Vài thủ thuật OpenOffice Writer

Vài thủ thuật cho OpenOffice Writer.

I- Tiêu đề (Heading)

Heading là các tiêu đề phân theo từng cấp và được đánh số tự động. Ví dụ:

Chương I: Tiêu đề cấp 1

I.1 Tiêu đề cấp 2

I.1.1 Tiêu đề cấp 3

Heading là công cụ rất tiện khi viết và đọc các văn bản dài có cấu trúc.

I.1-Tạo Heading:

Heading đã có sẵn trong danh sách các Style trên Format Toolbar:

Định đặt dòng nào làm Heading thì trước hoặc sau khi gõ xong, để con trỏ chuột ở dòng đó (không cần bôi đen cả dòng) rồi nhấn vào mũi tên trỏ xuống ở ô Style hình trên (bên trái ô Font), chọn Heading trong danh sách xổ xuống.

Heading có sẵn không đánh số ở đầu như trong ví dụ trên. Muốn đánh số tự động, nhấn vào menu Tools > Outline Numbering, màn hình sau xuất hiện:

Trong màn hình trên, chọn từng cấp Heading rồi chọn Number ở dưới. Mục Separator để chọn ký tự phân cách số và text của Heading. Trong ví dụ trên, trước số là từ “Chương”, sau số của Heading 1 là dấu hai chấm và dấu cách như hiển thị trong cột bên phải.

Số đã chọn ở trên sẽ được đánh tự động, người dùng không phải gõ. Khi xóa một heading hoặc di chuyển nó sang vị trí khác, số cũng tự động thay đổi.

Để định dạng Heading theo ý muốn, nhấn vào menu Format > Styles and Formatting. Trong màn hình tiếp, nhấn phím phải chuột vào Heading muốn định dạng lại. Màn hình sau xuất hiện:


Trong màn hình trên có thể thay đổi rất nhiều thứ theo ý muốn.

I.2-Nâng cấp, hạ cấp, di chuyển Heading

Khi con trỏ ở trong vùng một heading nào đó, toolbar sau xuất hiện:

Nhóm bốn nút có mũi tên chỉ sang trái, phải dùng để nâng hoặc hạ cấp heading (ví dụ từ heading 1 xuống heading 2). Nếu một heading định nâng/hạ cấp có các heading cấp thấp hơn ở bên dưới thì dùng nút có hai mũi tên. Khi đó, ví dụ heading 1 xuống thành heading 2 và các heading 2, 3 bên dưới nó sẽ xuống thành heading 3,4.

Nhóm bốn nút có mũi tên chỉ lên, xuống cho phép di chuyển một heading và tất cả phần văn bản bên dưới nó đến vị trí khác. Chỉ cần nhấn chuột vào heading (không cần bôi đen) rồi nhấn nút thích hợp.

I.3-Đọc, di chuyển trong văn bản theo heading:

Khi văn bản đã có heading, nhấn vào menu View > Navigator, cửa sổ sau xuất hiện:

Nhấn chuột vào mép trên cửa sổ, rê nó xuống dưới ô Style đến khi thấy xuất hiện một vạch đen thẳng đứng thì nhả chuột ra. Cửa sổ Navigator sẽ có vị trí mới ở bên trái màn hình. Nhấn vào các dấu + bên trái Heading sẽ thấy như sau:

Muốn di chuyển đến tiêu đề nào thì nhấn chuột vào nó ở cột bên trái. Bật tắt cửa sổ Navigator này bằng nút trên toolbar.

II-Tạo mục lục tự động.

Khi đã thiết lập các tiêu đề bằng Heading như trên thì có thể tạo mục lục tự động. Để con trỏ chuột vào vị trí định tạo mục lục rồi nhấn menu Insert > Index and Tables > Index and Tables. Màn hình sau xuất hiện:

Trong màn hình trên:

  • Title: gõ vào từ “Mục lục” thay cho “Table of Contents”.

  • Type: chọn Table of Contents như hình trên.

  • Protected … được đánh dấu chọn sẵn để không cho thay đổi mục lục bằng tay.

  • Evaluate up to level: mặc định mục lục được lập chi tiết đến heading 10 (nếu có).

  • Outline: đã chọn sẵn, quy định mục lục sẽ lập dựa vào heading.

  • Tab Styles: định dạng cho mục lục. Mỗi cấp mục lục (level) ứng với một style là Contents 1, 2, 3,… Muốn thay đổi Style nào nhấn vào đó rồi nhấn nút Edit ở bên dưới.

Sau khi nhấn OK, mục lục sẽ xuất hiện như thế này:

Mục lục

I- Tiêu đề (Heading) ……………………………………1

I.1-Tạo Heading: …………………………………….1

I.2-Nâng cấp, hạ cấp, di chuyển Heading………. 3

I.3-Đọc, di chuyển trong văn bản theo heading: ..3

II-Tạo mục lục tự động. ………………………………..4

III-Bản mẫu (Template) …………………………………5

IV- Bổ xung tính năng (Extensions) …………………..8

Sau khi đã tạo mục lục, nếu thay đổi các heading (sửa nội dung, chuyển chỗ, xóa hoặc thêm heading, …) mục lục sẽ tự động cập nhật các thay đổi đó khi đóng rồi mở lại file văn bản. Cũng có thể cập nhật mục lục bằng cách nhấn phím phải chuột vào vùng mục lục rồi chọn Update Index/Table.

III-Bản mẫu (Template)

Để soạn một văn bản:

  • Nhanh

  • Thống nhất như nhau cho cùng một loại văn bản

nên dùng các template. Ví dụ tạo một template thông dụng như sau:

Trong màn hình Writer, mở một văn bản mới chưa có tên. Nhấn vào menu Format > Page, rồi chuyển đến tab Page trong màn hình sau:

  • Format: chọn khổ giấy là A4

  • Margins: chọn kích thước các lề giấy theo nhu cầu.

  • Chuyển sang các tab khác (Background, Header, …) để thiết lập nếu cần. Làm xong nhấn OK đóng màn hình lại.

Nhấn tiếp vào menu Format > Styles and Formatting. Trong màn hình Styles, nhấn phím phải chuột vào Default, chọn Modify rồi quy định kiểu font, cỡ font, màu font, khoảng cách dòng, … mặc định (ví dụ Times New Roman, cỡ 14,..). Các thiết lập ở đây sẽ áp dụng cho những đoạn văn bản bình thường.

Nhấn tiếp phím phải chuột vào các style khác như Heading 1, … rồi thiết lập các mục tương tự như trên theo ý người dùng.

Nhấn tiếp vào menu Tools > Outline Numbering rồi quy định kiểu đánh số các heading như đã nói ở phần trên.

Nhấn vào mũi tên bên phải ô Zoom ( ), chọn Optimal để quy định tỷ lệ phóng to văn bản trên màn hình.

Nhấn vào menu File > Printer Settings để thiết lập các thông số in ấn.

Nhấn chuột vào phần Footer ở cuối trang. Chèn vào đó các mã sau:

  • Gõ từ “Page” (hoặc Trang) rồi nhấn menu Insert > Fields > Page Number để chèn số thứ tự của trang. Gõ tiếp từ “of” (hoặc “của” hay “/”) rồi nhấn Insert > Fields > Page Count để chèn tổng số trang của văn bản.

  • Chuyển con trỏ sang bên trái cụm từ trên, nhấn Insert > Fields > Other. Trong màn hình xuất hiện, ở cột Type chọn File name, cột Format chọn Path/File name để chèn tên file kèm đường dẫn.

Cuối cùng nhấn vào menu File > Save as. Trong màn hình xuất hiện, đặt tên file, ví dụ “Bản mẫu văn bản”, mục File type chọn “ODF Text Document template (.ott)” rồi lưu file Bản mẫu văn bản.ott vào một thư mục nào đó.

Nhấn vào menu File > Template > Organize, màn hình sau xuất hiện:


Nhấn chuột vào My Templates ở cột bên trái, nhấn tiếp vào nút Commands > Import Templates rồi tìm mở file “Bản mẫu văn bản.ott” vừa tạo. Tên file sẽ xuất hiện ở cột trái như hình trên.

Nhấn chuột vào tên file “Bản mẫu văn bản.ott” ở cột trái, nhấn tiếp vào nút Commands > Set as Default Template để quy định bản mẫu đó là mặc định cho các văn bản mới sau này.

Template đã nhập được lưu vào /home/<username>/.ooo3/user/template.

Đóng Writer lại rồi mở ra, văn bản mới Untitled 1 (chưa có tên) sẽ mặc nhiên có tất cả những settings đã thiết lập ở trên cho template, không phải làm lại cho các lần sau.

Ví dụ, sau khi đã lưu file, phần Footer sẽ có dạng như sau:

Writer có rất nhiều template cho đủ loại văn bản, tải tự do từ Internet về dùng và sửa theo ý muốn. Ví dụ xem tại đây.

IV- Bổ xung tính năng (Extensions)

Cũng như Firefox, OpenOffice là phần mềm nguồn mở cho mọi người có thể viết các đoạn chương trình nhỏ bổ xung tính năng theo ý mình (extensions). Một số extensions nên dùng đã giới thiệu ở đâyở đây.

Cơ sở dữ liệu nguồn mở trong thực tế.

EnterpriseDB says open source database saves big bucks

zxc232 lược dịch

(Tôi giới thiệu bài này để thấy trong thực tế cơ sở dữ liệu nguồn mở đã và đang được ứng dụng trong kinh doanh. Các thông tin về tính năng trong bài là lời quảng cáo của hãng bán sản phẩm, bạn đọc tự đánh giá – ND)

Nhờ chuyển từ cơ sở dữ liệu nguồn đóng sang cơ sở dữ liệu nguồn mở, các công ty bán hoa online FTD và công ty Sony Online Entertainment đã tiết kiệm được một số tiền lớn mà vẫn đáp ứng được nhu cầu kinh doanh.

Trong hội nghị Red Hat Summit, Tổng giám đốc của công ty cơ sở dữ liệu nguồn mở EnterpriseDB, Ed Boyajian, đã nhắc đến hai công ty nói trên như ví dụ chuyển đổi thành công từ phần mềm cơ sở dữ liệu Oracle sang phần mềm cơ sở dữ liệu Postgres của EnterpriseDB (các khách hàng khác xem ở đây). Postgres dựa trên PostgreSQL, một trong hai phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn mở nổi tiếng nhất hiện nay. EnterpriseDB đã giúp hai khách hàng trên xây dựng hạ tấng IT với chi phí rất thấp.

Boyajian cho rằng “Cơ sở dữ liệu là lĩnh vực chuyển sang phần mềm nguồn mở rất hấp dẫn và có thể là công nghệ nguồn mở đột phá nhất trong 5 năm tới. Công nghệ Thông tin đang đối mặt với thách thức: nhu cầu xử lý càng ngày càng tăng nhưng ngân sách dành cho IT lại không tăng hoặc giảm. Đó là một vấn đề kinh tế cơ bản nhưng cũng là một động lực lớn cho việc đổi mới trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Ngược lại, cơ sở dữ liệu Oracle đang là một “con bò vắt tiền” của khách hàng, trói chặt khách hàng vì không thể tách các phần mềm ứng dụng khỏi cơ sở dữ liệu.”

