapiness=0 nghĩa là swap file chỉ được dùng khi thật sự cần, swapiness=100 thì swap file luôn được dùng đến. Kiểm tra trị số đặt sẵn của swapiness bằng lệnh cat /proc/sys/vm/swappiness.

Mở System Monitor, xem tab System Load. Nếu Physical Memory còn dư thì có thể mở file /etc/sysctl.conf bằng quyền root rồi thêm dòng vm.swappiness = x vào (x tùy chọn từ 0 trở lên) rồi restart lại máy.

Cuba xây dựng hệ Linux riêng.: Cuba vừa công bố bản Linux riêng của mình có tên gọi là Nova dựa trên hệ Linux Gentoo. Nên nhớ rằng tại Cuba chỉ mới gần đây máy tính mới được bán rộng rãi.

Moonlight đưa Silverlight lên Linux.: Silverlight là công nghệ độc quyền của Microsoft dành để chạy multimedia (video, music, hoạt hình) trên Web tương tự như Adobe Flash. (mà ứng dụng điển hình là video You Tube). Vì thế Silverlight chỉ cài được vào các trình duyệt chạy trên Windows. Novell, công ty đối tác nguồn mở của Microsoft, mới đây đã công bố bản Moonlight 1.0 dùng cùng công nghệ như Silverlight 1.0 nhưng chạy trên Linux.

Site Media của báo Thanh niên dùng Silverlight 2.0. Vì vậy trước đây nó không xem được trên các máy Linux và hiện nay cũng vậy vì bản Moonlight mới có 1.0. Đợi thêm chút nữa.

Các ứng dụng nguồn mở gần đây dược đưa vào osalt.com: osalt.com là site cho phép tìm kiếm các phần mềm nguồn mở thay thế cho các phần mềm nguồn đóng (osalt – open source as alternative). Mới đây, các phần mềm nguồn mở sau được bổ xung vào danh sách phần mềm nguồn mở của site:

PostBooks: PostBooks là một gói phần mềm quản lý doanh nghiệp nguồn mở đầy đủ gồm các mođun kế toán, quản lý quan hệ khách hàng (CRM) và quản lý nguồn lực doanh nghiệp (ERP).

Typo3: đây là một phần mềm quản lý nội dung (content management system – CMS) cùng loại như Joomla!, Drupal, Mambo,…(search “linux content management system” để tìm thêm). Thường các hệ CMS nhiều tính năng thì khó sử dụng, Typo3 được nhận xét là cạnh tranh được với các hệ CMS thương mại và dễ dùng.

Ứng dụng PMNM trong các tổ chức.: Tóm tắt một báo cáo nghiên cứu gần đây về tình hình ứng dụng PMNM trong các tổ chức.

Khả năng của Zimbra: trường đại học tổng hợp Pensylvania đã chuyển 13.000 user từ hệ thống email nguồn mở cũ sang Zimbra trong vòng 2 ngày. Zimbra là một hệ thống email nguồn mở tương đương với Exchange-Outlook mới đây được Yahoo mua lại. Tin này cho biết về khả năng áp dụng Zimbra, còn báo cáo chi tiết về việc này do công ty tư vấn Gartner lập thì phải mua (95$).

375.000 máy tính dùng chung bằng PMNM: Userful Corp., một công ty Linux Canađa vừa ký được một hợp đồng cung cấp Multiplier, một PMNM chia sẻ máy tính, cho 375.000 máy tính trong các trường học trên khắp đất nước Brazin. Multiplier là phần mềm điều khiển cài trên một máy tính dùng hệ điều hành nguồn mở cho phép 10 user dùng chung máy tính đó, mỗi user có màn hình, bàn phím, chuột riêng (Rất tiết kiệm và hiệu quả! Ngành giáo dục Việt nam nên quan tâm đến vấn đề này).

PMNM trong luật kích thích kinh tế Mỹ 787 tỷ USD: sau khi được hai viện Quốc hội Mỹ thông qua, tổng thống Obama đã ký ban hành chính thức luật kích thích kinh tế Mỹ 787 tỷ USD. Đáng chú ý là trong văn bản luật hơn 1000 trang rất chi tiết đó có một điều khoản liên quan đến PMNM:

Mục 4104(b), trang 488 chỉ thị cho bộ trưởng Y tế nghiên cứu về khả năng, chi phí, công cụ và tính tương thích của công nghệ thông tin y tế nguồn mở báo cáo lại cho Quốc hội trước ngày 1/10/2010. Quốc hội Mỹ sẽ lập một tiểu ban chuyên trách về vấn đề này bao gồm đại diện của một loạt cơ quan có liên quan.

Tiếp theo một thông tin trước đây về việc chính quyền Obama yêu cầu một chuyên gia PMNM kỳ cựu lập báo cáo về khả năng của PMNM, đây là lần đầu tiên, Quốc hội Mỹ chính thức quan tâm đến vấn đề này. Gần đây, cộng đồng nguồn mở có gửi một bức thư ngỏ cho tổng thống Obama kêu gọi chính quyền Mỹ tăng cường ứng dụng PMNM.

Kết quả của những hoạt động nói trên thì còn phải chờ. Nhưng ngay việc có những hoạt động đó cũng chứng tỏ PMNM đã có một độ chín nhất định.

Suy thoái kinh tế, tiền nong eo hẹp là lúc buộc người ta phải đi tìm các giải pháp hiệu quả, chi phí thấp. Đó là thời cơ cho PMNM.

Máy tính đeo vào chùm chìa khoá: trước đây đã có một post trên blog này giới thiệu cách cài Linux vào USB nhưng cón khá phức tạp. Hiện nay, ổ USB rẻ, dùng công cụ UNetbootin có thể cài dễ hơn một lô hệ Linux tự chọn lên USB. (Ubuntu có sẵn tool để cài kiểu này trong menu).

Máy tính cũ mà giao diện vẫn đẹp: theo quan niệm thông thường, máy tính cũ, cấu hình thấp thì không chạy được KDE4, thậm chí GNOME và phải dùng Xfce, IceVm giao diện xấu.

Elive là một bản Linux dựa trên nền Debian (như Ubuntu – do đó kho phần mềm rất lớn) dùng phần cứng tối thiểu nhưng các hiệu ứng đồ hoạ khá đẹp. Thậm chí có cả các hiệu ứng Compiz (xem link trên).

Linux và xe đua Công thức 1

Linux và xe đua Công thức 1 (Formula One car)

Xe đua Công thức 1 không chỉ là một nhãn hiệu xe nổi tiếng, nó là khoa học chính xác, sử dụng công nghệ tới một phần của giây. Linux đóng một vai trò then chốt giúp các đội xe đua thực hiện điều đó.

Posted Richard Hillesley at 12:30PM, 28th April 2008

(nhấn vào tên bài để đên bản gốc)

Lược dịch: ZXC232

Yêu cầu của môn đua xe thể thao là những người tham dự phải hiểu rất rõ các công nghệ hỗ trợ cho họ. Xe đua Công thức 1 có lẽ chỉ đứng hàng thứ hai sau ngành công nghiệp hàng không – vũ trụ trong việc ứng dụng mô phỏng khí động lực và công nghệ ống khí động học. Do sự phát triển nhanh chóng của Linux trong các hệ siêu máy tính nên phần lớn các đội xe đua Công thức 1 đã và đang dùng Linux để tính toán khí động lực và động cơ xe trong nhiều năm nay.

“Xe đua Công thức 1 là một sản phẩm tuyệt vời của đổi mới và công nghệ,” Jonathan Neale, giám đốc điều hành của đội đua McLaren nói. “Chúng tôi cạnh tranh giành vị trí số 1 trong một môi trường mà khoảng cách giữa xe thứ nhất và thứ mười chỉ khoảng 0,6 giây. Do đó chúng tôi liên tục tìm kiếm từng phần giây để nâng cao tốc độ. Trong mùa đua, trung bình cứ 20 phút xe lại được sửa đổi một lần và để có thể làm như vậy, việc mô phỏng trên máy tính là điều sống còn để đánh giá hiệu quả thay đổi.” Trong xưởng máy, McLaren dùng các chương trình tính toán thủy khí động lực (computational fluid dynamics – CFD) chạy trên Linux trong các siêu máy tính Altix CGI để mô phỏng và dự đoán hành vi của xe.

Việc đua xe hơi không phải luôn luôn như vậy. Đã có thời tài năng của người lái quyết định hết thảy.

Thời đại đã thay đổi. Đua xe hơi trong thế kỷ 21 là một môn thể thao đồng đội, chênh lệch tốc độ giữa người trước và người sau chỉ tính bằng phần trăm của giây. Càng ngày xe càng nhanh hơn, khoảng cách kỷ lục giảm xuống, người lái và xe đạt tới những giới hạn mới về sức chịu đựng và tốc độ bất chấp những quy định ngày càng ngặt nghèo để đảm bảo an toàn và tăng tính tranh đua. Mỗi quy định mới là một thách thức đối với những nhà thiết kế xe, phải chỉnh lại các tỷ lệ cân bằng sống còn về trọng lượng, vật liệu, công suất, lực ép, lực kéo.

Thắng cuộc đua ngay trong nhà máy

Người lái vẫn cần đến lòng dũng cảm, đôi mắt tinh tường, tố chất siêu nhân và khả năng lượng định tới một phần giây. Nhưng để tìm được những phần giây hiếm hoi đó, thiết kế xe quyết định hết thảy. Một người lái giỏi không chỉ có tốc độ và lòng dũng cảm mà còn phải nhạy cảm với những thay đổi nhỏ của tốc độ xe, giúp các kỹ sư và thợ máy chỉnh một milimet chỗ này, một xăngtimet chỗ kia, tạo nên sự khác nhau giữa thành công và thất bại trong môn thể thao không khoan nhượng nhất này. Công nghệ và khoa học áp dụng vào chế tạo xe đua gần với chế tạo máy bay phản lực hơn bất kỳ môn thể thao nào khác. Linux chạy trên các máy tính cao tốc là một bộ phận then chốt đối với các đội xe đua.

Đội đua Renault bắt đầu thực nghiệm với các cụm máy chủ Linux (cluster) từ năm 1998 và dùng hệ thống máy chủ Linux của IBM chạy các cơ sở dữ liệu quan trọng và các ứng dụng đo lường từ năm 2001. Hệ thống đo lường truyền dữ liệu đo từ xe đang chạy đến kỹ thuật viên đứng bên đường đua. “Khi xe chạy, nó chuyển một khối lượng dữ liệu khổng lồ theo thời gian thực về các thông số quan trọng của động cơ hoặc khung xe đến đội kỹ thuật- hệ thống đó chạy Linux,” Christophe Verdier, giám đốc IT của đội đua Renault, nói.

Verdier cũng cho biết rằng dùng Linux để tính động cơ và khung xe giảm thời gian tính toán tới 90% và do đó giảm đáng kể chi phí chế tạo xe. “Một tính toán mô phỏng trước đây mất ba tuần, giờ chỉ còn 18 tiếng. Tốc độ tính nhanh như vậy cho phép Renault F1 tối ưu hóa hoàn toàn động cơ V10. Nhờ thế, đội Renault dành được những ưu thế đáng kể vì cuộc đua phải thắng ngay trong nhà máy cũng như trên đường đua.” Thực tế, không một giải pháp phần mềm nguồn đóng nào có được ưu thế tốc độ tính toán đó với một chi phí hợp lý.

(Mới đây Renault F1 đã mua siêu máy tính (supercomputer) của hãng Appro trang bị cho trung tâm tính toán CFD của mình – chú thích của người dịch)

Bộ sưu tập các loại gió.

Ferrari là một đội đua khác đã tuyên bố về việc dùng Linux để tính toán động cơ và dữ liệu khí động lực tại Maranello cũng như ống khí động nổi tiếng “Galleria del Vento” thiết kế bởi Renzo Piano. Sau mùa đua năm 2007 là scandal gián điệp y như thời chiến tranh lạnh giữa McLaren và Ferrari, kết thúc bằng việc rút mọi giải thưởng của McLaren trong cuộc thi Nhà chế tạo vô địch 2007 và khoản tiền phạt 100 triệu đôla.

Mô phỏng xe trên máy tính là một kỹ thuật sống còn để dự kiến hành vi của xe trong mọi điều kiện thời tiết, điều kiện đường đua của giải Công thức 1. Hiệu chỉnh khí động học của xe không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ xe trên đường thẳng mà còn cả tốc độ vào cua của xe tại mỗi khúc quanh.

Xe đua của McLaren ‘hoàn toàn thiết kế dùng Linux và bộ công cụ của SGI” Keith Vickers, giám đốc bán hàng vùng Bắc Âu của hãng SGI cho biết. McLaren dùng các phần mềm tính toán thủy khí động học (CFD) của SGI để mô phỏng các luồng không khí quanh xe trên các siêu máy tính (supercomputer) SGI Altix. Phần cứng và phần mềm hoàn toàn giống như của các nhà chế tạo xe hơi khác, mặc dù tiêu chí thiết kế xe đua khác hẳn tiêu chí thiết kế xe thông thường.

Theo tiến sỹ Mark Taylor, người đứng đầu bộ phận CFD của McLaren “Vẻ đẹp của phần mềm CFD là nó cho phép chúng tôi mô phỏng các kịch bản để có được tốc độ xe cần thiết trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Không có phần mềm CFD, chúng tôi phải làm điều đó bằng cách thử mô hình xe trong ống khí động học nhưng hạn chế hơn, mất thì giờ hơn và do đó không đủ thời gian để nghiên cứu các phương pháp khác giúp tăng tốc độ xe.”

Các tính toán phân tích cũng được thực hiện trên các số liệu đo thu thập được khi xe chạy. Một đội kỹ thuật chuyên theo dõi các thông số của xe khi đang chạy để phát hiện vấn đề hoặc hiệu chỉnh nhỏ hoặc thu thập số liệu cho phân tích sau này.

Theo Vickers, hãng SGI cung cấp hệ thống Linux không chỉ cho đội đua McLaren mà còn cho nhiều đội đua Công thức 1 khác, “một số đội tôi có thể kể, một số đội khác thì không được phép”. Tất cả các đội đều cần những hệ thống máy tính như nhau, công nghệ cluster Linux có ưu thế về tỷ số chi phí/tính năng trội đến mức mà việc duy nhất chỉ còn là chọn hãng nào cung cấp phần cứng và hỗ trợ.

… Linux là hệ điều hành thống trị trong lĩnh vực tính toán cao tốc “rất dễ chuyển từ máy nọ sang máy kia, dễ dịch mã nguồn, dễ chỉnh sửa mã nguồn và dịch lại. Đó là những điều hấp dẫn người dùng trong lĩnh vực này” Vickers nói “Linux lại rất linh hoạt và dễ di chuyển (scalability)”. Cùng một hệ Linux chạy trên siêu máy tính với 2000 processor và hàng terrabyte bộ nhớ có thể chỉnh sửa và thử trên một chiếc laptop thông thường. Trong một môi trường nơi ganh đua nhau đến từng phần của một giây, khả năng điều chỉnh các thông số, sửa thuật toán, đưa các phương trình đến mức giới hạn sẽ tạo nên kẻ thắng, người thua. Cũng như trong mọi lĩnh vực tính toán cao tốc, các đội đua xe đã nhìn thấy ưu điểm nổi bật của phần mềm nguồn mở trong các mục đích thực tiễn, tốc độ, chi phí và tính linh hoạt.