Cơ hội của cơ sở dữ liệu nguồn mở.

Vẫn theo Boyajian, mặc dù MySQL vẫn là cơ sở dữ liệu nguồn mở phổ biến nhất, Postgres của EnterpriseDB mạnh hơn và nhanh hơn. Ví dụ hãng FTD đã dùng Postgres Plus để tạo một cơ sở dữ liệu riêng, tách khỏi Oracle và tiết kiệm được hàng trăm nghìn đôla, tốc độ tăng 400%, thời gian chuyển đổi mất sáu tuần.

Sony Online Entertainment, một khách hàng cũ của Oracle, đã tung ra trò chơi Free Realms chạy trên cơ sở dữ liệu Postgres Plus. Sau khi đã tiết kiệm được 80% chi phí cơ sở dữ liệu cho trò chơi mới, hãng quyết định từ nay sẽ dùng Postgres Plus cho các trò chơi trong tương lai.

Ngoài ra, một hãng viễn thông hàng đầu đang chuyển vài trăm hệ phần mềm từ Oracle sang Postgres, bắt đầu từ hệ quản lý nhân sự và bán hàng, tiếp theo là thanh toán và quản lý thiết bị trong hai ba năm tới. Hãng dự kiến sẽ tiết kiệm được 90 triệu đôla.

Các ví dụ nói trên đã gây ấn tượng cho Craig Bogovich, nhà kiến trúc hệ thống của công ty Pilgrim Health Care. Bogovich cho biết công ty bảo hiểm y tế của ông “đang tích cực tìm kiếm các giải pháp phần mềm nguồn mở để tiết kiệm chi phí” và có lẽ sẽ xem xét EnterpriseDB. “Chúng tôi đang rất hài lòng với hệ điều hành Linux Red Hat chạy trên các máy chủ thương mại và đã tích cực từ bỏ các máy chủ HP_UX với bộ xử lý RISC từ năm 2004. Thách thức lớn nhất của chúng tôi là chọn các ứng dụng của bên thứ ba. Chúng tôi yêu cầu dứt khoát là các ứng dụng đó phải được xác nhận là chạy tốt trên cơ sở dữ liệu được chọn. “

Boyajian nêu ra các con số để chứng minh số tiền tiết kiệm thực tế khi dùng PostgreSQL so với các phần mềm cơ sở dữ liệu nguồn đóng. Bản PostgreSQL Enterprise miễn phí, trong khi phần mềm cơ sở dữ liệu DB2 của IBM chi phí ban đầu là 582.400 USD cho giấy phép sử dụng 3 năm trên 8 máy chủ, còn cơ sở dữ liệu Oracle thì mất 760.000 USD. Chi phí bảo trì hàng năm của 8 máy chủ đó là 215.760 USD đối với EnterpriseDB, 349.440 USD đối với IBM và 501.600 đối với Oracle.

(Các hệ thống lớn trước đây thường dùng các máy chủ đặc chủng đắt tiền chạy hệ điều hành Unix. Các hệ điều hành Linux có thể chạy trên các máy chủ thương mại phổ thông – commodity server – với chi phí rẻ hơn nhiều mà vẫn đáp ứng được yêu cầu. Một hãng bảo hiểm y tế mà dùng tới máy chủ hàng khủng như HP_UX, 128 processor cores là một điều mới mẻ ở Việt nam, chứng tỏ nhu cầu IT thực sự phải như thế nào – ND)

“Mỗi công ty công nghệ lớn đều có những cái riêng làm cho khó mà tách ra khỏi họ” Boyajian nói ” Cái riêng của phần mềm nguồn mở là cho bạn sự tự do, trao lại quyền kiểm soát cho khách hàng”

Lấp khoảng cách về tính năng
Nhưng sự tự do cũng đi kèm với những thỏa hiệp về tính năng mà các cơ sở dữ liệu nguồn mở còn chưa vượt qua được. Craig Mullins, phó chủ tịch chiến lược dữ liệu của Neon Enterprise Software nói rằng các công ty cơ sở dữ liệu nguồn mở như EnterpriseDB đã lấp được các khoảng cách về các chức năng của cơ sở dữ liệu (database functionality) so với các phần mềm nguồn đóng nhưng còn thua về các công cụ quản trị, thay đổi cơ sở dữ liệu, công cụ sao lưu và khôi phục, những công cụ mà các hãng lớn phải mất nhiều năm mới xây dựng được.

EnterpriseDB đã làm được một việc rất hay là làm cho PostgreSQL có thể chạy các ứng dụng Oracle, do đó đơn giản hóa được quá trình phát triển và bảo trì phần mềm ứng dụng, nhưng việc thiếu các công cụ có thểlàm cơ sở dữ liệu và ứng dụng khó đáp ứng các yêu cầu về tính năng trong các hợp đồng dịch vụ, Mullins cho biết.

Boyajian cho rằng việc phát triển phần mềm nguồn mở PostgreSQL đã hơn 20 năm trong trường đại học Berkeley, có đội ngũ các nhà phát triển tích cực nên bảo đảm chất lượng tốt hơn là các phần mềm nguồn đóng . Do bản chất phát triển cộng đồng, Postgres hiện thiếu sự thúc đẩy thương mại  mà EnterpriseDB đang cố gắng làm điều đó. EnterpriseDB là một liên doanh giữa IBM và Sony mới thành lập được 5 năm, có được hàng trăm khách hàng và doanh số tăng gấp đôi hàng năm nhưng vẫn chưa có lãi.

Chăm sóc ổ cứng trong Linux

1- Xem thông tin ổ cứng:
Dùng quyền root chạy lệnh lshw trong terminal cho thông tin đầy đủ nhất: trong máy có bao nhiêu ổ, thông số từng cái, mỗi ổ có bao nhiêu patition (trong lệnh này, các partition được gọi là volume), … Tuy nhiên, giao diện dòng lệnh hơi khó xem.
Trong Mandriva Control Center có phần Hardware, nhưng thông tin về ổ cứng không chi tiết đến mức từng partition như lệnh lshw. Phải vào mục Local disk mới có thông tin chi tiết về các partition dưới dạng đồ họa, trực quan.
Trong Ubuntu có thể cài gparted ( chạy từ Administration → Partition Manager) để xem thông tin về các partition.(và làm các việc khác nữa xem phần dưới)

Ký hiệu hay dùng nhất của các partition thường là /dev/sda1, /dev/sda2, …. Nếu có một ổ cứng thứ hai thì các partition trên đó là /dev/sdb1, ….
2- Tạo mới, xóa, sửa dung lượng, di chuyển, format các partition:
Trong Mandriva có sẵn công cụ để làm các việc trên (Mandriva Control Center -> Local disk). Tuy nhiên, công cụ đầy đủ và mạnh nhất để làm các việc trên là gparted (cài được cả trong GNOME và KDE). Có những việc (format, move partition, …) Mandriva Control Center không làm được nhưng gparted làm được. Linux Mint có cài sẵn gparted, Ubuntu hình như là không, phải tự cài.
Trong Linux cũng có các lệnh fdisksfdisk như của DOS nhưng không thật thành thạo thì không nên dùng.
3- Mount và umount các partition:
Mandriva Control Center -> Local disk cho phép xem các partion đã mount vào thư mục nào, thay đổi thư mục mount, mount tạm thời để xem nội dung (không ghi vào file fstab), mount tự động khi khởi động máy tính (ghi thành lệnh vào file /etc/fstab). Tóm lại là đầy đủ cho việc mount, umount các partition.
Ubuntu không có công cụ tương tự. Gparted có thể umount nhưng không mount được. Tuy nhiên có thể cài phần mềm pysdm (có trong kho phần mềm) để quản lý việc mount và umount (ghi được vào file fstab) tuy không trực quan bằng Mandriva. Sau khi cài, phần mềm này xuất hiện trong nhóm menu Administration với tên là Storage Device Manager.
CHÚ Ý: các partition Windows (ntfs, fat?) khi chạy trong Windows không shutdown mềm (mất điện bất thình lình, tắt máy cưỡng bức bằng cách giữ nút Power) sẽ bị đánh dấu là “dirty”, Linux sẽ không mount các partition dirty đó. Vì vậy:

  • Nếu chạy chung Windows và Linux trên một máy, khi thấy hiện tượng Linux không mount được các partition Windows thì phải khởi động lại Windows, rồi shutdown mềm (bằng lệnh shutdown trong menu). Sau đó khởi động vào Linux mới mount được.
  • Nếu dùng ổ cứng ngoài format NTFS nối vào Windows cũng phải shutdown mềm rồi mới tháo ổ. Nếu không, cắm ổ đó sang Linux sẽ không mount được.

4- Kiểm tra và theo dõi sức khỏe ổ bằng SMART.
Công nghệ S.M.A.R.T (Self-Monitoring, Analysis, and Reporting Technology – tự theo dõi, phân tích và báo cáo) là công nghệ theo dõi khoảng vài chục chỉ số để dự đoán trước các hư hỏng vật lý có thể có của ổ cứng. Các ổ cứng hiện nay đều hỗ trợ công nghệ này và để sử dụng trước hết nó phải được kích hoạt từ BIOS Setup.
Phần mềm Linux hỗ trợ công nghệ này là GsmartControl cài từ kho phần mềm hoặc tải về từ đây. Trước đó cần cài các gói phần mềm smartmontools có trong kho phần mềm. Vì smartmontools gửi các cảnh báo đi bằng email nên khi cài, nó yêu cầu cài thêm một số phần mềm gửi email như mailx, postfix (chỉ một cũng đủ không hiểu sao lại yêu cầu cài cả ba).

smartcontrol

GsmartControl cho phép kích hoạt SMART, test ổ cứng theo hai chế độ: Short self-test và Extended self-test, đưa ra báo cáo chi tiết.
Muốn chạy trình thường trú (daemon) để theo dõi ổ xem ở đây.

5- Kiểm tra, sửa lỗi “phần mềm” của ổ cứng.