……

Các kho phần mềm nguồn mở tại Việt nam

Một số công ty, tổ chức tại Việt nam hiện đã cung cấp các server lưu trữ phần mềm nguồn mở. Tìm kiếm, tải về và cập nhật từ các kho này đương nhiên là nhanh hơn nhiều so với các kho ở nước ngoài.

1- FPT

Địa chỉ server của FPT là http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/

Tại đây có các bản Linux Fedora, Ubuntu, CentOS, Mandriva, Debian, OpenSUSE, Slackware và một số phần mềm: OpenOffice, KDE, GNOME, Apache, ….

Trong các bản Linux, Ubuntu có vẻ đầy đủ hơn cả gồm các file iso cho desktop và server từ 6.04 đến bản mới nhất là 8.10. Ngoài ra còn có các kho phần mềm (repository) để cài đặt và cập nhật. Thay cho các repo của Ubuntu có thể add các địa chỉ sau:

deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-security main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-updates main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-proposed main restricted universe multiverse

(Bỏ chọn các kho tương ứng của Ubuntu).

OpenSUSE cũng có chất lượng kho tương đương Ubuntu (gồm cả bản iso 11.1 và các repo). CentOS có bản mới nhất là 5.2.

Mandriva trên server này quá cũ (chỉ có bản 2009.1 alpha và không cập nhật, chắc là không được đăng ký trong mirror list của Mandriva). Các phần mềm khá hơn: KDE có bản mới nhất 4.2, OpenOffice có bản 3.0 hoàn toàn Việt hóa, Firefox có bản 3.1 beta2.

Nhìn chung, server của FPT có nhiều PMNM, tốc độ khá nhanh (khoảng 250 – 300KB/s) xứng đáng là cty Tin học số 1 Việt nam. Việt nam thôi vì cách quản lý còn tùy hứng, cái nào không quan tâm thì bỏ. Hy vọng là FPT sẽ cải tiến.

2- OpenLAB:

Tên thì hoành tráng nhưng kho phần mềm có mỗi Ubuntu 8.10 và Moblin. Với Ubuntu 8.10 có thể add các repository này:

deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-security main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-updates main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-proposed main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-backports main restricted universe multiverse

Tôi không dùng cái này bao giờ nên không rõ chất lượng ra sao.

Hai Tổng thống đối mặt với vấn đề PMNM

Nhưng theo hai cách khác nhau: một chủ động và một bị động.

Theo tin của BBC ngày 21/1/2009, Chính phủ mới của Tổng thống Mỹ Obama đã yêu cầu Chủ tịch công ty Sun Microsystem, Scott McNealy chuẩn bị một bản báo cáo về việc chính phủ có thể trở nên an toàn và hiệu quả hơn như thế nào nếu sử dụng các công nghệ và sản phẩm nguồn mở. Rất đáng chú ý là yêu cầu này đặt ra ngay trong tuần làm việc đầu tiên của chính phủ mới.

Đương nhiên là Mr. McNealy, chủ tịch của một công ty đã có những đóng góp rất lớn vào phong trào PMNM (xem post “Các đại công ty tin học và PMNM”) nhiệt thành ủng hộ cho việc sử dụng PMNM trong chính phủ Mỹ:”PMNM sẽ cải thiện an ninh, chất lượng phần mềm cao hơn, độ tin cậy cao hơn và chi phí thấp hơn”.

BBC dẫn các nguồn tin khác đánh giá rằng lãng phí do dùng các phần mềm nguồn đóng trên toàn cầu cỡ 1000 tỷ một năm và riêng chính phủ Mỹ khoảng 400 tỷ USD.

Trước đó, các bộ ngành trong chính quyền Mỹ cũng đã xem xét đến việc này. Ví dụ, gần đây bộ Quốc phòng Mỹ đang soạn thảo một quy định hướng dẫn việc mua sắm và sử dụng PMNM trong bộ.

Ảnh hưởng của báo cáo này và chính phủ Mỹ quyết định ra sao thì phải chờ hồi sau mới rõ. Tuy nhiên, ngay việc ra đời của báo cáo nói trên cũng đã chứng tỏ sức mạnh và độ chín của PMNM đến mức nào.

Theo tin của CNews ngày 15/1/2009 (bản tiếng Ngabản dịch tự động tiếng Anh), Quốc hội Nga (Đuma Quốc gia) đang chuẩn bị một văn bản gửi Tổng thống Medvedev yêu cầu hỗ trợ một chương trình cấp liên bang xây dựng “hệ điều hành quốc gia – национальной операционной системы”.

Ý tưởng này nảy sinh trong cuộc hội nghị bàn tròn cuối năm ngoái bàn về “An ninh quốc gia về Công nghệ Thông tin” theo sáng kiến của nghị sỹ Ilya Ponomarev, chủ tịch tiểu ban phát triển công nghệ.

Mặc dù trong văn bản ngụ ý rằng cơ sở của hệ điều hành quốc gia sẽ là các hệ điều hành PMNM hiện có, mức độ mở vẫn còn để ngỏ để không làm Tổng thống rối trí vì những chi tiết kỹ thuật.

(Хотя подразумевается, что основой для нее станут уже существующие системы с открытым кодом, вопрос о степени ее свободности в письме «останется открытым, чтобы не загружать президента техническими подробностями».).

Tổng thống Medvedev sẽ quyết định thế nào? Cũng phải chờ hồi sau sẽ rõ. Tuy nhiên xét theo bức ảnh có trong bản tin nói trên thì ông không phải tín đồ của Windows.

An ninh của các mạng máy tính nhạy cảm là một mối quan tâm của các chính phủ hiện nay. Xây dựng các hệ điều hành nguồn mở từ gốc (from scratch), về nguyên tắc các chính phủ có thể kiểm soát từng dòng lệnh bên trong hệ điều hành để chắc chắn rằng không có một “cổng hậu” hoặc một quả bom nổ chậm nào được cài sẵn và cũng chủ động kiểm soát được một sản phẩm tự mình xây dựng hơn là một sản phẩm đóng kín của nước ngoài.

Ngay từ năm 1999, quỹ đầu tư mạo hiểm quốc doanh Shanghai NewMargin Venture Capital và sau này  thêm quỹ CCIDNET Investment của bộ Công nghiệp Thông tin Trung quốc đã tài trợ cho việc xây dựng hệ điều hành Linux Hồng kỳ. Gần đây có tin rằng các quán cafe Internet của Trung quốc bắt buộc phải cài hệ điều hành này.(xem thêm tại đây). Hồng kỳ là phiên bản Trung quốc của bản Linux Asianux phát triển chung bởi ba công ty Trung quốc, Hàn quốc và Nhật. Gần đây, Việt nam đã tham gia liên minh này.

Tình hình sử dụng phần mềm nguồn mở trên thế giới

Tập hợp tất cả các bài viết trên blog này trong Category:” Vấn đề phần mềm nguồn mở” thành một file pdf để phục vụ mục đích “tuyên truyền” và “xoá mù” nhận thức về khả năng ứng dụng phần mềm nguồn mở.

File “Danh sach the gioi dung phan mem nguon mo.pdf” đặt tại kho dữ liệu Mediafire (có link ở góc trên, bên phải màn hình).

Đòn quyết định của Chính phủ về phần mềm nguồn mở.

Kết thúc năm 2008 đầy khó khăn và chào đón năm 2009 đầy bất trắc, Chính phủ đã có một đòn quyết định về phần mềm nguồn mở bằng chỉ thị số  07 /2008/CT-BTTTT ngày 30/12/2008 của bộ Thông tin – Truyền thông với thái độ kiên quyết và chỉ tiêu định lượng rõ ràng:

1- Chỉ thị này liên quan đến việc ứng dụng các phần mềm nguồn mở đã có trong Danh mục các sản phẩm phần mềm mã nguồn mở đáp ứng được yêu cầu sử dụng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước (gồm các phần mềm: văn phòng OpenOffice, thư điện tử trên máy trạm Mozilla ThunderBird, trình duyệt web Mozilla FireFox và bộ gõ tiếng Việt Unikey). Danh mục này mở và sẽ còn tiếp tục bổ xung.

2- Chỉ thị bao trùm toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước dưới hình thức hơi vòng vo một chút: “…. chỉ thị cho: Các đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin (CNTT) của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi là Bộ, ngành) và các Sở Thông tin và Truyền thông (Sở TT&TT) của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là tỉnh, thành phố). (tất nhiên, bộ TT-TT chỉ có thể ra lệnh cho các đơn vị thuộc ngành dọc)

tuy nhiên yêu cầu cụ thể và định lượng thì bao gồm tất cả hệ thống quản lý nhà nước:

” Chậm nhất đến ngày 31/12/2009, đảm bảo 70% máy trạm trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố được cài đặt, 70% cán bộ, nhân viên được tập huân, hướng dẫn sử dụng, trong đó tối thiểu 40% cán bộ, nhân viên sử dụng các phần mềm nêu trên trong công việc.

Có kế hoạch để từng bước nâng dần số văn bản, tài liệu, thông tin trao đổi trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố được soạn thảo, xử lý bằng các phần mềm nêu trên; đảm bảo đến ngày 31/12/2010 hầu hết cán bộ, nhân viên trong các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ, ngành, tỉnh, thành phố sử dụng các phần mềm nêu trên trong công việc.”

Chỉ thị này có lẽ là chỉ thị thứ hai của Chính phủ dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (sau chỉ thị về đội mũ bảo hiểm) có tính cách đột phá, phạm vi rộng. Có đạt được hiệu quả như việc đội mũ bảo hiểm không thì còn phải chờ hồi sau sẽ rõ. Tuy nhiên, có mấy điểm thấy ngay:

1- Giọng điệu kiên quyết, rõ ràng, có chỉ tiêu định lượng, có thời hạn hoàn thành, có cá nhân chịu trách nhiệm.
Chỉ thị này không đột ngột. Nó là một cột mốc của một quá trình bắt đầu từ:

  • Quyết định số 235/2004/QĐ-TTg ngày 02 tháng 3 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án tổng thể về Ứng dụng và phát triển phần mềm nguồn mở ở Việt Nam giai đoạn 2004-2008,
  • Quyết định số 169/2006/QĐ-TTg quy định phải ” Ưu tiên đầu tư, mua sắm sử dụng các sản phẩm phần mềm mã nguồn mở”,
  • Quyết định số 08/2007 của Bộ TT-TT ban hành ngày 24/12/2007, những cơ quan, tổ chức khi sử dụng vốn ngân sách nhà nước hoặc vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước sẽ phải ưu tiên ứng dụng các sản phẩm phần mềm nguồn mở
  • và một quy định sắp ban hành của bộ TT-TT yêu cầu phải dành tối thiểu 10% ngân sách IT cho phần mềm nguồn mở.

2- Việc lựa chọn 4 phần mềm nói trên là đúng và khôn khéo, đảm bảo thành công, đặc biệt là OpenOffice. Những ai đã từng dùng OpenOffice đều thấy rằng trong lĩnh vực quản lý nhà nước (chủ yếu là soạn văn bản, bảng tính đơn giản) thì mang tiền đi mua Microsoft Office là một việc làm lãng phí và vô trách nhiệm đến chừng nào. Thà mua Windows nghe còn có lý hơn, mặc dù trong hệ thống hành chính văn phòng, dùng Windows cũng là lãng phí.

3- Trong năm 2008, các hoạt động bảo vệ bản quyền tại Việt nam diễn ra khá nhộn nhịp. Hoạt động thanh tra bản quyền diễn ra suôt năm với nhịp độ chưa từng có, lần đầu tiên các cơ quan chính phủ ký hợp tác bảo vệ bản quyền với BSA, tổ chức chuyên về bảo vệ bản quyền nước ngoài, Chủ tịch Ủy ban Tài chính Thượng viện Mỹ thăm Việt nam cũng bày tỏ quan ngại về vi phạm bản quyền,…Tính “tự giác” của chúng ta tôn trọng các cam kết quốc tế lúc gia nhập WTO cộng với sức ép bên ngoài có lẽ là một trong những nguyên nhân ra đời chỉ thị này. Chủ trương này giúp chúng ta có thế mạnh “đối trọng” để thương thuyết trong những phi vụ mua bản quyền phần mềm, không để cho bất cứ nhà cung cấp độc quyền nào áp đặt.

Trước đây, với hệ thống Viễn thông – Internet, Việt nam đã là một trong những nước đi đầu trên thế giới tiến vào công nghệ mũi nhọn mà kết quả thì ngày nay chị quét rác cũng có mobile phone, Internet lan khắp hang cùng ngõ hẻm.

Trong lĩnh vực Công nghệ Thông tin, Đảng là người đi đầu trong việc ứng dụng phần mềm nguồn mở với chủ trương dùng Linux trên cả máy trạm và máy chủ. Với chỉ thị này, sau Hà lan có lẽ Việt nam là nước thứ hai quyết định dùng phần mềm nguồn mở trong hệ thống quản lý nhà nước.

Chúng ta có quyền tự hào về điều đó!

Khi mà ứng dụng Công nghệ Thông tin còn yếu, chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở càng sớm càng tốt, tránh được những hậu quả phải khắc phục khi căn bệnh “nghiện Windows” đã tràn lan. Chung sống hài hoà giữa phần mềm nguồn mở và nguồn đóng, sử dụng chúng một cách hợp lý, tiết kiệm là chủ trương đúng đắn nhất hiện nay.

Bước tiếp theo rất nên làm và hoàn toàn khả thi là dùng Linux trong toàn bộ hệ thống quản lý nhà nước (phối hợp với một hàm lượng nhỏ Windows trong thời kỳ chuyển tiếp).

Đối với các cán bộ triển khai, các fan của phần mềm nguồn mở, chỉ thị này đúng là cây gậy họ đang cần. Cám ơn Mr. Lê Doãn Hợp!

Ở trên toàn là mầu hồng, pha thêm tý xám vào cho nó cân bằng:

1- Bắt dân đội mũ bảo hiểm thì dễ, bắt chính đội ngũ công chức của mình tuân theo một chủ trương thống nhất, thay đổi thói quen thì ??? Liệu bộ TT-TT có thể “chỉ thị” cho các bộ, ngành, tỉnh, thành phố khác không? Đây là chủ trương chung của Chính phủ hay sáng kiến riêng của bộ TT-TT?

2- Trích: ” d) Các doanh nghiệp phần mềm, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ CNTT: Nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ phần mềm nói chung và PMNM nói riêng cho các cơ quan nhà nước theo hướng coi phần mềm như là dịch vụ (SaaS)”. Tay chuyên viên nào chấp bút đoạn này chắc không hiểu điều mình viết!

3- Có ý kiến nói unikey không thực sự mở?

Gartner: 85% công ty dùng phần mềm nguồn mở.

17 Nov 2008 11:45

Theo một nghiên cứu được tiến hành gần đây của hãng Gartner (một công ty hàng đầu về tư vấn và nghiên cứu thị trường IT), 85% công ty được điều tra đã dùng phần mềm nguồn mở (PMNM) và phần lớn trong số 15% còn lại dự kiến sẽ dùng trong năm tới.

Tuy nhiên, chỉ có 31% có quy chế chính thức về đánh giá và mua sắm PMNM. Gartner đã tiến hành điều tra 274 công ty trên khắp các châu Á/Thái Bình dương, châu Âu và Bắc Mỹ trong các tháng 5 và 6/2008 và công bố kết quả hôm 17/11/08.