SMART nói ở trên theo dõi các lỗi vật lý của ổ cứng. Các lỗi thuộc về phần mềm (boot sector, master boot record, bảng partition, …) dùng các công cụ khác để kiểm tra và khắc phục.
Kiểm tra tính tương thích của hệ thống file:
Trong Windows có các lệnh scandiskchkdsk để kiểm tra lỗi không tương thích của hệ thống file trên ổ cứng. Lệnh tương tự trong Linux là fsck (file system check).
fsck được đặt lịch tự động chạy kiểm tra các partition sau 25-30 lần mount (thường là bằng với số lần khởi động máy tính). Vì vậy thỉnh thoảng ta thấy Linux khởi động lâu hơn thường lệ là do fsck đang làm việc.
Khi Linux khởi động, nếu nó nghi ngờ partition nào có vấn đề, fsck cũng được tự động chạy để kiểm tra.
Người dùng có thể chạy fsck để kiểm tra như sau:

  • Khởi động máy tính bằng một đĩa cài Linux có chế độ Live CD (bản Linux nào cũng được, không nhất thiết phải cùng với bản đang cài trên ổ cứng).
  • Trong chế độ chạy Linux Live CD, mở terminal rồi chạy lệnh
    fsck -y -p -c /dev/sda3
    trong đó /dev/sda3 là partition cần kiểm tra (hoặc sda2, sda5, … tùy theo tình hình cụ thể của ổ cứng), -y là đồng ý với mọi câu hỏi mà lệnh có thể hỏi, -p: tự động sửa lỗi, -c: kiểm tra và đánh dấu các bad blocks. Còn nhiều option khác, gõ lệnh man fsck để xem.

Cập nhật: cũng có thể kiểm tra bằng trình gparted. Mở gparted, nhấn phím phải chuột vào partition cần kiểm tra (nếu partition đang mount thì umount trước) rồi chọn Check. Nếu cần kiểm tra partition cài Linux (đã mount vào /) thì boot máy bằng đĩa Linux có gparted, chạy gparted rồi kiểm tra.

Chú ý: không được kiểm tra các partition đang mount, hỏng dữ liệu.

Kiểm tra, sửa chữa các thứ khác:

  • Chữa bảng partitions bị hỏng, khôi phục các partitions bị mất.
  • Khôi phục lại boot sector của FAT32/NTFS từ bản backup.
  • Tạo lại (rebuild) boot sector FAT12/FAT16/FAT32/NTFS.
  • Chữa bảng FAT bị hỏng.
  • Chữa Master File Table (MFT) từ bản mirror.
  • Tìm các SuperBlock backup của ext2/ext3.
  • Khôi phục các file bị xoá ở các partitions FAT, NTFS và ext2.
  • Copy file từ các partitions FAT, NTFS, ext2/ext3 đã bị xoá.

dùng công cụ teskdisk như đã giới thiệu ở đây.

Undelete file đã xóa trong ext3

Có người thì khẳng định là hệ thống file ext3 không undelete được, người thì lại nói được.

Có một dự án đang xây dựng một công cụ undelete cho hệ thống file ext3 là ext3grep nhưng cách làm khá phức tạp, xem chi tiết tại đây.

Một công cụ khác (R-Linux) để undelete các file ext2/ext3/ext4 nhưng chạy trên Windows xem tại đây.  là một phần mềm khác chạy trên Windows cũng khôi phục được các file ext2/ext3/ext4 bị xóa.

Các công cụ này tôi cũng chưa dùng bao giờ.

Khôi phục boot menu bị mất (ví dụ sau khi cài lại Windows) theo cách đã nêu ở đây.

Tự động đổi ảnh nền màn hình trong GNOME

Trong KDE đã có sẵn các chế độ ảnh nền màn hình (wallpaper): a/ Ảnh tĩnh (chỉ chọn một ảnh cố định), b/Ảnh động dưới dạng slideshow (tự động thay ảnh trong các thư mục chọn trước sau một khoảng thời gian nào đó). Nhấn phím phải chuột vào desktop, chọn Desktop Settings để đặt các chế độ trên. KDE 4.2 trở xuống có thời gian tối thiểu thay ảnh là 1 phút, KDE 4.3 cho phép chọn nhỏ hơn đến mức giây.

Trong GNOME, mặc định chỉ có chế độ ảnh tĩnh: nhấn phím phải chuột vào desktop, chọn Change Desktop Background rồi chọn ảnh. Tuy nhiên có thể cài thêm một trong hai phần mềm sau (có sẵn trong kho phần mềm) để chạy ảnh theo chế độ slideshow:

  • Drapes: sau khi cài, chạy từ dòng lệnh hoặc menu, một icon hình màn hình sẽ xuất hiện trên System Tray của panel. Nhấn phim phải chuột vào đó, rồi nhấn Preferences để đặt các settings: cho tự khởi động cùng máy tính, chọn khoảng thời gian thay ảnh (min là 5 phút), chọn thư mục có ảnh. Nhược điểm là thông số min=5 phút nói trên, hơi lâu. Nếu muốn chủ động đổi ảnh thì nhấn chuột vào biểu tượng nói trên.
  • Wallpaper-tray: sau khi cài, nhấn phím phải chuột vào panel, chọn add to panel rồi tìm wallpaper tray trong danh sách để add, biểu tượng sẽ xuất hiện trên panel. Công cụ này cho phép add các folder chứa ảnh nền tiện hơn cái trên và thời gian chuyển ảnh ngắn hơn (min=1phút, thậm chí có thể đặt min=0,5 phút chẳng hạn). Nhược điểm là sau khi đặt các settings rồi, nhiều khi không thể gọi lại màn hình để sửa và cũng không biết file cấu hình nằm đâu. Tôi chót đặt min=0,1 phút, ảnh thay rất nhanh nhưng tốn CPU mà không tim được cách nào để chỉnh lại.

Yahoo Messenger for Linux và các kiểu chat khác (udapted 12/9/09)

Yahoo Messenger có khá đông người dùng và phổ biến ở Việt nam. Khởi đầu chỉ có text chat, nay Yahoo Messenger đã có cả video\voice chat, tương tự như Skype.
Trên Linux có bản Yahoo Messenger for Linux 1.0.4 từ năm 2005 khá cũ và hình như đã ngừng phát triển. Tuy nhiên để dùng Yahoo Messenger trên Linux có nhiều cách.
Gyachi
Gyachi là bản Yahoo Messenger for Linux do cộng đồng nguồn mở phát triển. Nhánh hiện nay phát triển nhất của Gyachi là GYachE Improved (tên gói phần mềm vẫn là gyachi), phiên bản mới nhất là 1.2.2 ra ngày 22/7/2009.
Trong kho phần mềm của Linux Mint, phiên bản mới nhất là gyachi 1.2.1.. Trong kho của Ubuntu 9.04 không có phần mềm này. Bản cài đặt gyachi 1.2.2 tải về tại đây (cũng dùng cho Linux Mint). Mandriva có bản cũ hơn là 1.1.59.
Sau khi cài, tên phần mềm GYachE Improved xuất hiện trong menu ở mục Internet. Màn hình như sau:

GyachiTính năng khá đầy đủ, Options phong phú như trong hình. Hỗ trợ cả video/voice chat. Nhược điểm là giao diện không đẹp.

Kopete và Pidgin
Kopete và Pidgin là hai phần mềm instant messenger phổ biến trên Linux. Kopete viết cho KDE, Pidgin cho GNOME nhưng cài sang môi trường khác vẫn dùng được. Ngoài Yahoo Messenger, hai phần mềm này còn dùng chat được trên khoảng một tá dịch vụ khác (MSN, Google Talk, ICQ, IRC, v.v…).
Pidgin hiện tại chỉ hỗ trợ text chat, không có video/voice chat.
Kopete có video/voice chat, màn hình đẹp nhưng hiện tại bản Kopete 0.70.90 for KDE 4.3.1 cũng gặp lỗi không nhận biết được các nick Yahoo khác đang online, do đó không chat được. Theo các thông tin trên mạng, gần đây Yahoo có thay đổi gì đó trong protocol đăng nhập mà Kopete chưa kịp sửa.

CẬP NHẬT (12/9/09): Sửa lỗi nói trên: máy chủ mặc định scs.msg.yahoo.com có lỗi kết nối. Sửa như sau: vào Settings > Configure > Accounts , nhấn chọn account Yahoo rồi nhấn nút Modify. Trong màn hình con, chọn tab Account Preferences, đánh dấu chọn mục Override default server information rồi khai lại địa chỉ máy chủ là một trong ba địa chỉ sau:

(1) cs101.msg.mud.yahoo.com
(2) cs102.msg.mud.yahoo.com
(3) cn.scs.msg.yahoo.com

Tôi dùng địa chỉ thứ ba thì kết nối tốt, các Friends đều nhận được.

Skype for Linux (cập nhật 29/9/09)

Skype là dịch vụ điện thoại Internet miễn phí phổ biến nhất hiện nay. Thường xuyên trên mạng này có khoảng 10 triệu người online
Skype có bản cài cho Linux, tải về tại đây. (cho Debian, Ubuntu, Fedora và OpenSUSE). Riêng bản cài cho Mandriva tải về tại đây hoặc tại đây, bản này được convert từ bản dành cho Ubuntu 8.10 và cài tốt trên Mandriva 2009. Theo kinh nghiệm của tôi, các phần mềm nhỏ dùng alien convert từ bản dùng cho Ubuntu (deb sang rpm) thường cài được trên Mandriva, trong khi các bản rpm dùng cho Red Hat lại không cài được.
Bản mới nhất là Skype 2.1 beta có một tính năng mới thuận tiện cho chạy trên Linux là hỗ trợ Pulse Audio, soud server hiện được dùng phổ biến trong các bản Linux, do đó phần âm thanh không phải cấu hình. Các phiên bản Skype trước 2.1 có thể hơi rắc rối khi cấu hình âm.

Dịch vụ cơ bản của Skype là gọi miễn phí điện thoại qua Internet + chat giữa hai máy tính và hai người có account đăng ký với Skype. Nếu có webcam, hai bên có thể nhìn thấy nhau.

snapshot1(Nhấn vào hình để xem bản lớn hơn)

Phần cấu hình và test sound, video nằm trong màn hình Options như trong hình trên. Không có wizard hướng dẫn test như bản Skype for Windows nhưng cũng không cần thiết. Webcam hiện được hỗ trợ khá tốt trong Linux nhưng cũng có thể gặp trục trặc. Tôi đã thử, webcam Tako 10 thì Skype nhận tốt, nhưng Tako 01 thì không. Kể cả webcam hàng hiệu Logitec, đôi khi cũng phải cắm đi cắm lại.
Chất lượng tiếng và hình phụ thuộc vào chất lượng đường truyền Internet. Nếu đường truyền tốt, tiếng và hình chấp nhận được tuy có hơi trễ và đôi lúc ngắt đoạn.
Các dịch vụ trả phí của Skype: gọi tới điện thoại di động, cố định và ngược lại, gửi tin nhắn SMS, voice mail, chuyển tiếp cuộc gọi, v.v…
Skype có cả bản cài trên các mobile phone nhưng tôi chưa thử. Hai mobile phone cài Skype có thể gọi quốc tế cho nhau (?) với cước Internet nội.
Với những tính năng trên, Skype hiện là kẻ thù của các hãng cung cấp dịch vụ điện thoại cố định và di động.
Ngoài Skype, còn có EkigaLinphone cũng là phần mềm điện thoại trên Internet (VoIP) + chat có video.
Ekiga mặc dù viết cho GNOME nhưng được cài sẵn trên Mandriva KDE và các bản Linux khác. Tính năng tương tự Skype, chỉ có chất lượng chưa thử nên không rõ. Nhược điểm thấy ngay là Ekiga chỉ chạy được trên Linux, không có bản chạy trên Windows. Ekiga for Windows tải về tại đây. Cách cài đặt xem tại đây.
Linphone cũng như Ekiga, dựa trên giao thức SIP (Session Initiation Protocol ), một chuẩn mở về thoại trên Internet. Linphone chạy được trên Linux và Windows XP. Linphone có trong các kho phần mềm của Ubuntu, Mandriva, Linux Mint, … cài đặt dễ dàng.
Cũng như Skype, phần dịch vụ cơ bản (thoại + chat giữa hai máy tính) là miễn phí. Người sử dụng cần có một account SIP đăng ký (miễn phí) với một dịch vụ nào đó. Địa chỉ để gọi có dạng (ví dụ) sip:zxc232@ekiga.net.
Nếu hay gọi điện thoại qua Internet, ngoài Skype có thêm Ekiga hoặc Linphone để dự phòng cũng không phải là thừa.