Các công ty được điều tra đều thống nhất nêu rõ chi phí phần mềm thấp là lý do hàng đầu để họ chấp nhận PMNM, ngoài ra cũng có lý do muốn được bảo vệ chống lại việc bị phụ thuộc vào một nhà cung cấp phần mềm duy nhất. Các lý do khác là thời gian tiếp cận thị trường nhanh và tránh được các quy chế, thủ tục mua sắm phức tạp.

Tuy nhiên, theo Gartner, việc thiếu quy chế chính thức về mua sắm, trang bị PMNM có thể làm cho công ty xâm phạm vào các tài sản tri thức. Cuộc điều tra cũng cho thấy các vấn đề quản lý là nguyên nhân hàng đầu trong các rào cản chấp nhận PMNM.

Phần mềm tự do không có nghĩa là không mất chi phí,” Laurie Wurster, giám đốc nghiên cứu của Gartner nói. “Các công ty cần phải có quy chế về mua sắm, trang bị PMNM, quy định rõ ứng dụng nào thì dùng PMNM và chỉ rõ các rủi ro về bản quyền tài sản trí tuệ hoặc các rủi ro liên quan đến việc hỗ trợ khi dùng PMNM. Một khi đã có quy chế, cần phải có các quy trình quản lý để triển khai quy chế đó.”

Trong danh sách các quy trình nghiệp vụ ứng dụng PMNM của Gartner, dịch vụ khách hàng xếp đầu tiên, sau đó là tích hợp hệ thống trong tổ chức, tài chính, quản lý và phân tích kinh doanh.

Nguồn: http://news.zdnet.co.uk/software/0,1000000121,39554840,00.htm

Các trường học của Nga chính thức dùng phần mềm nguồn mở

Các trường học của Nga chính thức chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở.

30/10/2008

Sau nhiều thông báo sớm và các dự án thử nghiệm thành công, tại hội chợ Công nghệ Thông tin quốc tế InfoKom 2008 bộ trưởng Viễn thông Nga Igor Schegolev đã chính thức tuyên bố từ năm 2009 các trường học của Nga sẽ chuyển sang dùng Linux.

Theo ông Shegolev, đến cuối năm 2008 sẽ có 1500 trường dùng bộ phần mềm nguồn mở PSPO. Bộ Linux này do công ty ALT của Nga xây dựng gồm 4 phiên bản (Lite, Junior, Master, Terminal) và bộ Linux khoa học NauLinux dựa trên bản Scientific Linux 5.1 tiếng Nga. Bản Alt School 4.0 Lite dùng giao diện đồ họa nhẹ XCFE có thể chạy trên các máy có 256 MB RAM trở xuống. Các bản khác dùng giao diện đồ họa KDE.

62.000 trường khác sẽ được cung cấp hai bản Linux trong năm 2009 để lựa chọn, giám đốc marketing của ALT Linux Ilya Mashkin cho biết. Đến năm 2010, các trường sẽ kết thúc việc lựa chọn. Sau hai năm đó, các bản Linux giáo dục quốc gia vẫn sẽ miễn phí, nhưng các phần mềm bản quyền thì các trường phải tự mua.

ALT Linux phát triển từ bản Linux Mandriva tiếng Nga. Công ty ALT có tổng cộng 150 nhà lập trình.

Thị trường chứng khoán New York chuyển sang dùng Linux

Thị trường chứng khoán NewYork xây dựng nền tảng thương mại toàn cầu trên nền Red Hat Linux.

By Pam Derringer, News Writer

03 Jun 2008 | SearchEnterpriseLinux.com

zxc232 lược dịch

Thị trường Chứng khoán New York (The New York Stock Exchange – NYSE) đã chọn Red Hat Enterprise Linux (RHEL) làm hệ điều hành chính của Hệ thống nền thương mại toàn cầu mới (Universal Trading Platform) sẽ bắt đầu hoạt động ở châu Âu vào cuối năm nay và trên mạng toàn cầu của NYSE vào năm 2009.

Hệ thống này dùng để buôn bán không chỉ cổ phiếu, tiền mặt, các giấy tờ có giá mà còn cả các giao dịch kỳ hạn và hàng hóa. Ngoài phục vụ cho NYSE, hệ thống cũng sẽ phục vụ cho: Euronext, thị trường cổ phiếu tiền mặt lớn nhất châu Âu; Liffe, thị trường derivatives châu Âu; NYSE Arca Options, thị trường quyền mua bán điện tử.

“Do sáp nhập (Euronext vào NYSE), chúng tôi có một số hệ thống nền khác nhau không cần thiết,” Steve Rubinow, CIO của NYSE Euronext nói. “Mục tiêu là tạo một hệ thống nền chung cho nhiều sản phẩm, có thể buôn bán bất cứ thứ gì hiện có hoặc sẽ có, ở bất cứ đâu. Red Hat đóng vai trò cột trụ cho hệ thống đó.”

Red Hat mở rộng chỗ đứng trong thị trường tài chính.

Sau khi đã có chỗ đứng vững chắc trong cộng đồng tài chính New York, thiết lập được các kỷ lục tốc độ giao dịch tại phố Wallchỗ đứng hiện tại ở thị trường chứng khoán New York, vai trò của Red Hat trong các sàn chứng khoán mới của NYSE không đáng ngạc nhiên.

Hệ thống nền thương mại toàn cầu mới của NYSE sẽ chủ yếu dùng Red Hat Enterprise Linux 5 (RHEL 5) chạy trên các máy chủ nhỏ hoặc máy chủ phiến (blade server).

Trước đây, NYSE đã dùng RHEL trong một số hệ thống nhỏ. Bước nhảy vọt diễn ra vào tháng 5 vừa rồi khi NYSE bỏ các máy chủ mainframe thay bằng hơn 600 máy chủ Hewlett-Packard chạy Red Hat.

Mục tiêu chuyển đổi là hiện đại hóa hệ thống buôn bán chứng khoán cả giao dịch trên sàn lẫn giao dịch điện tử qua mạng và hệ tin nhắn với các khách hàng hàng ngày. Khối lượng giao dịch và tin nhắn rất lớn và ngày càng tăng. Trong quý đầu năm 2008, số lượng giao dịch của NYSE và Arca Options lên tới 191 tỷ, tăng 24%. Hiện nay, số tin nhắn liên quan đến các giao dịch lên tới hảng tỷ tin mỗi ngày.

Thời gian xử lý một giao dịch đã giảm từ 10-12 giây vài năm trước xuống còn vài miligiây hiện nay.

Rubinow không nêu rõ dùng Red Hat thì rẻ hơn các hệ phần mềm trước bao nhiêu nhưng cho biết rõ ràng là rẻ hơn các phần mềm nguồn đóng và Linux là nền tảng đúng cho công việc. “Chất lượng của hệ điều hành Linux rất quan trọng đối với chúng tôi, và Red Hat Enterprise Linux đã đáp ứng vượt quá mong đợi.”

Matxcơva dùng Mandriva và OpenOffice

Chính quyền vùng Matxcơva chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở.

Open Source News – 13 May 2008 – Rest of the World – Deployments and Migrations

http://ec.europa.eu/idabc/en/document/7635/469

Chính quyền vùng Matxcova sẽ thực hiện một dự án thí điểm chuyển vài trăm máy để bàn sang dùng Mandriva Linux và cài OpenOffice trên hàng nghìn máy khác.

Dự án thí điểm này có mục đích cho hệ thống chính quyền vùng làm quen với một phương án thay thế các sản phẩm của Microsoft. Sau đó, tất cả các máy để bàn sẽ chuyển sang dùng Linux và OpenOffice, site tin tức Klerk của Nga cho biết.

Klerk cũng dẫn lời một thông báo của chính quyền vùng Matxcova nói việc thay đổi phần mềm này nhằm mục đích cắt giảm chi phí và tăng cường an ninh tin học.

Cán bộ chính quyền và các nhà quản lý IT sẽ được huấn luyện dùng Mandriva Linux và OpenOffice. Các công dân quan tâm cũng có thể thử phần mềm tại trung tâm huấn luyện ở Nakhabino, nằm cách thủ đô 20 km.

Chính quyền vùng sẽ dùng cả hai bản Mandriva thương mại và miễn phí. Công ty tin học Lynx và văn phòng đại diện tại Nga của Mandriva sẽ thực hiện việc huấn luyện và hỗ trợ người dùng.

Một kiểu máy tính mới: mainboard tích hợp sẵn Linux

Đây vừa là một ý tưởng độc đáo vừa được xem là một “chiến thắng lớn của Linux”. Hãng sản xuất mainboard lớn nhất thế giới ASUS vừa công bố sẽ tích hợp công nghệ Splashtop của hãng DeviceVM vào các mainboard họ P5Q (P5Q Deluxe, P5Q-WS, P5Q3 Deluxe và P5Q-E.) và tiếp sau sẽ mở rộng ra toàn bộ các họ ASUS mainboard khác.

Trên mainboard sẽ có một thẻ nhớ Flash cài sẵn Linux tối thiểu và các phần mềm duyệt web Firefox, phần mềm xem ảnh và phần mềm chat Pidgin. Các đặc điểm chính:

1- Nhanh: Khi nhấn nút Power mở máy, chỉ vài giây sau là có thể làm việc được (duyệt web, dùng webmail Google, Yahoo, … xem ảnh và upload lên các site lưu ảnh, chat với MSN, Yahoo, Google Talk, điện thoại bằng Skype).

2- An toàn: vì làm việc trong môi trường Linux nên không ngại virus, spyware, …

3- Thân thiện với môi trường: vì bật máy nhanh nên khi xong có thể tắt, không phải để cả ngày như khi dùng các hệ điều hành Windows, Linux đầy đủ. Do đó tốn rất ít điện, góp phần giảm ô nhiễm.

4- Khi cần làm các việc khác, vẫn có thể khởi động vào Windows hay Linux cài trên ổ cứng như bình thường.

Hiện nay, mỗi tháng ASUS sản xuất khoảng 1 triệu mainboard P5Q, vì vậy sau một năm sẽ có 12 triệu người dùng Linux. Theo hướng này, việc tích hợp sẵn cả bộ Linux vào thẻ nhớ Flash và ổ cứng chỉ dùng ghi dữ liệu có lẽ chỉ là vấn đề thời gian. Tốc độ của bộ nhớ Flash nhanh hơn ổ cứng nên dùng Linux trên USB nhanh hơn hẳn cài trên ổ cứng. (Xem thêm bài Vài hệ Linux đặc chủng trên blog này). Khi đó ta sẽ có một máy tính khởi động rất nhanh, mở các chương trình cũng nhanh.

Xem thêm chi tiết và các màn hình chương trình tại đây.

Linux vừa thắng một hợp đồng lớn trong ngành tài chính

Linux vừa thắng một hợp đồng lớn trong ngành tài chính

May 15, 2008

http://www.desktoplinux.com/news/NS7320882318.html

Hãng phần mềm Red Hat Linux vừa thông báo: chi nhánh châu Âu của Sàn chứng khoán NewYork (NYSE Euronext) triển khai các phần mềm Red Hat Enterprise Linux (RHEL) và mạng Red Hat (Red Hat Network). NYSE Euronext dùng RHEL để chạy các ứng dụng then chốt trong môi trường mạng giao dịch tài chính cao tốc và “tối quan trọng” (mission-critical) của họ.

NYSE Euronext chọn Linux do tính linh hoạt cao, không bị phụ thuộc vào một nhà cung cấp, tiết kiệm chi phí và xử lý được tải nặng. Red Hat đã đánh bại các hãng Linux khác vì nhiều lý do, trong đó có việc RHEL hỗ trợ những chỉ dẫn của dự án nguồn mở Security-Enhanced Linux (SELinux) .

Các phần mềm của Red Hat chạy trên 200 máy chủ HP ProLiant DL585 bốn bộ vi xử lý, 400 máy chủ dạng phiến ProLiant BL 685c dùng bộ vi xử lý dual-core AMD Opteron. NYSE Euronext dự kiến sẽ dùng thêm vài trăm giấy phép RHEL trong 18 tháng tới.

[................]

Giám đốc Thông tin của NYSE Euronext Steve Rubinow nói: “Thương mại điện tử đang phát triển như vũ bão. Linux là hệ điều hành phát triển nhanh nhất phù hợp với các yêu cầu của thương mại điện tử. Linux có sự linh hoạt (flexibility) mà chúng tôi mong muốn và chúng tôi cảm thấy phù hợp với môi trường của chúng tôi. Red Hat đáp ứng các yêu cầu đề ra. Red Hat thâm nhập vào mọi ngóc ngách của kiến trúc hệ thống. Không có nó, phần lớn máy tính của chúng tôi không hoạt động được.”

Trả lời một bài báo

Một “chuyên gia Linux Việt kiều” vừa phê phán tôi trên VnExpress. Đây là câu trả lời của tôi.

Các nhà sản xuất máy tính thúc dục các nhà sản xuất thiết bị tạo sản phẩm phần cứng tương thích Linux

By Steven J. Vaughan-Nichols on May 02, 2008 (7:00:00 PM)

Lược dịch Zxc232

Trong nhiều năm, các nhà sản xuất linh kiện và thiết bị ngoại vi máy tính không thèm biết đến thị trường máy tính cá nhân Linux. Họ cho rằng thị trường đó quá nhỏ, không đáng quan tâm. Tình hình nay đã thay đổi. Tại cuộc họp của Linux Foundation tháng 4/2008 tại Austin, Texas, các nhà sản xuất máy tính cá nhân lớn ASUS, Dell, Hewlett-Parkard và Lenovo nói rằng họ sẽ yêu cầu các nhà sản xuất OEM chipset, linh kiện và thiết bị ngoại vi cung cấp các sản phẩm phần cứng tương thích Linux. (OEM, original equipment manufacturers- nhà sản xuất thiết bị gốc).

Khi người dùng Linux yêu cầu thì là một chuyện. Nhưng khi các công ty nhiều tỷ đôla yêu cầu thì lại là một chuyện khác hoàn toàn. Đó là một đơn hàng mà các nhà sản xuất OEM không thể từ chối.

Nói một cách chính xác, các công ty sản xuất máy tính tuyên bố trong cuộc họp nói trên rằng họ sẽ đưa vào trong đơn đặt hàng yêu cầu “rất mong muốn” có các driver nguồn mở đi kèm thiết bị. Một số nhà sản xuất máy tính nói họ sẽ còn đi xa hơn. Trong vòng sau của các hợp đồng OEM, họ sẽ yêu cầu các nhà sản xuất OEM giao thiết bị cùng với Linux driver hoặc API (application programming interfaces) mở để có thể dễ dàng xây dựng Linux driver.

Một số công ty như VIA Technologies, nhà sản xuất bo mạch chủ và chip không cần đợi yêu cầu trên của các nhà sản xuất PC. VIA đã tuyên bố tại cuộc họp rằng họ sẽ nguồn mở hóa tất cả các sản phẩm của họ. Timothy Chen, trợ lý đặc biệt của chủ tịch VIA, nói “VIA chưa nguồn mở hóa nhiều, đó là một việc khá khó khăn, nhưng đến cuối tháng này, các bạn sẽ thấy chúng tôi nguồn mở hóa.”

VIA đã giữ lời hứa. Ngày 30/4/2008, VIA đã mở site VIA Linux Portal Web cho công chúng. Như món quà đầu tiên, VIA đã công bố các driver mã máy của chipset đồ họa VIA CN896 digital media IGP cho các hệ Linux Ubuntu 8.04 và SUSE Linux Enterprise Desktop 10SP1. Công ty sẽ công bố tài liệu kỹ thuật và mã nguồn driver trong các tuần tới cùng với một forum chính thức và công cụ theo dõi lỗi (bug tracking). VIA dự kiến sẽ đưa ra một lịch công bố các phiên bản driver cố định sao cho các driver của họ đồng bộ với các phiên bản nhân Linux của các bộ Linux chủ yếu.

Các nguồn tin thân cận với các nhà sản xuất chip Wi-Fi cho biết họ tối thiểu cũng sẽ cung cấp các driver Linux dạng mã máy của chip. Các nhà lãnh đạo hai công ty Atheros CommunicationsBroadcom Corp. đã nói trong chỗ riêng tư rằng họ dự kiến thay đổi cách hỗ trợ Linux. Có sự thay đổi đó vừa do các nhà sản xuất máy tính lớn hỗ trợ Linux và do sự hỗ trợ Linux của chip Wi-Fi Intel đã bắt đầu ảnh hưởng tới thị trường của họ.

Cũng đáng chú ý là Luis R. Rodriguez, lãnh đạo dự án driver nguồn mở Atheros ath5K bằng kỹ thuật reverse-engineering đã tuyên bố hôm 15/4 rằng Atheros đã thuê ông như kỹ sư phần mềm toàn thời gian với nhiệm vụ làm cho mỗi thiết bị của Atheros được hỗ trợ trong nhân Linux.

Nếu khuynh hướng trên tiếp tục, sẽ đến ngày người dùng Linux có thể yên tâm rằng mọi thiết bị họ mua đều hỗ trợ Linux.

(Ghi chú:

  • reverse-engineering: do các nhà sản xuất giữ kín hồ sơ kỹ thuật và mã nguồn driver nên các nhà lập trình nguồn mở phải dùng các kỹ thuật đo lường và phần mềm để suy đoán ngược cách hoạt động của thiết bị và từ đó viết ra các driver nguồn mở. Tất nhiên là không thể tốt bằng driver của chính hãng nhưng cũng dùng được. Ví dụ điển hình là các driver nguồn mở card màn hình NVIDIA và ATI.
  • các thông tin trên là mới nhất. Nhưng các nhà sản xuất OEM cũng đã làm điều đó trước đây rồi. Ví dụ: các site Linux driver cho chip đồ họa và chip Wi-Fi của Intel tại đâytại đây -NVIDIA và ATI đều đã có Linux driver, máy in HP cũng vậy, v.v… Tất nhiên Linux driver chưa thể phổ biến được như Win driver nhưng xu thế là không phải bàn cãi- ND)

P/s: trong tin học, cập nhật là chuyện sống còn. Với Linux lại càng sống còn hơn. Đem kinh nghiệm với Ubuntu 6.04 để bàn bây giờ đã là chuyện buồn cười rồi.

Bạn đang dùng Linux? Có lẽ bạn còn chưa biết những điều này!

Bạn đang dùng Linux? Có lẽ bạn còn chưa biết những điều này!
Written by Steve Lawson
04.30.2008 at 07:29am
Section: Editorials

Lược dịch Zxc232

Đầu tiên, tôi muốn hỏi bạn một loạt những câu hỏi thoạt nhìn có vẻ chẳng liên quan gì đến nhau. Bạn đã xem phim hoạt hình Shrek hoặc Harry Potter và viên đá phù thủy chưa? Bạn đã bao giờ bay trên máy bay của các hãng Continental, Virgin America hoặc Singapore Airlines chưa? Bạn lái xe BMW, Fiat hay Renault? Bạn đã từng nhập ngũ trong quân đội Mỹ? Bạn đã bao giờ mua một thứ gì trên mạng thanh toán bằng Paypal? Bạn đã bao giờ ở trong một khách sạn Sheraton? Hoặc bạn đã đi du lịch bằng tàu hỏa ở Canada?

Đừng lo, tôi không định chào bán thứ gì cho bạn cả; mục đích bài viết này của tôi là soi sáng một điều mà bạn còn chưa biết. Nếu bạn không phải người say mê máy tính như tôi, có lẽ bạn chẳng quan tâm đến việc tất cả những cái đó và nhiều cái khác nữa đã được tạo ra, vận hành và bảo trì như thế nào. Bạn chỉ muốn biết ôtô của bạn khởi động như thế nào, bộ phim bạn xem đồng bộ âm thanh ra làm sao, phòng khách sạn của bạn sẵn sàng như thế nào và làm sao chuyến bay hoặc đoàn tàu của bạn đến đúng giờ. Tất cả những điều đó hoàn toàn có thể hiểu được.

Một trong những lý do chính đảm bảo cho những thứ nói trên hoạt động, cho bạn sống cuộc sống hàng ngày mà không phải quan tâm lo lắng gì chính là … Linux. Vâng, chính Linux, cái hệ điều hành máy tính bí ẩn mà những tay râu ria, kính cót mê mẩn. Ta hãy chứng minh điều khẳng định trên bắt đầu bằng hãng hàng không Singapore Airlines và một thứ gọi là KrisWorld. KrisWorld là hệ thống giải trí trong khi bay của Singapore Airlines, cho phép hành khách xem phim và nghe nhạc theo yêu cầu.

Hệ thống bao gồm một máy chủ Linux nối mạng với các máy tính cá nhân lắp trong lưng ghế trước mặt mỗi hành khách. Hạng ghế economy được trang bị một màn hình tinh thể lỏng 10,6 inch, độ phân giải 1280×768. Các hạng ghế đắt tiền hơn thì màn hình lớn hơn.

Khi hành khách muốn xem phim hoặc nghe nhạc, phim và nhạc sẽ được tải từ máy chủ xuống máy tính cá nhân trong lưng ghế có ổ cứng 40GB và bộ vi xử lý của hãng Via Technologies Inc. Ngoài chức năng nghe nhạc, xem phim, KrisWorld cũng là một máy tính trang bị bộ phần mềm văn phòng StarOffice. Trên máy tính có một cổng USB để khách có thể cắm ổ USB hoặc ổ cứng ngoài của mình vào, mở hoặc lưu các văn bản cá nhân lên đó. Cổng này cũng dùng để cắm bàn phím hoặc chuột USB cho các doanh nhân làm việc mà không cần phải mở laptop.

Singapore Airlines không phải hãng hàng không duy nhất đầu tư Linux. Virgin America mới đây cũng tuyên bố các máy bay của hãng sẽ lắp một hệ thống giải trí trong khi bay gọi là RED. RED cũng chạy Linux RedHat và Fedora nối với các máy chủ trung tâm chứa phim và nhạc. Khi được hỏi tại sao chọn Linux, hãng nói rằng vì Linux ổn định và dễ sửa đổi theo các yêu cầu riêng của họ.

Còn hãng hàng không nào khác dùng Linux không? Có, Continental Airlines đã chuyển hệ thống đặt vé-giữ chỗ sang chạy trên Linux. Qantas Airways chuyển trung tâm dữ liệu sang Linux và hãng hàng không Tây Ban nha Spanair cũng dùng Red Hat Enterprise Linux.

Nhưng Linux không chỉ có mặt trên các chuyến bay, chúng cũng có trên mặt đất ở những nơi bạn không ngờ tới. Hãng chế tạo xe hơi BMW dùng công nghệ ảo hóa Xen trên Novell SUSE Linux ở trung tâm dữ liệu của hãng và ở đội đua công thức 1: các cặp máy chủ Linux (cluster) do HP chế tạo xây dựng các mô hình khí động học tinh vi cho các loại xe đua để thiết kế, thử nghiệm trước khi chế tạo. (Xem thêm về Linux và xe đua Formula One tại đây)

Mạng lưới đường sắt Đức do Deutsche Bahn điều hành đã chuyển các máy chủ sang chạy Linux vào cuối năm 2004. Nhà chế tạo xe hơi khổng lồ Ý, Fiat, dùng hệ thống Linux để vận hành mạng lưới bán hàng và hỗ trợ khách hàng tại Âu châu. Công ty chế tạo xe hơi Huyndai dùng các cặp máy chủ Linux do IBM chế tạo để mô phỏng và tính toán các trường hợp tai nạn. Chưa hết, Thrifty Car Rental có hạ tầng mạng máy tính phần lớn chạy Ubuntu Linux; hãng chế tạo xe hơi Volvo cũng dùng các cặp máy chủ Linux của IBM để mô phỏng và tính toán tai nạn; hãng đường sắt quốc gia Canada dùng Linux trong phần lớn các công việc kinh doanh hàng ngày. Nước Pháp cũng đang bước vào trận địa Linux: hãng chế tạo xe hơi Renault vừa tuyên bố sẽ dùng hệ điều hành máy chủ Novell SUSE Linux Enterprise Server, trong khi lực lượng cảnh sát Pháp cùng với chính phủ và một số bộ chuyển sang dùng Linux. Hãng chế tạo xe hơi Peugeot Citroen đã ký hợp đồng với Novell để chuyển 20.000 máy tính cá nhân và 2000 máy chủ sang dùng SUSE Enterprise Linux.

Còn Hollywood thì sao? Nhiều bộ phim hoạt hình sản xuất bởi Dreamworks (Shrek, Shark Tale, Antz and Bee, …) được làm trên các máy tính của HP chạy Red Hat Linux. Nhiều phần việc trong các bộ phim Harry Potter (cũng như các phim The Last Samurai và Plane Of The Apes) được xử lý bằng một phần mềm nguồn mở chạy trên Linux gọi là CinePaint.

Trên thực tế, ngành công nghiệp các hiệu ứng hình ảnh của Hollywood có lẽ là ngành tiên phong dùng Linux. Và không phải chỉ là cuộc cách mạng ở phạm vi nhỏ. Các hãng phim có những phòng máy đầy các máy chủ Linux. Pixar, Digital Domain, Dreamworks, tất cả các hãng từ lớn đến nhỏ. Dreamworks có trên 2000 máy chủ Linux online vào mùa hè năm 2001. Bộ phim quả bom tấn Shrek của hãng được dựng trên hơn 1000 máy tính Linux. Pixar chạy Linux trên các máy sản xuất phim và phát triển phần mềm của hãng (ông chủ của Pixar, Steve Job, lại là người sáng lập ra Apple và phần mềm Mac). Ngành công nghiệp điện ảnh thừa nhận rằng trận thủy triểu Linux đạt tới đỉnh cao trong phim Titanic. Hãng Digital Domain đã dùng các ứng dụng Linux để dựng các cảnh phim, đặc biệt là các cảnh dưới nước.

Rời phim ảnh, chúng ta hãy chuyển sang một lĩnh vực khác mà Linux đang tạo nên nền móng: công nghiệp tài chính. Tại Brazin, một trong những ngân hàng lớn nhất Nam Mỹ là Banrisul chạy toàn bộ các máy ATM trên hệ điều hành Linux. Paypal, hãng thanh toán điện tử được các hãng bán hàng trực tuyến trên toàn thế giới sử dụng, chạy website và các phần mềm trung gian trên hàng nghìn máy chủ Linux.

Lần tới khi bạn check in vào một khách sạn Sheraton hãy nhớ rằng phòng của bạn được đăng ký trên hệ thống giữ chỗ Linux. Nếu bạn là quân nhân Mỹ, nên biết rằng tới năm 2015 toàn bộ hệ thống mạng của quân đội Mỹ sẽ là hệ thống Linux. Tôi tin chắc rằng ngày càng có nhiều hệ thống trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta mà Linux đóng một vai trò quan trọng. Nhưng các ví dụ nêu trên cũng đủ để chứng tỏ với bạn rằng Linux không chỉ là trò chơi cho những kẻ ham mê máy tính.

52 triệu học sinh Brazin sẽ dùng Linux

Bộ Giáo dục Brazin đang cài đặt hệ điều hành Linux riêng của mình vào các phòng máy tính dành cho 52 triệu học sinh tiểu học (primary school). Hệ điều hành “Linux Educacional 2.0” dựa trên nền hệ Linux Debian, dùng giao diện KDE 3.5, các bộ phần mềm KDE-Edu, KDE-Games và một số công cụ được phát triển bởi dự án.
Một phòng máy tính tiêu chuẩn gồm một máy chủ và 7 máy trạm, mỗi máy trạm có hai bộ bàn phím, màn hình và chuột, tổng cộng là 15 vị trí sử dụng. Những phòng máy ở nông thôn nơi thiếu điện, một máy chủ sẽ có 7 bộ bàn phím, màn hình và chuột (không có máy trạm). Ngoài ra còn có một màn hình TV khổ lớn dành cho những nhu cầu riêng của trẻ. Trong năm nay sẽ thiết lập 29.000 phòng máy phục vụ cho 32 triệu học sinh và sang năm (2009) là 53.000 phòng cho khoảng 52 triệu học sinh.
Bộ Giáo dục cũng sẽ dùng Linux trong những “máy chiếu tích hợp” là một thiết bị gồm cả máy chiếu, CPU, các nội dung cài sẵn và đầu DVD. Với loại máy chiếu + máy tính này, các nội dung số không bị giới hạn trong phạm vi phòng máy tính mà giáo viên có thể dùng nó để giảng dạy trong các phòng học thông thường.
Một dự án khác của bộ Giáo dục Brazin, “mỗi học sinh một máy tính”, dự kiến cho ra đời khoảng 150.000 máy tính giáo dục giá rẻ (Classmate PC) cũng chạy Linux với giao diện KDE.

(Thông tin tổng hợp từ :

http://www.desktoplinux.com/news/NS9272932512.html

http://aseigo.blogspot.com/2008/04/deploying-kde-to-52-million-young.html

http://www.linux-watch.com/news/NS9016897370.html )

Phần mềm Quản lý Doanh nghiệp (ERP) nguồn mở đang tăng trưởng

InfoWorld – Technology Information for Business Intelligence

Phần mềm Quản lý doanh nghiệp (ERP) nguồn mở đang tăng trưởng.

Phần mềm nguồn mở đang tạo nên một xung lực mới trong thị trường phần mềm Quản lý doanh nghiệp do tính linh hoạt và giá thành thấp.

By Robert Lemos, IDG News Service (Zxc232 lược dịch)

April 22, 2008

Phần mềm nguồn mở có thể tìm thấy chỗ đứng của mình trong những hệ thống ứng dụng tối quan trọng (mission-critical) không? Dựa trên xung lực của thị trường phần mềm Quản trị Doanh nghiệp nguồn mở (Open-source Enterprise Resource Planning – ERP), phần mềm nguồn mở bắt đầu nhìn ra con đường của mình, đặc biệt là các lãnh đạo IT của các tổ chức trung bình và nhỏ.

Trong khi các hệ ERP là trái tim và linh hồn của doanh nghiệp hiện đại, chúng cũng là nỗi kinh hoàng về IT trong thập kỷ vừa qua. Phần mềm ERP đòi hỏi một quá trình chỉnh sửa lâu dài và tốn kém để phù hợp với các quy trình nghiệp vụ đặc thù của từng ngành, từng công ty. Danh sách các hạng mục chậm trễ, các triển khai tốn kém luôn ám ảnh các lãnh đạo IT khi cố gắng nâng cấp các hoạt động của công ty. Mới đây, công ty vận chuyển hành lý khổng lổ Waste Management đã kiện ra tòa đòi hãng phần mềm SAP bồi thường 100 triệu USD do triển khai ERP thất bại.