Ảnh màn hình này có gì lạ?

Cái màn hình này hơi khác thường.Nếu bạn không nhận ra thì xem tiếp phần dưới

session-gimp-word

Thanh tiêu đề trên cùng cho biết đây là màn hình trình duyệt web Mozilla Firefox. Nhìn cái màu nâu là biết Firefox đang chạy trên Ubuntu.

Bên trong trình duyệt có hai cửa sổ: một cửa sổ của Microsoft Word và một của GIMP, trình xử lý ảnh nguồn mở chạy trên Linux (tương tự Photoshop). Một ứng dụng Windows và một ứng dụng Linux cùng chạy và lại chạy trong trình duyệt web!

Màn hình nền thì giống màn hình nền của một bản Linux nào đó. Nhưng cũng lại nằm trong trình duyệt web!

Đây là một công nghệ mới của hãng Ulteo (ulteo.com) gọi là Open Virtual Desktop (OVD) technology. Đại thể thì công nghệ đó thế này:

  • Trong mạng có các máy chủ ứng dụng (application server) Windows và Linux riêng biệt. Trên mỗi máy chủ đó chạy các ứng dụng cần thiết (MS Office và GIMP như trong ví dụ trên) trên nền Windows server hoặc Linux server.
  • Dùng một máy chủ Linux chạy OVD Session Manager kết nối với các máy chủ ứng dụng nói trên.
  • Các máy trạm dùng trình duyệt web truy cập vào máy OVD Session Manager để khởi tạo một phiên làm việc (session). Trên trình duyệt sẽ xuất hiện màn hình desktop của một máy trạm ảo (virtual desktop) có tất cả các ứng dụng Windows và Linux đang chạy trên các máy chủ ứng dụng. Khi chạy MS Word thì màn hình Word mở ra, Word thực tế chạy trên máy chủ, thông qua Terminal Service của Windows server để cấp giao diện Word đến trình duyệt. Máy chủ OVD Session Manager làm nhiệm vụ đầu mối trung gian để các máy trạm giao tiếp với các máy chủ ứng dụng.
  • Như vậy các máy trạm chỉ cần cài trình duyệt, không cần cài ứng dụng. Máy trạm có thể cài bất cứ hệ điều hành nào (Windows, Mac, Linux, …) miễn là có một trình duyệt web hỗ trợ java.
  • Tóm lại cũng tương tự khi dùng trình duyệt web để soạn văn bản bằng Google Docs hoặc Zoho Writer từ các máy chủ Internet. Điểm khác biệt là các máy chủ ở đây nằm trong mạng LAN (và cả WAN). Tức là một dạng điện toán đám mây, phần mềm như dịch vụ (SaaS) nhưng ở trong mạng LAN (WAN). Chắc cũng dùng được cả trên Internet.

ulteo-scheme-web

Nhận xét sơ bộ (chưa thử) thì công nghệ này có mấy ưu điểm:

  • Web-base hóa ứng dụng đã có nhưng thực tế lại không phải sửa ứng dụng. Điều này rất tiện cho các đơn vị đã có các ứng dụng Windows, nay muốn chuyển desktop sạng dùng Linux.
  • Không rõ chế độ bán giấy phép sử dụng các phần mềm bản quyền cho trường hợp này tính thế nào. Nếu vẫn tính là cài cho một máy (chủ) thì người dùng lợi to.
  • Các máy trạm chỉ cần chạy được trình duyệt có hỗ trợ Java. Máy cũ và yếu chắc là vẫn xử lý ảnh được vì GIMP (hoặc Photoshop) chạy trên máy chủ.
  • Sướng nhất là các phòng tin học. Khỏi lo cài cắm ứng dụng, quét virus, backup dữ liệu trên máy trạm, chỉ tập trung chăm sóc mấy cái máy chủ. Tuy nhiên như đã nói trong bài “Điện toán đám mây”,  điều này có thể dẫn đến thất nghiệp, giảm biên vô khối “cử nhân tin học” đang làm nhiệm vụ chăm sóc cả đống máy trạm.

Peazip – một trình nén và giải nén hay

Hay bởi vì peazip không chỉ nén và giải nén được vô số loại file mà còn có nhiều tính năng khác.

peazip1Nén và giải nén được các loại file:

Giải nén được các loại file:

ACE, ARJ, CAB, CHM, COMPOUND (MSI, DOC, XLS, PPT), CPIO, ISO, Java (JAR, EAR, WAR), Linux (DEB, PET/PUP, RPM, SLP), LHA/LZH, LZMA, Mac (DMG/HFS), NSIS, Open Office files, PAK/PK3/PK4, RAR, SMZIP, U3P, UDF, VHD, WIM, XAR, XPI, XZ, Z/TZ

Tổng cộng hỗ trợ 87 kiểu file nén khác nhau.

Tạo được file nén tự giải (self-extracting).

Tạo và giải nén nhiều file cùng một lúc.

Có các bản cài (installable) chạy được trên Windows 32, 64 bit và trên Linux. Có cả bản không cần cài (portable) để chạy trên usb, … Giao diện trong mọi trường hợp trên đều giống nhau.

Có một số tính năng xử lý file (hình dưới)

  • peazip2Chia một file lớn thành nhiều phần hoặc nối các phần đã chia thành một file (Splite/Join files).
  • So sánh các file với nhau (Compare files)
  • Tạo số kiểm tra file (Checksum/hash files)
  • Xóa vĩnh viễn file, không undelete, recovery được (Secure delete)

Bảo mật file nén bằng password, mã hóa nội dung file bằng password hoặc bằng cả password và key file (có chức năng tạo password ngẫu nhiên).

Trang chủ và download tại đây. Có tài liệu hướng dẫn sử dụng chi tiết (pdf).

Nhược điểm:

Khi cài xong, nhấn phím phải chuột vào một file nén, các menu cũ (Extract Here, Extract To…) bị mất, thay vào là các lệnh của Peazip. Khi nhấn phím phải chuột vào một file nén của Linux dạng tar.gz hoặc tar.bz rồi chọn Extract here (Peazip) thì không giải nén hết ngay: đầu tiên giải nén thành file tar, sau đó phải Extract here lần nữa mới thành các file gốc.

Lâu ngày không dùng Winzip, không nhớ các tính năng để so sánh. Tuy nhiên có một ưu điểm: Peazip là phần mềm nguồn mở nên cài vô tư lên Windows, không cần crack như Winzip.

Hai kiểu link giữa các file OpenOffice Calc

Giả sử ta có một file bảng tính gốc test2.odt với các ô từ B2-B5 có dữ liệu như sau:

test2Ta muốn copy các dữ liệu này sang một bảng tính khác test1.odt sao cho khi các dữ liệu trong hình trên ở file test2 thay đổi thì các dữ liệu tương ứng ở test1 cũng thay đổi.

Cũng giống như trong Excel, có hai cách làm:

Cách 1: Mở cả hai file, trong file test1, đánh dấu = vào ô đầu tiên muốn copy rồi chuyển sang file test2 nhấn vào ô B1 rồi Enter. Quay về test1, ô đầu tiên đã được copy, rê chuột kéo xuống các ô dưới, màn hình như sau:

test3Chú ý thanh công thức, công thức link ở đây là =’file:///home/zxc/test2.ods’#$Sheet1.B2

Cách 2: Mở cả hai file. Trong file test2, bôi đen các ô định copy rồi nhấn nút Copy trên toolbar. Chuyển sang file test1, nhấn chuột vào ô đầu tiên định copy rồi nhấn menu Edit -> Paste Special. Trong màn hình xuất hiện  đánh dấu chọn mục Link rồi OK. Màn hình như sau:

test4Chú ý thanh công thức, công thức khác với cách trên.

Đặc điểm:

Trong màn hình của file test1, nhấn vào menu Edit -> Links ta có:

test5Trong màn hình trên có hai link. Link thứ nhất có Type=Document và Status=Manual là link của cách 1. Link thứ hai có Type=soffice và Status=Automatic là link của cách 2.

Theo cách 1 thì dữ liệu ở test1 không tự động thay đổi khi dữ liệu ở test2 thay đổi. Khi thay đổi dữ liệu ở test2 xong, phải nhấn nút Save rồi sang test1 mở màn hình Edit Links trên nhấn nút Update, dữ liệu trong test1 mới được cập nhật. Có khi phải nhấn vài lần Update dữ liệu mới cập nhật.

Theo cách 2, dữ liệu tự động cập nhật. Chỉ cần sửa dữ liệu trong test2 là dữ liệu trong test1 tự động sửa theo ngay.

Ngoài ra, theo cách 2, khi nhấn vào nút Modify có thể sửa được một vài thứ của link. Theo cách 1, nhấn nút Modify chỉ sửa được mỗi đường dẫn của file.

Còn một chỗ nữa để điều khiển update link. Nhấn vào menu Tools -> Options -> OpenOffice Calc -> General. Trong mục Updating có thể chọn cho link tự động update khi mở file, hỏi trước khi updat hoặc không bao giờ update.

Còn hai vấn đề nữa về link tôi chưa thử được vì không còn Windows trên máy. Bạn đọc tự thử:

1- Khi mở file test1 có chứa hai kiểu link nói trên bằng MS Excel thì Excel hiểu hai link đó thế nào?

2- Trong Excel, hai kiểu link trên có các đặc điểm giống như trên không?

Viết công thức toán học trong OpenOffice Writer

Viết công thức toán học trong một văn bản là một điểm yếu của OpenOffice Writer so với WinWord. Mặc dù Writer có chức năng Insert -> Objects -> Formula gọi chương trình OpenOffice Math nhưng cách dựng công thức của Writer dùng một thứ ngôn ngữ lập trình của LaTex (trình soạn văn bản khoa học kỹ thuật) khá khó hiểu và phức tạp với người dùng bình thường.

Để dễ viết công thức hơn, có thể cài thêm extension Dmaths vào Writer (tải về tại đây). Giải nén file Dmaths32.zip thành thư mục Dmath32. Trong Writer, nhấn vào Tools -> Extension Manager -> Add rồi tìm đến file DmathsAddon.oxt trong thư mục Dmath32 để cài.