Vấn đề bắt đầu từ thập kỷ 90: năm 1997, hãng Nestle USA bắt đầu một dự án ERP kéo dài 6 năm, tốn 200 triệu USD. Ban đầu công ty có ý định dùng số tiền đó để triển khai một hệ thống trên tất cả các văn phòng toàn cầu.

Khi triển khai xong, công ty mới thấy mình bị khóa chặt vào trong các hợp đồng giấy phép sử dụng và bảo trì tốn kém trong một thị trường hầu như không có cạnh tranh bị thống trị bởi hai hãng phần mềm ERP chính, Oracle và SAP.

Phần mềm nguồn mở bắt đầu vào cuộc. Được phổ biến do sự tăng trưởng của hệ điều hành Linux, phần mềm nguồn mở cho phép bất kỳ ai xem, kiểm tra mã nguồn và chỉnh sửa phần mềm theo ý mình. Các hệ ERP yêu cầu chỉnh sửa rất nhiều (lúc triển khai ban đầu và cả sau này khi doanh nghiệp thay đổi, phát triển – ND) do đó phần mềm nguồn mở có vẻ là phương án lý tưởng. Các công ty cũng đánh giá cao khả năng kiểm soát được mã nguồn của các phần mềm tối quan trọng đối với họ.

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chi phí thấp của các hệ ERP nguồn mở cũng là một yếu tố quan trọng. Đó là trường hợp của công ty thực phẩm đông lạnh Cedarlane. Dùng phần mềm ERP nguồn mở của hãng xTuple đã tiết kiệm cho công ty “vài trăm nghìn đô la”, giám đốc IT Daniel Baroco cho biết.

………

Hiệu quả hiện nay là rõ ràng, Baroco nói. Công ty đã tăng trưởng từ 40 triệu lên 600 triệu USD doanh thu và khối lượng công việc giấy tờ cần thiết để thực hiện các hợp đồng giảm xuống đáng kể. Năm 2004, trung bình phải xuất 1000 hóa đơn một ngày, đôi khi một đơn hàng có đến 3 hóa đơn. Hiện nay, chỉ còn 400 hóa đơn và lại theo dõi được lượng hao hụt thực phẩm, một điều không có vào năm 2004.

“Tôi thực sự đã được đào tạo lại về nguồn mở thời kỳ đó,” Baroco nói. “Tôi trở thành người hâm mộ nguồn mở vì thế.”

Tổng giám đốc xTuple, Ned Lilly, nói rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ như Cedarlane là viễn cảnh tốt nhất cho áp dụng phần mềm ERP nguồn mở. “Triển vọng tốt nhất đối với chúng tôi là các công ty $20 triệu đến $50 triệu doanh thu đang còn dùng chỉ phần mềm kế toán QuickBooks”. Lilly nói.

Lilly không mong sẽ chuyển được các khách hàng truyền thống đang dùng Oracle hoặc SAP nhưng với các công ty nhỏ hơn, lo lắng về chi phí và quá trình triển khai cũ phức tạp thì giải pháp nguồn mở là một sự lựa chọn rõ ràng.

Tại thị trường châu Âu và châu Á, khách hàng hiểu biết hơn về phần mềm nguồn mở và theo đuổi những hệ thống kinh doanh không phụ thuộc vào một nhà cung cấp, Tổng giám đốc Don Klaiss của hãng phần mềm ERP nguồn mở Compiere cho biết.

“Có những vùng trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu và Mỹ Latinh, khuynh hướng ủng hộ nguồn mở là rất mạnh,” Klaiss nói. “Khách hàng rất mệt mỏi vì phải trả phí bản quyền và phí bảo trì cao.”

Một mặt phần mềm nguồn mở có những đặc điểm phù hợp với ERP, mặt khác các thất bại của các phần mềm ERP nguồn đóng quá ầm ỹ cũng làm tăng nhu cầu về ERP nguồn mở, Matt Aslett nhà phân tích phần mềm doanh nghiệp thuộc nhóm 451 cho biết.

Doanh số phần mềm ERP nguồn mở đang tăng vọt. Công ty Compiere năm 2007 tăng 300% và dự kiến cũng tăng như vậy năm 2008. xTuple dự kiến sẽ tăng gấp đôi. Một hãng phần mềm ERP nguồn mở khác, Openbravo, dự kiến doanh số sẽ tăng gấp 3 năm nay và nhân sự sẽ phải tăng gấp đôi.

Cộng đồng nguồn mở tập hợp xung quanh một sản phẩm làm tăng khối lượng công việc thực hiện được lên nhiều lần. Ví dụ, các đối tác và khách hàng của Openbravo hiện đang bản địa hóa sản phẩm của hãng cho 50 nước khác nhau.

Những con số tăng trưởng đó cũng không phải toàn vẹn, nhà phân tích Aslett phát biểu: “ ERP là một trong những lĩnh vực cuối cùng của hạ tầng tin học doanh nghiệp mà phần mềm nguồn mở còn xâm nhập tương đối ít nên các hãng viết phần mềm ERP nguồn mở có thể hy vọng doanh số sẽ tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới. Tuy nhiên cần nhớ rằng, các hãng đó xuất phát từ con số không trong khi doanh số của các hãng phần mềm nguồn đóng nổi tiếng đã lên tới hàng tỷ đô la”.

Tuy nhiên, giám đốc Mitja của Openbravo tin rằng các hãng phần mềm ERP nguồn mở đang bán một thứ mà các hãng ERP nguồn đóng không thể bán được: các khách hàng có thể tự do kiểm soát những hệ thống tối quan trọng của mình không phụ thuộc vào công ty tin học bên ngoài.

Thư giãn: chơi Linux được gì, mất gì?

Chưa nói đến những ý nghĩa lớn lao tầm vĩ mô, đối với một người ham mê tin học có đầu óc loại trung bình khá trở lên, “chơi” Linux là một cuộc chơi đầy hào hứng, liên tục đổi mới, liên tục khám phá mà lại đơn giản, rẻ tiền.

Chỉ cần ở trình độ trung bình, sau một thời gian “chơi” nguồn mở, bạn sẽ nhìn những người đang ngoan ngoãn đi theo Bill Gate với tâm trạng đầy thương cảm. Tại sao những “phi công trẻ” đầy sức sống như vậy lại cam chịu lẩn lút hoặc mất tiền để “lái máy bay bà già” Windows, chờ dài cổ mấy năm mới được ban phát một điều mới, nhất cử nhất động phải theo khuôn phép dotNet, Visual Basic, luôn luôn nơm nớp sợ sida, virus, spyware, ngay từ phút đầu tiên đã phải “mặc áo mưa” Norton Antivirus, … trong khi có vô số các “em” Linux trẻ trung (vd: PCLinuxOS mới bắt đầu năm 2003), xinh đẹp (hãy thử Compiz, Berill, Metisse,…) và hiện đại, đầy cá tính, phong phú (gần 400 hệ Linux và hàng chục nghìn phần mềm nguồn mở) vây quanh? Nếu khó tính, không ưng em nào, bạn có thể tự lắp cho mình một em hoặc “phẫu thuật thẩm mỹ” một em có sẵn.

Tha hồ chọn lựa, không mất tiền, không sợ công an văn hóa sờ gáy vì vi phạm bản quyền, không sợ bệnh tật phải mặc áo mưa, liên tục khám phá, liên tục đổi mới, tay nghề lên trông thấy, từ một ngôi làng quen thuộc bước ra cả một thế giới mới rộng lớn, bạn còn mong gì hơn thế?

Dân xứ Nghệ với đầy lòng tự hào về tinh thần, trình độ học hành, tính cục bộ địa phương đã thành truyền thuyết mà sau đây vài năm không đẻ ra được một bộ Linux chứa đầy “Nghệ ngữ” và đặc thù xứ Nghệ thì …. chẳng còn gì mà nói nữa.

Với một ổ cứng phổ thông bây giờ, chia ra thành 5-6 partition mỗi cái khoảng 4GB, một đường ADSL và một ổ ghi CDROM, bạn có thể cài cùng lúc 5-6 hệ Linux (và Windows) rồi tha hồ mà vọc. Down một bản Linux 700MB ngay với kết nối wifi chỉ mất khoảng tiếng rưỡi là có cái để nghịch rồi. Linux có chu kỳ xuất các phiên bản mới tương đối nhanh (6 tháng hoặc ít hơn) và với gần 400 hệ Linux hiện có với nhiều ý tưởng rất mới lạ, chỉ sợ không có sức tìm hiểu. Khi đã nắm vững một hệ, việc tìm hiểu hệ khác không có khó khăn gì nhiều vì về cơ bản các hệ Linux đều chung phần lõi (kernel) và chung môi trường đồ họa (KDE, GNOME, …), chỉ khác nhau về quan điểm thiết kế và các tiện ích đi kèm.

Ngay với một hệ Linux, khám phá kho phần mềm nguồn mở miễn phí tràn ngập trên Internet cũng là niềm say mê bất tận. Mỗi một mục tiêu ứng dụng đều có vài phần mềm khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, cạnh tranh với nhau, chỉ cần tải về cài, tha hồ mà thử.

Ban đầu thì khó (cũng như khi mới học Windows), khi đã quen rồi thì chỉ là thời gian. Người chơi trung bình cũng học được khá nhiều điều. Ví dụ với máy in, bạn sẽ biết rằng hiện có nhiều protocol in khác nhau, do đó có nhiều dự án viết driver, một số loại máy in phải tải firmware về máy mỗi khi khởi động, v.v… Kiến thức chung sẽ khá hơn là chỉ việc đút cái đĩa driver Windows có sẵn vào cài. Bạn có thể tự mình cài cả một hệ máy chủ phức tạp theo những hướng dẫn từng bước có sẵn trên Internet với rất nhiều những kiến thức liên quan cũng có sẵn trên Internet. Trình độ của bạn sẽ cơ bản, chắc chắn hơn là cài máy móc môt bộ Windows server.

Một điều mọi người hay thắc mắc khi tìm hiểu về phần mềm nguồn mở: “Bọn nó được gì khi mất thời gian, công sức vào những việc không công như vậy?” Nếu là cao thủ thì khỏi phải bàn. Bạn sẽ có một sân chơi quốc tế để thể hiện tài năng khi công việc kiếm cơm mà cơ quan giao cho không cho phép bạn làm điều đó. Đây có lẽ là một trong những lý do tại sao dân lập trình nguồn mở lại lao vào những dự án không công đến như vậy. Lợi ích: một chỗ thể hiện tài năng, một nhóm những người cùng ham mê, một nơi có người chỉ bảo, hướng dẫn, một lớp học không mất tiền. Cao hơn nữa, nếu bạn cho rằng “như thế này không đúng”, chẳng có gì ngăn cản bạn, không phải xin phép sếp hay công ty, bạn hãy chứng tỏ “làm như thế này mới hay”, dựng riêng một hệ Linux hay phần mềm với đội ngũ “nhân viên” toàn các cao thủ “quốc tế” khác trên nền thành quả của những người khác mà chẳng có ai có quyển kiện tụng đòi ăn chia hoặc hưởng bản quyền. Khi đã thành danh, bạn có thể chìa những kết quả đó ra với công ty cũ hoặc mới để được hưởng những cái xứng đáng hơn.

Mất gì? Mất thời gian, công sức. Những ngày nghỉ, giờ nghỉ, thay vì có “bà già Windows” lo cơm ngon, canh ngọt ở nhà, bạn phải dẫn các em Linux đi chơi, chịu tất cả những cái nhõng nhẽo, thất thường của tuổi mới lớn (khi gõ những dòng này, thỉnh thoảng tôi phải Ctrl+Shift hai lần để gõ tiếp tiếng Việt vì lỗi của x-unikey-1.0.4). Nguy hiểm nữa nếu bạn dẫn em diễu qua mặt sếp, nhất là những sếp đại thụ về tin học. Tuổi già, có vợ có con, nhìn lũ trẻ nhởn nhơ vừa thèm vừa tức, bạn chết là cái chắc trừ khi gặp ông sếp chịu chơi.

Nếu bạn lại muốn vận động dùng Linux ở cơ quan thì bạn đúng là một Đông Ki sốt thời hiện đại. Bill Gate là một giáo chủ đầy quyền năng có hàng trăm triệu tín đồ sùng đạo (và lười thay đổi), là ông trùm ma túy quốc tế đã thành công gây nghiện cho cả thế giới (cai nghiện là điệp vụ bất khả thi, cái đấy ai cũng biết). Dấn thân vô chống lại ổng, sứt đầu mẻ trán là cái chắc. Chỉ cần một trong những tín đồ của ổng, có quyền có chức có quan hệ, bĩu môi một cái là bạn thân bại, danh liệt.

Rất ít người trong đám tín đồ ấy biết rằng chính giáo phái của mình cũng đang nao núng trước sức tấn công đầy ma lực của các nàng Linux trẻ trung và đang có những bước tiến để cải lão hoàn đồng, phẫu thuật thẩm mỹ cho bà lão của mình như một số post trong blog này đã viết.

Tương lai chắc chắn thuộc về bạn!!!

Máy chủ tý hon trong thế giới Linux

Khi bước chân vào thế giới Linux, ta biết rằng có các hệ Linux Hồi giáo, Linux Thiên chúa giáo, Linux Quỷ Sa tăng, Linux dành cho người lập trình, Linux chuyên về sinh học, v.v…Cũng chẳng có gì cản trở việc sẽ ra đời một bộ Linux Nghệ an với bộ từ điển, giao diện, …. gồm toàn từ đặc trưng của xứ Nghệ. Ta cũng biết rằng đại đa số siêu máy chủ lớn nhất thế giới chạy Linux. Bài này xin giới thiệu một máy chủ tý hon trong thế giới Linux.

Tuần vừa qua, Plat’Home, một công ty Nhật chuyên về dòng máy chủ Linux siêu nhỏ (MicroServer), vừa giới thiệu vào thị trường Mỹ một sản phẩm mới: máy chủ Linux siêu nhỏ OpenBlockS với các đặc điểm chính sau:

  1. Kích thước: 114,5mm x 81mm x 38mm, trọng lượng 255g (nằm gọn trong lòng bàn tay).
  2. Không có quạt làm mát: thiết kế tối ưu để tỏa nhiệt qua vỏ nhôm, có thể làm việc trong môi trường đến 40 độ C.
  3. Không có ổ cứng. Chỉ có bộ nhớ ROM 16MB và khe cắm card Compact Flash. (và cổng cắm ổ cứng IDE ngoài nếu cần)
  4. Do hai đặc điểm trên, máy không có các bộ phận cơ khí chuyển động. Do vậy ít bị hỏng hóc hơn.
  5. Cài sẵn hệ điều hành SSD/Linux trên ROM. Có thể cài các hệ Linux khác như NetBSD và Debian.
  6. Trên hệ SSD/Linux đã cấu hình sẵn các máy chủ sau:
  • DHCP server, DNS server
  • FTP server, HTTP server
  • Mail server, Telnet server
  • Firewall

Máy chủ OpenBlockS đã được sử dụng tại viện Nghiên cứu quốc gia Thực phẩm và Nông nghiệp Nhật. Viện có 100 chi nhánh trong toàn nước Nhật, dùng 90 máy OpenBlockS để theo dõi tình trạng của 400 máy tính của viện trong toàn quốc.