Khởi động lại Writer, thanh toolbar của Dmaths sẽ xuất hiện ở dạng floating. Tìm một ô nhỏ hình vuông có chữ D trên nền màu vàng, nhấn vào đó để tắt toolbar đi. Sau đó dùng chuột rê ô chữ D vào một vị trí trên toolbar chính của Writer. Nhấn lại vào chữ D, toolbar của Dmaths lại xuất hiện. Dùng chuột rê nó vào vị trí cố định bên dưới Format toolbar rồi nhấn nút D để tắt nó đi. Ngoài ra menu Dmaths cũng xuất hiện trên hàng menu.

Screenshot-1

Về bản chất, Dmaths cũng dựa trên ngôn ngữ dựng công thức sẵn có của Writer, chỉ đưa thêm vào các màn hình và hướng dẫn cho dễ làm hơn. Nhưng mức độ dễ dùng thì vẫn thua WinWord. Đây sẽ là một cản trở trong việc áp dụng OpenOffice vào ngành giáo dục. Các thầy cô dạy toán tiểu học hoặc trung học mà dùng được Writer để soạn bài hoặc ra bài tập cho học sinh sẽ vất vả hơn nhiều so với dùng WinWord.

Ví dụ: Viết công thức sau:

Screenshot

Nguyên tắc: viết từ ngoài vào trong. Trong ví dụ trên: đầu tiên viết hai dấu ngoặc nhọn, tiếp đến ký hiệu tổng, hai dấu ngoặc lớn, dấu phân số, hai dấu ngoặc của tử số, biểu thức trong tử số, hai dấu ngoặc mẫu số, biểu thức mẫu số. Xong.

Cụ thể:

Nhấn vào nút để bật Dmaths toolbar.
Trên thanh Dmath toolbar, nhấn vào nút  ta có màn hình sau:

Hai dấu ngoặc nhọn: Nhấn vào nút để nhập ngoặc nhọn ngòai cùng của biểu thức. Trên thanh nhập liệu sẽ xuất hiện các mã sau (không cần quan tâm):

Dấu tổng: nhấn chuột vào hàng Intergral/Sum/Product (Tích phân/Tổng/Tích) rồi nhấn vào nút Validate the selection, màn hình sau xuất hiện:

Đánh dấu chọn Enter a sum. Trong ô Variable, gõ vào i (mặc định là x), ô from nhập 10, ô to nhập 100, nhấn chuột chọn mục Enter a sum rồi nhấn nút Enter. Màn hình quay về như sau:

Hai dấu ngoặc lớn: trong màn hình trên, nhấn vào nút để mở hai dấu ngoặc lớn.
Phân số: nhấn chuột vào hàng chữ A fraction (phân số) ta có màn hình sau:

Ở ô tử số (Numerator) gõ vào (a+b+c) và mẫu số (Denominator), (d+e+f) như hình trên rồi nhấn Enter.
Trong màn hình tiếp theo nhấn nút Finish để kết thúc.

private:stream Page 1 of 1

Ổ cứng online Dropbox

Bạn đang soạn dở một văn bản ở nhà trên Ubuntu, nhấn nút Save của chương trình soạn văn bản, tắt máy rồi đi làm. Đến cơ quan, mở máy để bàn của cơ quan, vào Windows, đã có sẵn văn bản đang soạn dở để làm việc tiếp.

Giữa chừng, Windows treo, khởi động lại máy vào Mandriva đã cài sẵn lại vẫn có văn bản đó với nội dung vừa save trên Windows!

Buổi chiều, mang notebook Mac đến chỗ khách hàng, mở nguyên văn bản đã soạn buổi sáng trên máy để bàn của cơ quan ra cho khách xem!

Không cần ổ USB cóp đi cóp lại, không cần upload, download mất thì giờ, với bất kỳ hệ điều hành nào, máy nào cũng có văn bản vừa save vài phút trước miễn là có Internet. Đó là Dropbox.

Cách cài:

1- Vào trang www.getdropbox.com, tải một phần mềm nhỏ về cài. Trên trang đó có sẵn phần mềm cho Mac, Windows, Fedora và Ubuntu. Phần mềm dành cho Mandriva (nautilus-dropbox-0.6.1-2.i386.rpm) tải về tại đây. Với openSUSE, trong ô tìm kiếm của Firefox, chọn openSUSE Softwares rồi gõ từ “dropbox” để tìm.

2- Khi cài xong, nhấn cặp phím Alt+F2 mở màn hình Run command. Gõ từ “dropbox” vào đó rồi Enter. Phần mềm dropbox bắt đầu được tải về máy. Quá trình cài đặt sẽ hỏi bạn có account Dropbox chưa, nếu chưa thì tạo account mới, nếu đã có thì khai username và password vào. Màn hình cuối quá trình cài cho chọn nơi để thư mục Dropbox theo ý muốn, mặc định là thư mục Home của bạn. Khi tạo account mới, Dropbox cấp cho bạn 2GB miễn phí trên máy chủ Internet của nó.

3- Mở thư mục Home ra ta sẽ thấy thư mục con Dropbox. Thư mục này luôn luôn được tự động đồng bộ với thư mục trên máy chủ Internet của Dropbox. Ví dụ: ở nhà tạo một file mới trong trình soạn văn bản, save nó vào thư mục Dropbox, lập tức file đó sẽ được tự động tải lên Internet. Khi đến cơ quan, file đó lại tự động được tải từ Internet xuống thư mục Dropbox ở máy cơ quan. Tóm lại các thư mục Dropbox của bạn đã cài với cùng một account dù trên máy nào, hệ điều hành nào cũng luôn luôn giống nhau (sau thời gian tự đồng bộ xong).

4-Dùng được thư mục Dropbox như mọi thư mục khác ở ổ cứng trên máy. Mặc dù phần mềm viết cho Gnome với trình duyệt file Nautilus nhưng cũng cài và dùng được trên các bản Linux KDE4 với trình duyệt file Dolphin. Điểm khác biệt là trong Nautilus thì biểu tượng thư mục Dropbox có thêm hình tròn với dấu chữ v cho biết quá trình đồng bộ đã xong, trong Dolphin thì không có dấu hiệu đó. Dropbox tự khởi động và có biểu tượng trên System Tray.

5- Nếu trên máy chưa cài Dropbox, vẫn có thể vào site www.getdropbox.com, nhập username và password để tải file về. Trên site Dropbox có thể tạo thư mục share với những người khác.

Cần chú ý là dự án này đang ở dạng beta nên có thể có lỗi. Xem thêm forum của nó xem có ai nói gì không. Trước đây cũng đã có dự án gmailfs định làm như kiểu này, dùng hộp thư của Gmail để lưu file nhưng cài đặt khó khăn, lâu nay không hiểu có phát triển tiếp được không. Bước đầu dùng Dropbox thấy cài đặt đơn giản, sử dụng đơn giản và rất tiện lợi.

Hai chương trình ngốn CPU

Khi chạy Firefox trong Linux, thỉnh thoảng thấy bị đơ. Khi mở System Monitor thì thấy npviewer.bin ngốn đến 80-90%CPU. npviewer.bin là Adobe Flash Player plugin của Firefox để chạy các hoạt hình Flash. Đơn giản nhất là nhấn nút Kill, tắt nó đi (chương trình này do Firefox gọi nên có thể tắt không cần quyền root).

Khi bật Mandriva vào sáng sớm (5-6 giờ sáng) cũng thấy máy bị đơ. Xem trong System Monitor sẽ thấy rmpv cũng đang ngốn đến 80-90%CPU. Đây là trình kiểm tra các gói phần mềm đã cài trên máy chạy định kỳ theo cấp độ Security do chương trình Mandriva Security (msec) điều khiển (sẽ có bài riêng viết về chương trình rất hay này).

Nếu cần tắt rpmv, nhấn phím phải chuột vào hàng tên cột trong System Monitor, chọn Show column PID, đọc số PID của rpmv rồi mở terminal. Trong terminal lần lượt chạy 2 lệnh:

su (để chuyển sang user root)

kill <PID của rpmv>

Sửa, khôi phục ổ cứng, hệ thống file, file bị xoá bằng TestDisk và PhotoRec.

TestDisk và PhotoRec là các công cụ mạnh chạy trên nhiều hệ điều hành (Windows, DOS, Vista, Linux, MacOS,…) để:

  • Sửa một ổ cứng không boot được:
    • Khôi phục lại boot sector của FAT32/NTFS từ bản backup.
    • Tạo lại (rebuild) boot sector FAT12/FAT16/FAT32/NTFS.
  • Chữa bảng FAT bị hỏng.
  • Chữa Master File Table (MFT) từ bản mirror.
  • Tìm các SuperBlock backup của ext2/ext3.
  • Khôi phục các file bị xoá ở các partitions FAT, NTFS và ext2/ext3.
  • Copy file từ các partitions FAT, NTFS, ext2/ext3 đã bị xoá.
  • Chữa bảng partitions bị hỏng, khôi phục các partitions bị mất.

PhotoRec nằm trong bộ TestDisk dùng undelete hơn 180 loại file, đặc biệt là các file video, ảnh trên thẻ nhớ, ổ USB, …

Người bình thường và các chuyên gia đều có thể dùng.

So với một số công cụ khác tương tự (Foremost, Scalpel,…), TestDisk và PhotoRec dễ dùng hơn vì có màn hình hướng dẫn qua từng bước.

Hướng dẫn chi tiết (tiếng Việt) tải về tại đây (file TestDisk va PhotoRec.pdf)

Làm việc với các file Microsoft Office lớn trong OpenOffice

Định dạng gốc của OpenOffice tuân theo chuẩn quốc tế ODF (Open Document Format). File văn bản có đuôi là odt (Open Document Text), bảng tính – ods (Open Document Spreadsheet), trình diễn – odp (Open Document Presentation).

Định dạng gốc của bộ Microsoft Office từ bản MS Office XP về trước không theo một chuẩn quốc tế nào mà là chuẩn riêng của Microsoft. Nhưng vì MS Office quá phổ biến nên nó thành chuẩn mặc định của các file văn phòng. Gần đây, Microsoft có đề xuất một chuẩn định dạng văn bản mới mở rộng từ chuẩn cũ của hãng gọi là Office Open XML (viết tắt OOXML hoặc Open XML, đã được chấp nhận là chuẩn quốc tế sau một cuộc chiến đấu căng thẳng). Bản Microsoft Office 2007 theo chuẩn này và các phần mở rộng của tên file có thêm chữ x (docx, xlsx, pptx…). OpenOffice 3.0 có thể mở được các file này nhưng không save được theo định dạng đó.

Khi mở các file Microsoft Office bằng OpenOffice, vì định dạng MS Office không phải định dạng gốc nên OpenOffice sẽ thực hiện việc import và convert các object của file. Vì vậy:

  • Nếu file lớn, quá trình mở file và save file sẽ lâu.
  • Chạy các file PowerPoint lớn bằng Impress chậm hơn chạy trên PowerPoint.