Các hệ điều hành Windows, Linux nhỏ gọn chạy trên điện thoại di động và thiết bị cầm tay là chuyện bình thường. Nhưng máy chủ nhỏ như thế này thì thật là lạ!!!

Chi tiết xem thêm tại đây.

Hình bên ngoàiBên trongj Mặt trước

Thi hack ba hệ điều hành lấy 20.000USD

Một cuộc thi hack máy tính mới đây được tổ chức. Ba chiếc notebook cài các hệ điều hành Windows Vista, Mac OS X và Ubuntu Linux với các bản vá lỗi mới nhất. Cuộc thi tiến hành trong ba ngày. Trong ngày đầu, người nào hack được máy nào sẽ được thưởng 20.000 USD và chiếc máy tính đó. Sang ngày thứ hai, giải thưởng rút xuống còn 10.000 USD + notebook và tới ngày thứ ba thì chỉ còn 5.000 USD. Luật chơi cũng nới lỏng dần: trong ngày đầu chỉ được tấn công hệ điều hành, sang ngày thứ hai được phép khai thác lỗi của các phần mềm tiêu chuẩn và tới ngày thứ ba thì được dùng mọi biện pháp có thể.

Máy đầu tiên bị hạ vào ngày thứ hai là MacBook Air chạy hệ điều hành Mac Leopard khi một lỗi trong trình duyệt Safari bị khai thác. Sang ngày thứ ba, đến lượt chiếc laptop Fujitsu U810 cài Windows Vista bị hạ khi các hacker khai thác một lỗi trong phần mềm Adobe Flash.

Hết thời hạn ba ngày, duy nhất chỉ còn chiếc Sony Vaio cài Ubuntu Linux là trụ vững được, chưa bị hack. Nếu cho thêm thời gian? Không ai biết được. Dù sao Linux cũng phần nào chứng minh được tiếng tăm an toàn của nó xưa nay.

Cuộc thi này nối tiếp cuộc thi năm ngoái chỉ nhằm hack hệ điều hành Mac OS X. Chi tiết xem thêm tại đây.

Tin ứng dụng phần mềm nguồn mở 2008 (2)

Cộng đồng châu Âu sẽ mua phần mềm nguồn mở

Tin của báo International Herald Tribune.

BRUSSELS: Trong vài ngày tới, Ủy ban châu Âu (The European Commission – cơ cấu điều hành Cộng đồng châu Âu) sẽ đề xuất mua nhiều phần mềm nguồn mở hơn cho các máy tính của họ,một người phát ngôn của Ủy ban cho biết hôm thứ tư vừa qua.

……… Tháng 9 năm ngoái, chính phủ Đức đã tuyên bố rằng họ ủng hộ các “chuẩn mở” khi mua các phần mềm cho máy tính để bàn. Singapore đã ngừng dùng Microsoft Office từ năm 2004 và thành phố Munich (Đức) đã quyết định dùng hệ điều hành Linux thay cho Windows.

Jesse Verstraete, người phát ngôn của Microsoft tại Brussels, từ chối bình luận tin này.Ủy ban sẽ sớm ban hành một tài liệu chiến lược (strategy paper) về việc sử dụng nhiều phần mềm nguồn mở hơn, Valerie Rampi người phát ngôn cho Siim Kallas, ủy viên châu Âu chịu trách nhiệm về các công tác hành chính cho biết. Tài liệu sẽ nói rằng nên mua phần mềm nguồn mở nếu nó không đắt hơn và đáp ứng được các quyền lợi tốt nhất của các công dân châu Âu.

Ủy ban châu Âu hiện có khoảng 32.000 viên chức, chủ yếu làm việc tại Brussels, trước đây đã có một vài bước tiến tới dùng phần mềm nguồn mở trong các cơ quan của Ủy ban.

Nhưng Carlo Piana, một luật sư của Tổ chức Phần mềm Tự do châu Âu, nói việc chấp nhận dùng phần mềm nguồn mở của các chính phủ còn chậm. “Có một khoảng cách giữa việc đề nghị và việc chấp nhận. Thực hiện một chính sách đòi hỏi phải có thời gian”.Động thái trên diễn ra sau khi Ủy ban châu Âu đã theo hai vụ kiện chống độc quyền với Microsoft. Tháng giêng vừa qua, các nhà làm luật châu Âu đã mở cuộc điều tra xem Microsoft có dùng vị trí thống trị của mình về trình soạn văn bản và bảng tính để gây trở ngại cho các đối thủ cạnh tranh không và liệu việc Microsoft tích hợp trình duyệt của mình (Internet Explorer)  vào Windows có phải là bât hợp pháp không.

(Cuối tháng 2/2008, Ủy ban châu Âu đã quyết định phạt Microsoft 899 triệu ơrô (1,35 tỷ đôla) do vi phạm luật chống độc quyền và không chịu chấp hành một phán quyết trước đó năm 2004. Tổng số tiền phạt hiện lên tới 1,68 tỷ ơrô).

BBC dùng Linux để sản xuất các chương trình TV

Tin của tạp chí ComputerWorld UK.

Các băng từ số hóa đắt tiền và dễ lỗi đã buộc BBC phải chuyển sang dùng các máy tính Linux để sản xuất các chương trình TV của họ.Phát biểu tại cuộc họp hàng năm về phần mềm nguồn mở và Linux Melbourne, Australia, nhà nghiên cứu của BBC Stuart Cunningham cho biết việc copy các băng từ số hóa chậm vì phải làm theo thời gian thực.

“Chìa khóa để giải quyết bài toán băng từ là dùng các file chuẩn hóa theo format MXF (material exchange format) vì chúng chiếm ít chỗ lưu trữ hơn, ” Cunningham nói.

Để giải quyết vấn đề này, nhóm nghiên cứu của BBC đã xây dựng hệ thống Ingex để sản xuất các chương trình TV dùng Linux….”Ingex là một hệ thống sản xuất giá rẻ, dựa trên các file dùng các máy tính PC có card SDI bắt tín hiệu video từ trường quay, mã hóa theo chuẩn ffmgep rồi ghi thành file MXF, lưu trữ trong các máy chủ lưu trữ mạng NAS hoặc ổ USB chuyển cho bộ phận sử lý hậu kỳ”.

Phần mềm Linux máy chủ (update 7/3/08)

Lĩnh vực phát triển đầu tiên và cho đến nay vẫn mạnh nhất của phần mềm nguồn mở là phần mềm máy chủ. Các bài viết thuộc category “Vấn đề phần mềm nguồn mở” (nhấn vào từ này trong mục Phân loại ở cột bên phải blog) trong blog này đã giới thiệu các địa chỉ ứng dụng cụ thể (ví dụ xem bài “Tình hình ứng dụng phần mềm nguồn mở 2007“).

Bài này giới thiệu thông tin cụ thể về vài loại phần mềm Linux máy chủ nhằm giúp người đọc có khái niệm. Các phần mềm nêu dưới đây đều chạy trên máy chủ Linux, có thể nguồn mở hoặc đóng, miễn phí hoặc có phí.

1- Dịch vụ thư mục: giao thức truy cập thư mục LDAP ( Lightweight Directory Access Protocol) được thực hiện cụ thể bằng một loạt phần mềm. Microsoft Active Directory là dạng LDAP dành cho môi trường Windows. Các phần mềm Linux máy chủ LDAP gồm có:

Trong môi trường máy trạm hỗn hợp Windows, Linux, có thể cài máy chủ Samba + OpenLDAP dùng làm Domain Controller cho mạng, đồng thời là File server và Print server theo hướng dẫn ở đây. (trong hướng dẫn dùng hệ điều hành Ubuntu server nhưng có thể tham khảo để cài cho các hệ điều hành máy chủ Linux khác).

2- File server và Print server:  phần mềm máy chủ File server và Print server nổi tiếng nhất là Samba. Tham khảo cách dùng SUSE Linux làm file server ở đây, và đây. Dùng RedHat làm file server xem ở đây.

3- Trong họ các hệ Linux Ubuntu, có hệ điều hành máy chủ Ubuntu Server. Theo hướng dẫn tại đây, ta có thể cài thêm lên đó các phần mềm máy chủ:

  • Web Server: Apache 2.2
  • Database Server: MySQL 5.0
  • Mail Server: Postfix
  • DNS Server: BIND9
  • FTP Server: proftpd
  • POP3/IMAP: Courier-POP3/Courier-IMAP.
  • Webalizer để theo dõi thống kê website.

Tất cả các phần mềm nêu trên đều là nguồn mở chạy trên Linux. Cần chú ý đây chỉ là một ví dụ. Tìm trong site www.howtoforge.com và trên Internet còn nhiều hướng dẫn khác nữa.

4- Các loại phần mềm theo dõi và quản lý mạng (Network monitoring and management) có khá nhiều. Phần mềm Hyperic HQ quản lý một loạt các loại phần mềm máy chủ: web servers, application servers, databases, operating systems, messaging servers, directory servers, virtualization, ….Một ví dụ cài Hyperic HQ xem tại đây. Tại đây hướng dẫn cách cài hệ quản lý mạng Nagios. Hãng ManageEngine cung cấp các phần mềm quản lý mạng WAN, Data Center, Desktop…. (search “linux network monitoring”). Các công cụ theo dõi băng thông mạng (bandwith) xem tại đây.

5- Các phần cứng và phần mềm nguồn mở Vyatta cung cấp giải pháp router, firewall và VPN thay thế Cisco.

6- Hệ thống máy chủ lưu trữ RAID mềm Linux (RAID Storage Server with Linux) có thể dùng thay các hệ lưu trữ mạng có các ổ RAID cứng hiện thời.

7- BackupPC là phần mềm nguồn mở dùng làm máy chủ Backup cho cả các máy Linux và Windows. Ngoài ra còn Amanda, Bacula, ….

8- Các máy chủ Linux hiện nay có một nhược điểm chung là dùng giao diện dòng lệnh để cài đặt và quản lý. Zero Touch Linux là hệ Linux dùng giao diện web cài và quản lý các Web server, Mail server, DNS server,
Domain Controler, File Server, Printer Server, Database server, DHCP server, Proxy servers, Firewall servers.

9- Web server nguồn mở Apache hiện vẫn giữ vị trí thống trị trong thị trường web server theo thông tin tại đây. Danh sách hàng chục loại Mail server xem tại đây. So sánh một số Mail server nguồn mở xem tại đây. Thống kê mới nhất về tỷ lệ thị trường của các loại Mail server có tại đây.

10- Trong lĩnh vực các phần mềm cộng tác (Collaborative software) cũng có rất nhiều phần mềm nguồn mở ngoài bộ đôi Exchange – Outlook của Microsoft. Một trong những phần mềm đó là Open-Xchange.hoặc Zimbra.

11- Các cơ sở dữ liệu nguồn mở nổi tiếng nhất có MySQLPostgreSQL.

12- Danh sách một số phần mềm Hoạch định tài nguyên hệ thống nguồn mở (ERP – Enterprise Resources Planning) xem tại đây . Trong đó, phần mềm ERP5 quảng cáo là có thể thực hiện như ERP / CRM / MRP / SCM / PDM cho các nhà máy cũng như cơ quan hành chính. Phần mềm nguồn đóng thương mại nổi tiếng nhất thuộc loại này là SAP.

13- Phần mềm tổng đài điện thoại nguồn mở Asterisk xem tại đây. Cách cài đặt.

14- Xaraya là phần mềm khung để tạo các ứng dụng web (application framwork). Xoops là hệ quản trị nội dung (CMS – Content Management System) nguồn mở dùng tạo các ứng dụng web động, các portal. Một hướng dẫn cài đặt tại đây.

15- Cài đặt một máy chủ Fax dùng phần mềm nguồn mở HylaFax server xem tại đây.

Trên đây chỉ là một số ví dụ giúp hình dung phần mềm máy chủ linux đa dạng, phong phú và đầy đủ như thế nào. Để ứng dụng, cài đặt cụ thể cần phải nghiên cứu, tìm hiểu thêm nhiều. Các phần mềm nêu ở trên không nhất thiết là nổi tiếng nhất, tốt nhất hoặc phù hợp nhất với các yêu cầu cụ thể. Trong lĩnh vực phần mềm nguồn mở nói chung (kể cả phần mềm máy chủ lẫn phần mềm ứng dụng trên máy để bàn) một thói quen đầu tiên nên có là “Search theo keyword“. Cần bất cứ thứ gì, bạn hãy gõ lệnh search là sẽ có vô số thứ miễn phí để tải về cài và tìm hiểu, kể cả các hướng dẫn chi tiết đến từng bước.

Microsoft mở cửa cho cộng đồng nguồn mở

(Lược dịch. Bản tiếng Anh đọc tại đây. Các đoạn in nghiêng là lời người dịch)
by Glenn Chapman Thu Feb 21, 3:47 PM ET
Như tôi đã viết trong một post hôm 10/2/08 “Microsoft đang chuyển sang phần mềm nguồn mở!” Đọc tin dưới đây, bạn sẽ thấy điều đó đang ngày càng hiện thực. Microsoft vừa mới thực hiện một bước ngoặt “Thay đổi chiến lược” như chính hãng nói vậy. Cộng đồng những người yêu mến Linux nên cảm thấy lo lắng! Nếu một ngày nào đó, Microsoft quyết định công bố bản Windows Community Edition nguồn mở trên site của mình thì đó có lẽ là ngày cáo chung của Linux trên lĩnh vực máy để bàn. Phần mềm nguồn mở bấy giờ sẽ là phần mềm chạy trên Windows, theo các công nghệ của Microsoft với một sức mạnh không gì ngăn nổi của một thị phần hơn 90% trên desktop và một đội ngũ cực lớn những lập trình viên đã thành thạo Windows. Tất nhiên, người hưởng lợi lớn nhất vẫn là người sử dụng.
Microsoft không tự nguyện mở hóa. Họ làm điều đó dưới áp lực của các luật chống độc quyền của châu Âu, các phán quyết chống lại Microsoft gần đây của tòa án châu Âu, trước sức phát triển ngày càng mạnh của trào lưu nguồn mở và cả với đầu óc kinh doanh siêu đẳng trước một cơ hội mới, một mô hình kinh doanh mới.
Liệu kịch bản Internet Explorer đè bẹp Netscape có lặp lại không? Chúng ta hãy cùng chờ xem.

SAN FRANCISCO (AFP) – Theo hãng thông tấn Pháp AFP, hôm thứ ba (19/2/08) Microsoft tuyên bố rằng sẽ tăng cường tính mở các phần mềm của mình để làm dịu bớt các quy định chống độc quyền và làm vui lòng các doanh nghiệp đang hướng về những hệ thống máy tính đa dạng hơn.

Microsoft nói họ đang thực hiện những thay đổi rộng lớn đối với các công nghệ và thực tiễn kinh doanh của hãng để các phần mềm của họ tương tác dễ dàng hơn với các đối tác, khách hàng và các đối thủ cạnh tranh.

“Những bước đi này là bước đi quan trọng và là một sự thay đổi có ý nghĩa trong cách chúng tôi chia sẻ thông tin về các sản phẩm và công nghệ của chúng tôi,” Tổng giám đốc Microsoft Steve Ballmer nói. “Mục đích của chúng tôi là thúc đẩy sự tương tác, cơ hội và sự lựa chọn lớn hơn cho các khách hàng và các nhà phát triển phần mềm bằng cách làm cho các sản phẩm của chúng tôi có tính mở hơn và chia sẻ nhiều thông tin hơn về các công nghệ của Microsoft.”

Các nguyên tắc mới được tuyên bố của Microsoft áp dụng cho tất cả các phần mềm bán chạy nhất của hãng và thỏa mãn khuôn khổ bằng phát minh, sáng chế mà các tòa án châu Âu yêu cầu, Brad Smith, luật sư trưởng của Microsoft, cho biết.

“Microsoft đang thực hiện những bước đi cần thiết để đảm bảo rằng hãng tuân thủ đầy đủ luật châu Âu,” Smith nói trong cuộc họp báo “Việc tuyên bố về tính tương tác tạo nên một bối cảnh pháp lý thay đổi đối với Microsoft và ngành công nghiệp phần mềm.”
Các nhà luật pháp châu Âu phản ứng lại tin nói trên bằng một tuyên bố hoài nghi rằng họ ghi nhận ý định của Microsoft cải thiện tính tương thích phần mềm của hãng với các sản phẩm cạnh tranh nhưng vẫn bày tỏ quan tâm về việc chống độc quyền.
Ủy ban châu Âu nói rằng “tuyên bố này không liên quan gì đến vấn đề Microsoft có thỏa mãn hay không các luật chống độc quyền châu Âu trong lĩnh vực này trước đây”.
Ủy ban này từ lâu đã lên án Microsoft lạm dụng sức mạnh khống chế thị trường bằng cách làm cho các phần mềm của hãng không tương thích với các sản phẩm cạnh tranh.
Năm 2004, Cộng đồng châu Âu đã phạt Microsoft gần 500 triệu ơrô (741 triệu đôla) vì đã lạm dụng sức mạnh khống chế thị trường.
Một cuộc điều tra mới của Ủy ban châu Âu đang xem xét tính tương tác của một loạt các phần mềm của Microsoft, kể cả bộ Microsoft Office, với các sản phẩm cạnh tranh.

Tổng giám đốc Microsoft, Ballmer, nói trong cuộc họp báo rằng hãng đang hậu thuẫn những tuyên bố của mình bằng hành động: công bố lên Internet hơn 30.000 trang thông tin về các giao thức của các phần mềm trước đây được giữ bí mật cho bất kỳ ai muốn xem.

“Bước đi hôm nay chắc chắn khác về cả mặt chất lượng lẫn số lượng so với bất kỳ bước đi nào trước đây mà hãng đã từng thực hiện,” Ballmer nói. “Chúng tôi thực hiện các điều hãng đã cam kết không chỉ bằng lời nói mà còn bằng những hành động theo đúng hoàn toàn các nguyên tắc đã công bố.”

Microsoft nói họ sẽ công bố thêm hàng nghìn trang thông tin về các giao thức phần mềm trên website của hãng trong những tuần tới.

Các giao thức này, trước đây chỉ mua được bằng tiền, sẽ chỉ cho các nhà lập trình làm thế nào để phần mềm của họ có thể thông tin và trao đổi dữ liệu với các phần mềm phổ biến của Microsoft như Outlook.

………

Microsoft nói các nguyên tắc mới của hãng bao gồm đảm bảo kết nối mở, hỗ trợ trao đổi dữ liệu, tạo thuận lợi gắn kết chặt chẽ hơn với cộng đồng nguồn mở.

Cộng đồng này có thể tự do tùy biến để phần mềm của họ làm việc với các phần mềm của Microsoft, nhưng nếu họ bán phần mềm của họ thì Microsoft sẽ thu phí, theo Ballmer cho biết.

“Theo một nghĩa nào đó thì chúng tôi đang mở hóa nhưng chúng tôi vẫn giữ quyền sở hữu các tài sản tri thức đáng giá,” Ballmer nói. “Thông điệp rõ ràng là các bằng phát minh sáng chế sẽ chỉ có được nếu trả phí phù hợp.”

Thông cáo báo chí của Microsoft về bước thay đổi chiến lược này xem tại đây. Một số dư luận ban đầu xem tại đây. Trong bước đi này, Microsoft mới chỉ công khai hóa các giao thức (protocol) của các phần mềm để các phần mềm khác có thể giao tiếp, trao đổi dữ liệu dễ dàng với các phần mềm của hãng. Nếu trước đây, một phần mềm email client (KMail, Thunderbird,…) muốn kết nối đầy đủ với Exchange phải mua các thông tin về giao thức của Exchange (như Zimbra đã làm) thì nay không cần nữa. Thunderbird hiện chỉ có thể lấy email từ Exchange qua giao thức POP, không đọc mail trực tiếp trong Exchange như Outlook được.
Như vậy là Microsoft đã mở hóa một số thông tin kỹ thuật. Tiếp theo, họ có nguồn mở hóa – công khai mã nguồn của các phần mềm không?

Một tập đoàn ngân hàng Mỹ chuyển sang Linux

Bank group takes Linux migration a step at a time

By Tina Gasperson on February 20, 2008 (9:00:02 PM)

Tập đoàn ngân hàng Metropolitan ( Metropolitan Bank Group) là một tổ hợp ngân hàng lớn ở Illinois gồm 10 ngân hàng và 3 tỷ USD tài sản. Khi tập đoàn phát triển, giám đốc Tin học Tom Johnson phải tìm cách giảm chi phí và tăng hiệu quả tin học trước sự phát triển nhanh của tập đoàn. Giải pháp được chọn là chuyển từ Windows sang Linux.

Vì tập đoàn phát triển bằng cách sáp nhập các ngân hàng khác, Johnson thấy các nhân viên tin học của mình mất rất nhiều thời gian kết nối các văn phòng ở xa vào mạng của tập đoàn và hỗ trợ kỹ thuật, giải quyết sự cố. Quản lý các mạng ở xa bằng Windows thì đắt tiền nên Johnson quyết định chuyển từ Windows sang Novell và SUSE Linux. “Chúng tôi thích ý tưởng có một tổ chức mở,” Johnson nói, “và một hạ tầng mạng có thể hỗ trợ mọi thứ”

Khi Metropolitan bắt đầu chuyển sang Linux, Johnson cho biết ông thấy độ tin cậy và hiệu quả tăng ngay lập tức mà chi phí lại thấp. “Có lẽ chức năng quản lý từ xa của ZENworks mang lại sự bùng nổ lớn nhất. Đội ngũ nhân viên tin học ngồi tại chỗ đáp ứng tốt hơn với các yêu cầu hỗ trợ của user.” (ZENworks là bộ phần mềm quản lý hệ thống máy tính của Novell)

Hiện nay, hạ tầng tin học của Metropolitan đã hoàn toàn dùng Linux và đang tiếp tục chuyển các phần mềm ứng dụng sang Linux, kể cả một hệ thống gán nhãn tin học (IT ticketing system) chuyển từ Windows và SQL Server sang MySQL, tiết kiệm cho tập đoàn trên 17.000 USD một năm.

Johnson cho biết thách thức lớn nhất khi chuyển các phần mềm máy chủ là “quản lý được các rủi ro khi khai triển một nền tảng nguồn mở như Linux.” Vấn đề lớn nhất với một ngân hàng có các tác nghiệp sống còn khi chuyển đổi là vấn đề hỗ trợ. “Nhưng Novell đã đáp ứng tốt và không có gì phải lo lắng nữa.”

Linux, opensource trong một vài danh sách TOP

1- TOP 500 siêu máy tính mạnh nhất thế giới

Trong danh sách TOP500 siêu máy tính (supercomputer) mạnh nhất thế giới tháng 11/2007, 85% chạy Linux (426 máy), 6,8% chạy hệ điều hành hỗn hợp (34 máy), 6% chạy Unix (30 máy) và 1,2% chạy Windows (6 máy).
Trong cũng danh sách này vào tháng 6/2007, Linux chiếm 77,8% và chỉ có 2 máy chạy Windows.
Các máy tính trong danh sách được xếp hạng căn cứ vào kết quả phép thử Linpack (Linpack benchmark) giải một hệ phương trình tuyến tính lớn.
Siêu máy tính mạnh nhất thế giới hiện nay (đứng số 1 trong danh sách trên) là BlueGene/L System do công ty máy tính IBM và Cục An ninh hạt nhân Quốc gia thuộc bộ Năng lượng Mỹ cùng xây dựng. Siêu máy tính này có cấu hình: gồm 212′992 bộ vi xử lý PowerPC 400 700MHz, năng lực tính toán: 478,2 tỷ tỷ phép toán dấu phẩy động trong một giây (teraFLOPS), bộ nhớ RAM 73′728 GB, chạy hệ điều hành hỗn hợp CNK (Compute Node Kernel)/SLES9 (SUSE Linux Enterprise System 9). CNK là một phần nhân Linux rất nhỏ chỉ có 5000 dòng lệnh.

2- TOP 100 công ty lớn nhất nước Mỹ

Trong danh sách Fortune 500 năm 2007 các công ty lớn nhất nước Mỹ xếp theo doanh thu, ta hãy xét TOP100 công ty thuộc danh sách đó.

Công ty số 1 trong danh sách là Wal-Mart, hệ thống bán lẻ hàng đầu Mỹ vừa mua Linux tháng 1/2007 theo thông báo ở dây.
Các công ty số 14,15 và 49 là những công ty rất hăng hái trong lĩnh vực phần mềm nguồn mở theo những thông tin chi tiết ở đây ở đây.
Công ty số 28 đang xây dựng hệ điều hành Linux cho quân đội Mỹ
Các công ty số 13 và 22 nói rằng họ tiết kiệm được hàng triệu đô la nhờ dùng Linux.
Nếu ta chọn ngẫu nhiên một công ty trong danh sách đó, ví dụ công ty thứ 17 Home Depot, rồi hỏi cụ Gúc “Home Depot linux”, ta sẽ được cái link nói thế này: “The Home Depot are firmly embracing Linux and JavaPOS as viable platforms for their store operations.”.

Search thử công ty số 9 “Bank of America linux” ta sẽ được cái tin này ” Bank of America has embarked on a global grid computing project linking computer nodes across three of its key trading centers—New York, Chicago and London ….Almost all of the individual compute nodes are blade servers running Linux, because of its favorable cost-to-performance ratio”.

Search thử … mà thôi có lẽ thế cũng đủ rồi. Có thể xem thêm ở đây.

3- TOP tổ chức lớn nhất Việt nam

Đảng Cộng sản VN quyết định như thế này. Còn đây là ngành giáo dục.
Tập đoàn kinh tế Vinashin chủ trương :”Trong hệ thống tin học của Tập đoàn, dùng phối hợp cả phần mềm nguồn mở và phần mềm nguồn đóng một cách hợp lý nhắm nâng cao hiệu quả, tiết kiệm chi phí”.
Công ty tin học hàng đầu Việt nam FPT thì có một hệ điều hành nguồn mở FOOD và một lô sản phẩm nguồn mở khác do công ty con FPT Open Solutions xây dựng.

Cám ơn một comment trong mục Giới thiệu đã gợi ý cho tôi viết bài này. Lời khuyên:”Gúc bẩy lần trước khi gõ bàn phím”.

Microsoft đang chuyển sang phần mềm nguồn mở!!!

Đây không phải là một câu chuyện “cá tháng 4″. Cộng đồng nguồn mở coi Microsoft như một kẻ thù truyền kiếp và ngược lại, những tín đồ của Microsoft giáo (nhất là ở Việt nam nơi thiếu thông tin) nhìn nguồn mở với con mắt đầy nghi kỵ, ngờ vực. Bạn hãy tự suy nghĩ và kết luận dựa trên những thông tin sau đây:

Ngày 2/11/2006, Microsoft và Novell đã công bố ký kết một loạt thỏa thuận hợp tác rộng rãi “về tính tương tác và hỗ trợ Windows và Linux”. Novell là một hãng phần mềm nguồn mở nổi tiếng với sản phẩm chính là bộ Novell SUSE Linux Enterprise. Theo thỏa thuận này :”Microsoft will officially recommend SUSE Linux Enterprise for customers who want Windows and Linux solutions. Additionally, Microsoft will distribute coupons for SUSE Linux Enterprise Server maintenance and support – Microsoft sẽ chính thức khuyến nghị SUSE Linux Enterprise cho những khách hàng muốn có giải pháp [hỗn hợp] Windows và Linux. Ngoài ra, Microsoft sẽ phân phối các phiếu hỗ trợ và bảo trì SUSE Linux Enterprise Server”. Nói một cách ngắn gọn là hai hãng sẽ hợp tác để SUSE và Windows tương tác với nhau tốt hơn trong môi trường hỗn hợp và Microsoft sẽ bán SUSE Linux, không còn coi Linux như một căn bệnh ung thư nữa.

Thỏa thuận trên gây tranh cãi sôi nổi trong cộng đồng nguồn mở nhưng hiệu quả kinh tế của nó thì khỏi phải bàn. Ngày 22/1/2007, Microsoft và Novell cùng ra thông cáo báo chí cho biết Wal-Mart Stores Inc.- hãng bán lẻ lớn nhất thế giới và là hãng đứng đầu danh sách Fortune 500 các công ty Mỹ hàng đầu thế giới năm 2007- đã mua SUSE Linux Enterprise Server từ Microsoft ” Under the agreement, Microsoft will deliver SUSE® Linux Enterprise Server subscription certificates to Wal-Mart for use in Wal-Mart’s IT infrastructure”. Ngày 13/3/2007, HSBC-một trong những tổ hợp ngân hàng-tài chính lớn nhất thế giới đã quyết định chuẩn hóa hạ tầng Linux của mình bằng cách mua SUSE Linux Enterprise Server cũng từ Microsoft “Under the agreement, Microsoft will deliver to HSBC certificates for three-year priority support subscriptions to SUSE® Linux Enterprise Server from Novell”. Tổng kết một năm ký thỏa thuận, liên danh Microsoft – Novell đã có được 30 khách hàng mới. Gần đây nhất, ngày 30/1/2008, Microsoft bán hơn 1000 giấy phép ưu tiên hỗ trợ SUSE cho hãng chế tạo ôtô Renault: “Under the agreement, Microsoft will deliver to Renault more than 1,000 certificates for priority support subscriptions to SUSE Linux Enterprise Server from Novell”. Các thông tin trong hai mục nói trên lấy từ site www.microsoft.com.

Nhân tiện nếu kích vào link Fortune 500, trong danh sách Top 100 chịu khó search sẽ thấy không ít khách hàng, nhà sản xuất, nhà phân phối Linux. Điều đó chắc cũng làm cho Microsoft phải suy nghĩ.

Ngày 20/12/2007, Microsoft đã ký thỏa thuận với tổ chức PFIF (the Protocol Freedom Information Foundation) đồng ý trao các tài liệu kỹ thuật về thủ tục cần thiết để tương tác với các máy chủ nhóm Windows (thực ra, việc này là miễn cưỡng). PFIF sẽ đứng làm trung gian trao các tài liệu đó cho các dự án Phần mềm Tự do. Nhờ việc tiết lộ các tài liệu kỹ thuật này, một trong những nhóm nguồn mở hàng đầu – SAMBA – có thể xây dựng phần mềm của họ tương tác tốt hơn với Windows trong các dịch vụ chia sẻ file và in ấn qua mạng.