Các cách giải quyết:

1- Nếu file đó không dùng để gửi sang các máy có MS Office:

Tốt nhất là save as sang các định dạng ODF (file văn bản là odt, bảng tính ods, trình diễn odp). Khi đó mở file, save file nhanh, chạy file trình diễn cũng nhanh và tận dụng được mọi tính năng của OpenOffice.

2- Nếu file đó trong quá trình soạn sửa phải gửi sang các máy có MS Office để người khác xem, sửa, ghi chú, v.v…Các bộ MS Office không đọc được định dạng ODF nên phải gửi file theo định dạng của Microsoft. Vấn đề đặt ra là ta muốn đồng thời:

  1. Khi mở file, soạn, sửa bằng OpenOffice thì dùng các file ODF để mở nhanh, sử dụng được đầy đủ các tính năng của OpenOffice.
  2. Trong quá trình soạn, sửa vẫn gửi được file theo định dạng MS Office cho những người khác đang dùng MS Office.
  3. Cả hai loại file trên luôn luôn có nội dung giống nhau trong mỗi lần thay đổi.

Trong OpenOffice có hai extension để giải quyết vấn đề này. Trong OpenOffice đang mở, nhấn vào menu Tools Extensions Manager Get more extensions here. Site Extensions được mở ra trong trình duyệt.

Search lần lượt các extensions MultiDiffMultiSave, nhấn vào nút Get It để tải về các file extension có đuôi là oxt.

Màn hình trên xuất hiện. Hoặc chọn cài ngay (Open With), hoặc tải file về (Save file).

Quay lại OpenOffice, nhấn vào Tools → Extensions Manager → Add tìm đến thư mục chứa hai file oxt cài nó vào OpenOffice.

Khởi động lại OpenOffice. Hai extensions vừa cài sẽ xuất hiện thành hai ô cửa sổ nhỏ. Nhấn chuột vào đó, di nó vào vị trí toolbar còn trống bên phải như hình sau:

MultiDiff:

Nhấn chuột vào biểu tượng MultiDiff, màn hình sau xuất hiện:

Màn hình trên là cấu hình mặc định của MultiDiff:

  • File Name: tên file đang mở hoặc đặt tên file mới
  • Read Only (PDF): ghi file thành file PDF chỉ đọc.
  • Read and Write: Ghi file đang mở thành hai file OpenOffice và Microsoft Office cùng tên.
  • Activate recording of changes: chọn mục này để lưu lại các thay đổi trong file (tương đương với nhấn vào menu Edit → Changes → Record trong OpenOffice).
  • Send: gửi file qua email.
  • Save as: chọn thư mục và thay đổi tên file nếu cần. Nếu đã ghi lần đầu thành hai file, lần sau nhấn Save as màn hình sẽ như sau:
  • Chú ý dòng File type: OpenOffice.org – MS Office nghĩa là file sẽ được ghi thành hai file với hai định dạng khác nhau nhưng nội dung giống hệt nhau.

Muốn thay đổi cấu hình mặc định trên, chọn mục Read and Write rồi nhấn vào More options để có màn hình sau rồi nhấn nút Configure:

Ví dụ có thể chọn luôn luôn lưu thành ba file: PDF, OpenOffice, MS Office.

MultiSave:

MultiSave không có các tính năng SendActivate recording changes nhưng sử dụng đơn giản và trực quan hơn. Nhấn vào icon trên toolbar, màn hình sau xuất hiện:

Chọn thư mục lưu file, tên file và các loại file muốn ghi rồi nhấn nút Save.

Sau khi đã lựa chọn, trong hai extensions trên chỉ cần giữ lại một cái. Nhấn vào menu Tools – Extensions Manager rồi chọn extensions muốn bỏ đi rồi nhấn nút Remove.

Quản lý file audio/video trên Linux.

Hướng dẫn quản lý các file audio/video trên Linux

Posted by: Damien March 3rd, 2009.

Dịch: zxc232

Bạn đã bao giờ gặp tình huống muốn chuyển một file video từ format này sang format khác trên máy Linux mà không biết làm thế nào chưa? Chơi DVD trên Ubuntu hoặc rip đĩa VCD thành file mpeg?

Dưới đây liệt kê các phần mềm dùng xử lý các file video/audio trong Linux. Các phần mềm này chạy được với hầu hết các bản Linux. Cách cài đặt và ảnh màn hình dựa trên Ubuntu nhưng cũng áp dụng được tương tự cho các bản Linux khác.

Các chương trình nêu dưới đây đều có link dẫn đến site gốc của chương trình.

I.Xử lý VideoCD

I.1 Chơi VCD trên Linux.

Hầu hết các chương trình multimedia đều có thể chạy VCD. Cá nhân tôi khuyên nên dùng VLC vì đó là trình duy nhất có thể chơi mọi loại file audio/video.

(Mplayer và Totem cũng chơi được hầu hết file audio/video. SMplayer có nhiều tính năng hơn Totem dùng để chơi nhạc và xem video thì rất tốt nhưng không có các tính năng convert format như VLC nêu dưới đây – ND.)

I.2 Ghi đĩa VCD

Các chương trình ghi đĩa CD như Brasero K3b đều có thể ghi được đĩa VCD. Riêng K3b thì file nguồn phải là file mpeg.

I.3 Ghi video từ VCD

Cách dễ nhất để ghi VCD thành file mpeg là dùng K3b.

Mở K3b và nhấn vào Tools → Rip Video CD.

VLC cũng có thể dùng để chuyển VCD sang một format khác.

Mở VLC, nhấn vào Media → Convert/Save.

Hướng dẫn chi tiết về chuyển định dạng file media bằng VLC xem tại đây

I.4 Tách audio từ VCD

Dùng VLC có thể tách file audio khỏi VCD. Nhấn vào Media → Convert/Save để mở màn hình sau:

Nhấn tiếp vào tab Audio codec rồi đánh dấu chọn mục Audio. Ở ô Codec, chọn định dạng file audio sẽ ghi lại (ví dụ MP3). Gõ tên file có cả đuôi file (ví dụ: song.mp3) vào ô Filename rồi nhấn nút Save.

II.Xử lý DVD

II.1 Xem DVD trên Linux.

Ubuntu không cho phép chơi DVD do các vấn đề pháp lý và kỹ thuật. Phải cài thêm gói ubuntu-restricted-extra rồi chạy file script libdvdread3 bằng lệnh:

sudo /usr/share/doc/libdvdread3/install-css.sh

Khi đó, file libdvdcss2 sẽ được tải về và cài. Nếu vì lí do gì mà lệnh trên không chạy, tải file libdvdcss2 từ địa chỉ sau để cài.

http://download.videolan.org/pub/libdvdcss/1.2.9/deb/libdvdcss2_1.2.9-1_i386.deb

II.2 Rip DVD

Để rip DVD, cá nhân tôi dùng Handbrake. Chương trình này có một số profile định trước (Presets) kể cả convert DVD thành format mong muốn cho iPhone và PS3.

Để cài Handbrake trên Ubuntu, tải file cài tại đây. Màn hình như sau:

Còn một chương trình khác là AcidRip. Chương trình này có một số tính năng có ích nhưng sắp xếp hơi lộn xộn. Chương trình có trong kho phần mềm của Ubuntu nên cài đặt dễ dàng.

II.3 Tạo DVD (DVD authoring)

Bạn có thể tạo DVD riêng với menu, các chương, v.v.. Hai trong số những chương trình tốt nhất tôi đã thử là DeVeDeManDVD. Cá nhân tôi thích ManDVD hơn vì có nhiều tuỳ chọn và có hướng dẫn chi tiết từng bước suốt quá trình tạo DVD. Nhưng nếu bạn tìm một phần mềm dùng nhanh mà không cần cấu hình nhiều thì chọn DeVeDe.

Để cài ManDVD, tải file deb về tại đây GetDeb. DeVeDe có sẵn trong kho phần mềm của Ubuntu nên cài dễ dàng. DeVeDe cũng có thể dùng để tạo VCD.

III. Xử lý file Video.

III.1 Chuyển đổi file từ format này sang format khác.

Handbrake và VLC đều có thể chuyển đổi file video từ định dạng này sang định dạng khác. Nhưng cũng có một phần mềm nhỏ chuyên làm việc đó là Winff làm việc với phần lớn định dạng file video.

Hướng dẫn cài đặt xem ở đây.

III.2 Biên tập file video

Avidemux, KinoKDEnlive là ba chương trình biên tập video lớn vừa mạnh vừa dễ dùng. Avidemux chạy trên nền Gnome, còn Kino và KDEnlive chạy trên KDE.

III.3 Biên tập thuyết minh

Hai chương trình Gnome-subtitlesAegisub là hai chương trình đơn giản dùng biên tập thuyết minh. Gnome-subtitles đơn giản và nhẹ dùng soạn, sửa đơn giản các thuyết minh (có sẵn trong kho phần mềm Ubuntu). Aegisub có nhiều tính năng hơn như kéo thả, xoay, thu phóng thuyết minh và cả một bản mẫu (template) để làm karaoke.

III.4 Chèn thuyết minh vào file video.

Có hai cách chèn thuyết minh vào file video: Softsub và Hardsub. Softsub là các thuyết minh chứa trong một file riêng đánh dấu kèm theo mốc thời gian cần hiển thị khi chạy file video và thường được điều khiển bởi phần mềm chơi video. Hardsub là thuyết minh hòa vào khung hình video gốc nên không cần thiết bị hoặc phần mềm đặc biệt để hiển thị.

Khi file video có file thuyết minh riêng (Softsub), chương trình VLC có tính năng tải file thuyết minh để xem. Nhấn vào menu Tools → Preferences. Trong màn hình Preferences (xem hình dưới), mục Show Settings chọn All. Trong cột trái màn hình, kích vào Video → Subtitles/OSD. Trong cột bên phải, mục Use subtitle file, nhấn nút Browse để chọn file thuyết minh.

Để tạo thuyết minh dạng Hardsub, có thể dùng Avidemux để nhúng file thuyết minh vào video. Trên màn hình chính của Avidemux, chọn encoder của video. Mở file video rồi nhấn vào menu Video → Filters. Trong cột bên trái màn hình xuất hiện, chọn Subtitles. Chọn các option thích hợp của thuyết minh rồi add nó vào Active Filters.

IV. Xử lý file audio.

IV.1 Tách file audio CD.

Trong Gnome, chương trình SoundJuicer dùng để tách và chuyển file audio CD thành định dạng khác. Trong KDE, dùng K3b.

Muốn chuyển thành định dạng nào, trước đó codecs tương ứng phải được cài đặt.

IV.2 Tạo audio CD.

Brasero và K3b đều có thể dùng tạo audio CD. Chọn Create audio CD rồi kéo thả file nhạc vào đó. File sẽ được tự động convert thành audio CD format.