Theo một thông tin mới đây, trả lời câu hỏi:” Microsoft định làm gì với phần mềm nguồn mở?” Sam Ramji, giám đốc chiến lược công nghệ nền của Microsoft đã tiết lộ :”Mục tiêu của chúng tôi là Phần mềm nguồn mở chạy trên nền Windows”. Ví dụ: “WAMP” (Windows, Apache, MySQL, PHP/Python/Perl) thay cho LAMP (Linux, Apache, MySQL, PHP/Python/Perl).

Vào trang chủ của Microsoft, search cụm từ “open source” bạn sẽ tìm thấy trang www.microsoft.com/opensource là nơi tập trung mọi thông tin liên quan đến Microsoft và opensource. Trên trang này, MS tuyên bố rằng:
“Microsoft tập trung vào hỗ trợ khách hàng và các đối tác thành công trong một thế giới công nghệ đa dạng. Điều đó được bắt đầu bằng việc [Microsoft] tham gia và đóng góp vào vô số những cách phát triển và triển khai phần mềm, kể cả phương pháp và các ứng dụng nguồn mở…. Microsoft đang liên tục tăng số sản phẩm nguồn mở.”
Các sản phẩm nguồn mở của Microsoft được kể ra gồm hàng chục nghìn dòng mã và script trên các trang MSDNTechNet, các sản phẩm nguồn mở như IronPython (ngôn ngữ lập trình Python chạy trên nền .NET), ASP.NET AJAX, ( các thành phần web-client chạy trên nền ASP.NET), SharePoint Learning Kit (công cụ học xây dựng ứng dụng Windows SharePoint Services) and WiX on CodePlex (WiX – công cụ xây dựng ứng dụng Windows từ mã nguồn XML. CodePlex là website chính thức miễn phí của Microsoft dành cho cộng đồng lưu trữ các dự án nguồn mở dùng bất kỳ công nghệ nào, site này khai trương năm 2006 tương tự như các site SourceForge.net và Freshmeat.net).

Microsoft còn có riêng một đội ngũ phát triển nguồn mở tập hợp trong Open Source Software Lab, có cổng thông tin là Port 25.

Microsoft coi nguồn mở như một “phương pháp phát triển phần mềm – software development method” và vì thế chiến lược nguồn mở của Microsoft là ” The Microsoft open source strategy is focused on helping customers and partners be successful in today’s heterogeneous technology world. This includes increasing opportunities for business partners regardless of the underlying development model. In addition, it includes increasing opportunities for developers to learn and create by combining community-oriented open source with traditional commercial approaches to software development”

Microsoft còn xây dựng một giấy phép “Chia sẻ mã nguồn” (Shared Source License), một tiến bộ so với việc khăng khăng giữ kín mã nguồn trước đây đệ trình tổ chức “Sáng kiến Nguồn mở” (Open Source Initiative) để được công nhận.

Như vậy, với khả năng kinh doanh siêu đẳng, Microsoft chấp nhận Linux ở những nơi không cưỡng lại được (thị trường máy chủ) và đang đi bán Linux Server; tận dụng phong trào nguồn mở: cung cấp tài liệu để cải tiến phần mềm nguồn mở và hỗ trợ cộng đồng nguồn mở để …. sử dụng công nghệ Microsoft và chạy được trên Windows. Tóm lại, mèo trắng, mèo đen gì cũng được miễn là bắt được chuột trong ngôi nhà ở Redmond.

Nếu bạn cần phần mềm nguồn mở cho mạng hỗn hợp Win – Lin, hãy hỏi mua ở Microsoft. Và biết đâu trong tương lai, ta có thể tải bản Windows open source về dùng!!!!. Nên nhớ cách đây không lâu, Novell còn làm bá chủ thị trường hệ điều hành mạng với bộ Novell Netware và Java, Solaris, SPARC còn là công nghệ độc quyền của Sun Microsystems.

Nếu nhìn lại lịch sử thì Microsoft luôn là người đi sau. Họ không phải là người viết ra DOS, giao diện đô họa kiểu Windows là sáng kiến của Apple, phần mềm soạn văn bản WordPerfect và bảng tính Lotus 1-2-3 ra đời trước Word, Excel, trình duyệt web đầu tiên là Netscape, hệ điều hành mạng Novell Netware có trước WinNT, v.v…. Nhưng Microsoft lại có khả năng bắt chước và kiếm tiền cực giỏi trên những cái mà những người khai sáng thất bại về mặt kinh doanh. Năm 2001, trả lời phỏng vấn báo Chicago Sun-Times, Tổng giám đốc Steve Balmer của Microsoft còn gọi Linux là một căn bệnh ung thư, còn bây giờ ta hãy chờ xem.

Vụ chuyển hướng sang Linux lớn nhất từ trước tới nay

Bài dưới đây đăng trên tạp chí The Registry. Bạn có thể nhấn vào đây để xem nguyên bản và các comments. Có thể nhấn vào các link The Washinton Post và Defense News trong bài để biết thêm chi tiết.

Quân đội Mỹ chống lại Windows để xem xét Linux

Vụ chuyển hướng sang Linux lớn nhất cho đến nay.

By Austin ModineMore by this author

Published Tuesday 5th February 2008 20:53 GMT

Qua nhiều thông cáo báo chí trong hai tuần vừa qua, quân đội Mỹ đã biểu lộ tình yêu của họ đối với phần mềm nguồn mở. Quân đội cuối cùng đã có ý định chuyển chương trình vũ khí mới khoảng 200 tỷ USD từ hạ tầng Windows sang hạ tầng Linux.

Nhưng hiện quân đội đã đang chế tạo nhiều những loại vũ khí, phương tiện vận chuyển và thiết bị mới điều khiển bằng Linux trước khi hoàn thiện mạng phần mềm kết nối chúng với hạ tầng Windows hiện có – và như vậy đã đặt chiếc xe trước con ngựa.

Khi quân đội bắt đầu phát triển phần cứng thế hệ mới (gọi là Hệ thống Chiến tranh tương lai – Future Combat Systems, viết tắt FCS), họ nhờ Boeing và SAIC xây dựng một hệ điều hành mới thay cho các phần mềm đã có trong hệ Blue Force Tracking hiện tại.

Blue Force là một hệ thống theo dõi bằng vệ tinh chạy trên nền Windows do công ty cạnh tranh với Boeing là Northrop Grumman thiết kế. Nó đã được dùng trong cuộc chiến tranh Afghanistan năm 2002 và sau này trong cuộc chiến tranh Iraq. Hiện nay cả hai dự án FCS và Blue Force đều đang được tài trợ đồng thời. Trong năm 2008, quân đội sẽ chi 3,1 tỷ USD cho FCS và 624 triệu USD cho Blue Force.

Và trong khi cả hai dự án đều được quân đội bảo trợ, Boeing và Northrop Grumman có vẻ không chia sẻ cảm tình với nhau: FCS chạy trên nền Linux.

Theo báo The Washington Post , “Boeing và bộ Quốc phòng nói rằng họ không dùng phần mềm nguồn đóng của Microsoft vì họ không muốn bị lệ thuộc vào một công ty. Vì thế họ sẽ xây dựng một hệ điều hành Linux dựa trên những mã nguồn đã được công bố công khai”.

Điều đó có thể là một vấn đề lớn cho lữ đoàn đầu tiên các chiến xa thuộc hệ FCS dựa trên Linux dự kiến sẽ ra đời vào năm 2015. Các hệ thống Linux có khả năng tương tác giới hạn với các hệ Windows. Và vấn đề tương tác không phải là vấn đề để mà giải quyết trong những khu vực tác chiến.

Theo tờ Tin tức Quốc phòng ( Defense News )báo online của quân đội Mỹ, họ sẽ thử khắc phục tạm bằng cách dùng hệ điều hành Red Hat Enterprise Linux.

“Red Hat 5 sẽ kết nối Linux với Microsoft và cho phép các lực lượng FCS kết nối với các đơn vị chiến đấu khác,” một sỹ quan quân đội đã nói như vậy với tờ Tin tức Quốc phòng “Đó chỉ là giải pháp tạm thời vì về lâu dài, tất cả các mạng Quốc phòng sẽ dùng Linux.”

Với mục tiêu dài hạn chuyển từ Windows sang Linux, quân đội có vẻ như vẫn chưa biết chắc sẽ phải làm gì. Vì vậy họ đưa 70 nhà lập trình, kỹ sư và các chuyên gia tin học khác đến Washington để vắt đầu vắt óc trong bốn hội nghị thượng đỉnh “Chỉ huy chiến đấu”.

Hai hội nghị đầu đã diễn ra vào tháng 9 và tháng 10/2007 và hai hội nghị sau sẽ diễn ra vào tháng 2 và tháng 4/2008. Vẫn theo tờ Tin tức Quốc phòng, bộ Quốc phòng nói đã có những “tiến bộ” trong việc vạch ra thời biểu cho sự tích hợp [hệ thống Linux].

Lượm lặt về các phiên bản Linux

Năm ngoái, tôi có dịch lại một bản liệt kê 26 phiên bản Linux dựa trên Ubuntu. Nay nếu vào đây xem thì không dịch nổi nữa vì con số đã lên tới 42.  Trong đó có những bản dành riêng cho quản lý doanh nghiệp, cho multimedia, cho giáo dục, cho người theo đạo Thiên chúa hoặc đạo Hồi,…..Tuy nhiên vẫn còn thiếu bộ Ubuntu Ultimate, 1,6GB ghi vào đĩa DVD. Đây là dạng bản full của Ubuntu với cả hai giao diện Gnome và KDE, toàn bộ các ứng dụng. Nếu có được đĩa này mà cài để tìm hiểu thì thôi rồi.

Theo nguyên tắc của phần mềm nguồn mở, bạn có thể lấy hẳn một bộ Linux nào đó, thêm thắt, sửa đổi ít nhiều rồi công bố (thậm chí bản) đó là bản Linux Nguyễn văn A chẳng hạn cũng  không ai kiện cáo gì, miễn là bạn tuân thủ các quy định của giấy phép nguồn mở.

Hiện tại, còn một dự án nguồn mở đang ở dạng alpha có ý đồ xây dựng hẳn một hệ điều hành dựa trên kiến trúc NT của Microsoft, thay cho Windows XP để chạy các ứng dụng của Windows, dùng được các driver của Windows. Kiến trúc NT phát triển từ Windows NT4, đến NT5 (Windows 2000, XP, 2003) rồi NT6 (Vista). Đó là hệ điều hành ReactOS. Hệ này không gọi là Linux vì nó không dùng nhân Linux, kiến trúc Linux. Nó có tham vọng khắc phục được các nhược điểm của cả hai hệ Windows và Linux, nhưng có thành công hay không thì phải chờ thời gian trả lời.

Các thông tin trên cũng cho thấy một lý do tại sao phần mềm nguồn mở lôi cuốn giới lập trình như vậy: nó cho phép tự do sáng tạo, miễn là bạn có đủ khả năng.

Tin ứng dụng phần mềm nguồn mở 2008 (1)

CẢNH SÁT PHÁP CHUYỂN SANG HỆ ĐIỀU HÀNH NGUỒN MỞ.
Theo hãng thông tấn AFP (Pháp), lực lượng cảnh sát bán quân sự Pháp (100.000 người) đã quyết định chuyển từ Microsoft Windows sang hệ điều hành nguồn mở Linux Ubuntu trên 70.000 máy tính trong toàn hệ thống theo một lộ trình từ nay đến hết năm 2014. Như vậy, cảnh sát Pháp hiện là đơn vị hành chính nhà nước lớn nhất thế giới chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở.

Ba lý do chính để chuyển sang dùng Linux là: a/ đa dạng hóa nhà cung cấp, tránh bị phụ thuộc vào một công ty duy
nhất, b/ giúp lực lượng cảnh sát làm chủ được hệ điều hành và c/ giảm chi phí.

Từ năm 2005, cảnh sát Pháp đã chuyển sang dùng OpenOffice nguồn mở, năm 2006 dùng bộ duyệt Internet Firefox và phần mềm thư điện tử Thunderbird nguồn mở và đến nay là hệ điều hành Linux Ubuntu. Mỗi năm sẽ tiết kiệm được 10,3 triệu USD tiền bản quyền cho các máy mới.

Cơ quan quản lý nhà nước đầu tiên ở Pháp chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở là Quốc hội Pháp, năm 2007. (nguồn: http://news.yahoo.com/s/afp/20080130/tc_afp/franceinternetpolice ).

23.000 MÁY TÍNH LINUX TẠO NÊN MỘT CUỘC CÁCH MẠNG GIÁO DỤC TẠI PHILIPPINE.
Mặc dù Microsoft tiến hành một chiến dịch bảo vệ bản quyền quyết liệt, bán Windows 20USD và Office 30USD, đào tạo giáo viên miễn phí, ngành giáo dục Philippine vẫn quyết định chuyển sang dùng phần mềm nguồn mở. Hiện có 13.000 máy cài hệ điều hành Linux Fedora. Một hợp đồng 10.000 máy cài Linux Ubuntu đã được giao tháng 12/2007.
(nguồn: http://www.computerworld.com.au/index.php/id;1163450117;pp;1 )

Ảo hóa môi trường máy tính (Virtualization)

Ảo hóa môi trường máy tính hiện đang là một chủ đề “hot” vì những lợi ích to lớn mà nó mang lại.

Ảo hóa cũng là chủ đề nóng trong thế giới nguồn mở. Các hệ Linux máy chủ hàng đầu hiện nay như Red Hat, Suse đều tích hợp sẵn phần mềm ảo hóa và có nhiều ứng dụng thực tiễn (xem bài “Tình hình ứng dụng nguồn mở 2007).

Bài viết này tập hợp các thông tin trên Internet cố dựng một bức tranh chung về chủ đề đó. Các link trong bài dẫn đến các nguồn tin. Tải file “Ao hoa moi truong may tinh.pdf” tại kho Mediafire

Theo dõi thông tin về phần mềm nguồn mở trên Internet

Mọi thông tin về phần mềm nguồn mở đều có trên Internet: từ mã nguồn (bắt buộc phải công bố công khai cho mọi người tải về) cho đến những hướng dẫn cài đặt tỷ mỷ từng bước một, các diễn đàn để trao đổi và hỏi han.

Vì vậy điều kiện đầu tiên để tìm hiểu nghiên cứu phần mềm nguồn mở là phải biết cách tìm kiếm, theo dõi thông tin trên Internet và phải thường xuyên theo dõi thông tin mới. Cách tìm kiếm phần mềm đã giới thiệu trong các tài liệu và post trên blog này.

Để theo dõi thông tin tổng hợp từ các nguồn khác nhau, có thể dùng các tiện ích My Yahoo, iGoogle,… Ví dụ với My Yahoo:

    1. Khi đã có một account Yahoo, đăng nhập rồi nhấn vào My Yahoo.
    2. Trong trang My Yahoo, nhấn nút Add Page để tạo trang mới My New Page. Nhấn vào chữ My New Page để đổi tên trang thành Linux chẳng hạn.
    3. Trong trang mới nhấn vào Personalize this page rồi nhấn tiếp Add Modules.
    4. Gõ các từ khóa “linux opensource” vào ô Search rồi nhấn Search. Trong danh sách kết quả, xem trước nội dung, chọn add các module cần theo dõi tin vào trang mới tạo.
    5. Các thông tin đã chọn được bố trí trong một trang và thay đổi hàng ngày.

    Đối với iGoogle cách làm cũng tương tự.