IV.3 Chuyển file audio từ định dạng này sang định dạng khác.

Chương trình Sound-converter hỗ trợ chuyển đổi phần lớn định dạng audio.

IV.4 Biên tập file audio.

Audacity là chương trình tốt nhất để biên tập file audio. Nó cũng dùng để chuyển đổi file audio từ dạng này sang dạng khác.

Một vài lỗi đọc file WinWord

1- Lỗi nhận font:

Thỉnh thoảng có file WinWord (ví dụ một vài file tải về từ website chinhphu.vn) khi mở trong OpenOffice bị lỗi nhận font. Ở nhiều nơi, cùng một từ hiển thị thành hai kiểu font khác nhau: Times New Roman và Times New Roman (Vietnamese). Đây là lỗi chứ không phải trên máy có font Times New Roman (Vietnamese) hay không vì trong cùng một từ không thể dùng hai font khác nhau được. Khi mở cũng file đó trong WinWord nhận thống nhất là font Times New Roman.

Dùng một chương trình đọc file text (KWrite) để mở file nói trên thì thấy trong mã file có khai báo font Times New Roman (Vietnamese). Như vậy là file đó hoặc template của nó có dùng font này nhưng đã xóa đi rồi. WinWord nhận đúng là trong các ký tự đã gõ không dùng font đó nên hiển thị đúng. OpenOffice có lẽ không hiểu đoạn mã đó nên hiển thị bị loạn.

Cách sửa cũng đơn giản: đổi tất cả về font Times New Roman. Tuy nhiên lỗi này cũng cảnh báo cho biết OpenOffice đọc file Microsoft cũng có lúc chưa thật chuẩn (mặc dù rất hiếm gặp).

2- Lỗi đánh số

Thực ra đây là lỗi người dùng thì đúng hơn. Trong WinWord cũng như Writer đều có sẵn định dạng các mức đề mục (Heading, Heading 1, Heading 2, …). Mỗi Heading đó đều có thể được đánh số tự động hoặc không đánh số tùy theo ý người dùng (1. Heading 1, 1.1 Heading 2, 1.1.1 Heading 3, v.v…).

Dùng Heading còn cho phép tạo mục lục tự động và tham chiếu chéo (cross-reference).

Tuy nhiên đã có trường hợp bị lỗi khi mở file WinWord có heading trong Writer: các số thứ tự của heading bị thay đổi loạn xạ không còn giống như khi mở trong WinWord. Nguyên nhân là do khi soạn trong WinWord, người soạn đã dùng heading không đánh số tự động, sau đó gõ số bằng tay tức là tự động hóa một nửa. WinWord hiểu được kiểu đánh số đó nên vẫn hiển thị đúng. Writer thì máy móc hơn: khi mở nó thấy có heading và số nên hiểu là tự động hoàn toàn và đánh số theo kiểu đó.

Nếu trong WinWord, dùng heading với số tự động thì mở trong Writer không gặp lỗi này.

Lỗi bộ gõ scim-unikey và lỗi đọc file pdf (update 12/2/09)

1- SCIM-UNIKEY:

Update 12/2/09: lỗi nặng, scim-unikey xung đột với OpenOffice 3.0 làm OpenOffice bị đóng bất thình lình khi đang gõ. Lỗi này xảy ra trên khá nhiều máy. Tóm lại không dùng được.

Bộ gõ scim-unikey có một lỗi khi gõ trong bảng tính OpenOffice Calc:

  • Nếu gõ từ đầu vào một ô trắng hoặc gõ tiếp vào cuối một dòng text đã có thì không sao.
  • Nếu trong ô đã có text, gõ chèn thêm từ vào đầu dòng text hoặc trong dòng text đó thì tiếng Việt không hiển thị được (ký tự nhảy lung tung).
  • Đã thử lỗi này có trong Mandriva 2009 (cả bản GNOME và KDE4), Linux Mint 6.
  • Lỗi này chứng tỏ cơ chế bỏ dấu của unikey (lùi con trỏ lại vài ký tự) là không ổn, dễ bị xung đột. Trong các bản Linux trước, x-unikey cũng có lỗi khi gõ trong Calc do cơ chế lùi con trỏ này.

Các cách khắc phục:

  1. Chịu khó học thói quen gõ phím kết thúc từ.Bỏ hẳn scim-unikey, chỉ dùng scim với file vi-telex-locdt.mim. Cơ chế đánh dấu từ để bỏ dấu của scim đã được dùng với hàng chục ngôn ngữ khác nhau nên chắc là khả năng xung đột với ứng dụng hầu như không có.
  2. Dùng kết hợp cả hai cách gõ scim-unikey và scim-locdt. Khi nào gõ trong Calc thì nhấn Ctrl+Shift để chuyển cách gõ, sang các ứng dụng khác lại Ctrl+Shift để đổi lại.

Yêu cầu gõ phím kết thúc từ có vài điểm cần lưu ý sau:

  1. Khi gõ trong OpenOffice, yêu cầu này không quá khó. Chỉ khi chèn chữ thì hoặc dùng phím mũi tên hoặc dùng phím Space rồi xoá space thừa.
  2. Cần chú ý khi gõ trong các trường là nơi không có thói quen gõ phím kết thúc từ (địa chỉ mail, subject, …). Đặc biệt trong các trường của KMail, khi không gõ phím kết thúc từ mà chuyển con trỏ sang trường khác, các ký tự không bị mất ngay (ví dụ ba ký tự cuối của địa chỉ mail). Chỉ khi nhấn nút Send, sau đó xem lại trong Sent Item mới biết địa chỉ bị sai.
  3. Khi đặt tên, đổi tên thư mục hoặc file, chỉ được kết thúc từ bằng phím mũi tên, không được dùng phím Space.

2- Lỗi đọc file PDF tiếng Việt.

Thỉnh thoảng có file PDF tiếng Việt unicode (ví dụ có file tải từ cơ sở dữ liệu Luật Việt nam www.luatvietnam.vn) khi mở bằng Okular, Adobe Reader for Linux font tiếng Việt bị lỗi.

Mở trong Windows bằng Adobe Reader for Windows thì đọc được, nhưng mở bằng Infix cũng bị lỗi như trong Linux.

Cách khắc phục: mở file PDF đó bằng OpenOffice Writer sẽ đọc được tiếng Việt không bị lỗi nói trên. Tuy nhiên, mở file PDF bằng OpenOffice hơi chậm.

Sau khi mở, nếu dùng tính năng Export to PDF của Writer để xuất thành file khác hoặc ghi đè lên file cũ thì sau đó mở lại bằng Okular hoặc Adobe Reader for Linux không bị lỗi nữa.

Trộn Windows vào nhân Linux!

Trước đây, tôi đã có một post giới thiệu ReactOS, một hệ điều hành:

  • Tự do, nguồn mở, viết từ đầu, không dựa vào Linux, cũng không dùng thiết kế của Unix.
  • Theo thiết kế của Windows NT từ mức phần cứng đến mức ứng dụng (thiết kế Windows NT là thiết kế bắt đầu từ Windows NT,  2000, qua XP, 2003 và đến nay là Vista vẫn dùng, với các phiên bản nâng cấp, dĩ nhiên).
  • Chạy được các ứng dụng và driver của Windows, nhằm cung cấp một giải pháp thay thế Windows cả trên máy trạm và máy chủ (tham vọng hơi lớn!).

Tóm lại đó là một bản Windows nguồn mở, không phải của Microsoft, dùng lại được các driver và ứng dụng Windows hiện có. Nghe rất hấp dẫn!

Dự án này bắt đầu năm 1996, hiện nay vẫn đang phát triển mạnh nhưng cũng mới đến version 0.3.7 và đang là bản alpha (khoảng 30MB) chỉ dùng thử chưa dùng thật được. Trên các ảnh màn hình thấy cũng khá đẹp, chạy được OpenOffice, trò chơi Quake, Firefox, Thunderbird, Visual Basic, …

Ngoài ra, người dùng Linux đều biết đến wine, một phần mềm dùng để chạy các chương trình Windows trên Linux. Wine không tiêu tốn thêm cpu hay bộ nhớ như máy ảo. Dự án này bắt đầu năm 1993, đến nay vừa chính thức ra đời phiên bản 1.0.1, đã chạy được khá nhiều phần mềm Windows (danh sách), nhưng chưa phải tất cả. Ví dụ: MS Office 2007, Photoshop CS3, World of Warcraft 3.0, … Cũng còn một vài phần mềm nữa tương tự wine, nhưng thu phí (CrossOver, Cedega,…)

Kết hợp hai dự án trên (có dùng mã nguồn của hai dự án đó) nhưng phát triển theo một hướng khác là dự án Linux Unified Kernel – LUK ( Nhân Linux thống nhất- hiện nay tên gọi chính thức là dự án Longene), website. Mục tiêu: xây dựng một nhân hệ điều hành máy tính chạy được các phần mềm ứng dụng và driver phần cứng của cả Windows và Linux. Cách làm: bổ xung các tính năng cơ bản của nhân Windows (lấy từ ReactOS) vào nhân Linux. Sản phẩm cụ thể là các bản patch vào nhân Linux hiện có của một bản Linux.

Các phần mềm Windows chạy trên LUK sẽ nhanh bằng chạy trên Windows và nhanh hơn là chạy bằng wine (thay cơ chế truy cập file kiểu client-server của wine bằng hệ thống file tích hợp).

Dự án bắt đầu năm 2006 và đến tháng 2/2009 sẽ ra đời phiên bản 0.2.3. Nếu căn cứ theo ảnh chụp màn hình thì có thể chạy được Starcraft, Photoshop, IE, … Dự án này sử dụng rất nhiều mã nguồn của hai dự án trước vì vậy tiến triển của nó phụ thuộc vào hai dự án đó. Tuy nhiên có thể thấy đây là một hướng rất hay.

Cả ba dự án trên đều thuộc loại dự án khó (có lẽ do Microsoft giữ kín nguồn), tiến triển khá chậm.

Các kho phần mềm nguồn mở tại Việt nam

Một số công ty, tổ chức tại Việt nam hiện đã cung cấp các server lưu trữ phần mềm nguồn mở. Tìm kiếm, tải về và cập nhật từ các kho này đương nhiên là nhanh hơn nhiều so với các kho ở nước ngoài.

1- FPT

Địa chỉ server của FPT là http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/

Tại đây có các bản Linux Fedora, Ubuntu, CentOS, Mandriva, Debian, OpenSUSE, Slackware và một số phần mềm: OpenOffice, KDE, GNOME, Apache, ….

Trong các bản Linux, Ubuntu có vẻ đầy đủ hơn cả gồm các file iso cho desktop và server từ 6.04 đến bản mới nhất là 8.10. Ngoài ra còn có các kho phần mềm (repository) để cài đặt và cập nhật. Thay cho các repo của Ubuntu có thể add các địa chỉ sau:

deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-security main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-updates main restricted universe multiverse
deb http://mirror-fpt-telecom.fpt.net/ubuntu/ intrepid-proposed main restricted universe multiverse

(Bỏ chọn các kho tương ứng của Ubuntu).

OpenSUSE cũng có chất lượng kho tương đương Ubuntu (gồm cả bản iso 11.1 và các repo). CentOS có bản mới nhất là 5.2.

Mandriva trên server này quá cũ (chỉ có bản 2009.1 alpha và không cập nhật, chắc là không được đăng ký trong mirror list của Mandriva). Các phần mềm khá hơn: KDE có bản mới nhất 4.2, OpenOffice có bản 3.0 hoàn toàn Việt hóa, Firefox có bản 3.1 beta2.

Nhìn chung, server của FPT có nhiều PMNM, tốc độ khá nhanh (khoảng 250 – 300KB/s) xứng đáng là cty Tin học số 1 Việt nam. Việt nam thôi vì cách quản lý còn tùy hứng, cái nào không quan tâm thì bỏ. Hy vọng là FPT sẽ cải tiến.

2- OpenLAB:

Tên thì hoành tráng nhưng kho phần mềm có mỗi Ubuntu 8.10 và Moblin. Với Ubuntu 8.10 có thể add các repository này:

deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-security main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-updates main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-proposed main restricted universe multiverse
deb http://www.oss-hcm.gov.vn/ubuntu/ intrepid-backports main restricted universe multiverse

Tôi không dùng cái này bao giờ nên không rõ chất lượng ra sao.

SCIM-UNIKEY trên Mandriva 2009 và Linux Mint 6

UDATE: tin buồn. scim-unikey-0.1.2a có hai lỗi nặng:

  • Xung đột với OpenOffice, đang gõ thì OpenOffice bị đóng bất thình lình (crash).
  • Trong OpenOffice Calc, trong một ô khi đặt con trỏ gõ chen vào giữa hoặc đầu một hàng ký tự đã có thì tiếng Việt nhảy lung tung (gõ chen ở trên thanh nhập liệu thì được).

Bản scim-unikey-0.2 đang sửa khắc phục được lỗi thứ nhất nhưng chưa khắc phục được lỗi thứ hai. Vẫn bị thỉnh thoảng đang gõ thì mất tiếng Việt (lỗi này nguyên bản của x-unikey-1.0.4).

Một món quà mừng Tết tuyệt vời đối với cá nhân tôi: cuối cùng đã có thể gõ tiếng Việt trên Mandriva ở mọi chỗ bằng scim-unikey! Cám ơn các tác giả!

Cách đây ít lâu, tôi đã thử scim-unikey cài bằng tay trên Mandriva 2009 KDE thấy gõ tốt trong các ứng dụng nhưng hoàn toàn không gõ được trên web.

Nay thử lại theo bản cài đặt mới nhất scim-unikey-0.1.2a-1.i386.rpm tải về tại đây với cách làm như sau:

1- Mở Control Center – System – Manage localization for your system. Khi đến bước chọn bộ gõ thì chọn SCIM-BRIDGE.

2- Tải file scim-unikey-0.1.2a-1.i386.rpm nói trên về cài.

3-  Nhấn vào Menu – Run Command rồi chạy scim lần đầu. Nhấn chuột phải vào biểu tượng scim trên panel, chọn SCIM Setup. Trong mục IMEngine – Global Setup – Vietnamese chỉ chọn riêng cách gõ Telex – Unicode.

4- Khởi động lại máy. Xong.

Đã thử gõ trong Mandriva 2009 cả KDE lẫn GNOME: OpenOffice, KMail, Evolution, Google Desktop Search, các ứng dụng web như Gmail, GDocs, Zoho Mail, Zoho Writer, … đều tốt.

Vẫn còn hai lỗi nhỏ: 1/ thỉnh thoảng mất tiếng Việt phải Ctrl+Space hai lần bật tắt tiếng Việt mới gõ tiếp được (lỗi của bản x-unikey-1.0.4), 2/ phải tắt Word Completion trong AutoCorrect.

Trước đây vẫn cố gắng dùng scim với vi-telex-locdt.mim, nhưng cái phím kết thúc từ khá khó chịu. Nay thì thoát.

Đã thử scim-unikey trên Linux Mint 6. Gõ tốt ( nhớ chọn Menu-Administration-Language support-Enable support to enter complex characters).

Những ai yêu Ubuntu nên thử Linux Mint. Linux Mint dựng trên nền Ubuntu, có Control Center gần sánh được với Control Center của Mandriva (thiếu các wizards) và một số thứ bổ xung khá hay. Không trách nó luôn nằm trong TOP 10 của DistroWatch.

CAD trong Mandriva 2009 (update 14/2/09)

Trên blog này đã có hai post nói về các phần mềm vẽ thiết kế CAD trong Kubuntu 7.10 (nhấn vào tag cad để xem). Về cơ bản, các nhận xét trong hai post đó cũng đúng cho Mandriva 2009:

1- Xem bản vẽ CAD (dạng file dwg, dxf,…): có thể dùng VariCAD Viewer miễn phí tải về từ đây. Chương trình này xem file CAD cũng giống như dùng Adobe Reader xem file pdf: chỉ xem, không sửa được. Các chức năng zoom dùng phím Ctrl kết hợp với chuột thì tiện hơn. Nhược điểm: chưa xem được các file 3D phức tạp. Thời gian mở file lâu.

2- Vẽ bản vẽ CAD 2D đơn giản: dùng Qcad nguồn mở miễn phí có sẵn trong kho phần mềm của Mandriva. Nhược điểm: chỉ tương thích với dạng file dxf.

3- Các phần mềm CAD khác: có khá nhiều công ty với nhiều sản phẩm CAD tập hợp trong tổ chức IntelliCAD. Tổ chức IntellịCAD chịu trách nhiệm nghiên cứu xây dựng phần mềm nền tương thích với định dạng file DWG của AutoCAD, các công ty thành viên tự xây dựng và bán sản phẩm của mình trên nền đó.

Tôi đã thử progeCAD 2008 của progeSOFT trên Mandriva 2009. Đây là bản CAD chạy trên Windows, vì vậy trước tiên phải cài wine từ kho phần mềm của Mandriva. Tải file exe của progeCAD tại đây. Sau khi tải về nhấn vào file, quá trình cài đặt sẽ diễn ra hệt như trong Windows. Có vài báo lỗi nhỏ nhưng cứ bỏ qua, chương trình vẫn chạy.

Nhìn sơ bộ, progeCAD có giao diện khá giống AutoCAD. Mở các file DWG 2D và 3D phức tạp khá nhanh và hiển thị tốt. Hỗ trợ các phiên bản DWG từ 2.5 đến 2008. Bản so sánh tính năng xem tại đây, theo bảng này thì xấp xỉ AutoCAD và có cả những tính năng mà AutoCAD không có (ví dụ convert file pdf thành dwg). Đánh giá sâu hơn về tính năng xin dành cho các nhà thiết kế chuyên nghiệp.

Còn một phương án nữa để chạy progeCAD (và các phần mềm Windows nói chung) trên Linux là dùng phần mềm máy ảo. Trước tiên cài phần mềm máy ảo, tiếp theo cài Windows lên máy ảo và cuối cùng cài progeCAD lên Windows. Chi tiết xem thêm tại đây.

Bản progeCAD Professional 2009 trên mạng có giá 400USD (so với AutoCAD 2009 4000USD!). Bản progeCAD Professional 2008 có một công ty Việt nam chào bán với giá 375USD tại đây. Bản 2009 chưa thử cài lên Mandriva.

Đặc biệt, progeSOFT có bản progeCAD 2008 Smart miễn phí dành cho mục đích cá nhân, không thương mại là một công việc từ thiện ủng hộ tổ chức “Bác sỹ không biên giới” để giúp đỡ các nạn nhân chiến tranh tại Dafur, Sudan.

UPDATE (14/2/09): progeCAD chạy khá tốt trên Mandriva, có thể dùng thay AutoCAD cho những bản vẽ thông thường được. Nhược điểm: chưa hiển thị được một số font Windows.

Nén và giải nén trong Mandriva 2009

Trong Linux, nhiều file được đóng gói thành một file sẽ có đuôi file là tar, hai dạng file nén phổ biến nhất là gzbz2. Đóng gói nhiều file rồi nén thì file đó có đuôi là tar.gz, tar.bz2 hoặc tgz, tbz2.

Ngoài ra các dạng file nén khác như 7z, ace, rar, zip cũng được hỗ trợ mặc dù trừ 7z là nguồn mở, các dạng file khác nguồn đóng. Riêng rar chỉ giải nén được mà không nén được.

Muốn biết dạng nào đã được cài, mở Package Manager, kiểm tra xem các file sau đã cài chưa: gzip, bzip2, p7zip, zip, unzip, unrar.Sau khi đã cài các file đó thì chương trình nén và giải nén như Ark (KDE) hoặc File Roller (GNOME) sẽ nén và giải nén được các file tương ứng.

Để tiện hơn, trong Mandriva KDE có thể bổ xung các menu vào service menu của Dolphin như sau (service menu là menu xuất hiện khi nhấn phím phải chuột vào thư mục hoặc file):

  • Vào site này, tải file ExtractAndCompress_v1.4.3.tar.gz về. Giải nén file đó thành thư mục ExtractAndCompress_v1.4.3.
  • Mở Install & Remove Software  xem kdialog đã được cài chưa. Nếu chưa thì chọn cài.
  • Trong Dolphin, mở thư mục trên, nhấn chuột vào file install.sh. Một màn hình xuất hiện cho chọn hoặc là install kiểu local (chỉ cho user hiện tại) hoặc kiểu system wide (cho mọi user, cần có password của root). Tuỳ chọn rồi OK.
  • Đóng Dolphin lại rồi mở ra. Nhấn phím phải chuột vào một thư mục hoặc file định nén, trong menu Compress sẽ có các menu con mới để chọn.

Trên site www.kde-apps.org, search từ “service menu” còn rất nhiều thứ khác có thể cài tương tự như trên.

Biên tập file pdf trong Linux.

Từ năm 2006 đến nay, Linux đã có bước tiến dài về biên tập file pdf.

1- Tạo file pdf: ở các version trước, OpenOffice đã có khả năng xuất các file đang soạn thành file pdf. Nhưng đến OpenOffice 3.0, khi Export as PDF ta có cả một màn hình với nhiều options để lựa chọn.

2- Sửa file pdf: OpenOffice Draw 3.0 mở được file pdf. Sau đó có thể sửa ảnh, sửa text trong file, thêm thắt nhiều thứ và xuất ra khá nhiều định dạng khác nhau. KWord, trình soạn văn bản trong bộ KOffice, có thể import file pdf để sửa rồi save as lại thành file doc hoặc odt.

3- Xem file pdf: Okular là chương trình xem nhiều loại file (PDF, Postscript, DjVu, CHM,…). Đặc biệt, Okular có chức năng Review, cho phép chèn hai dạng note, khoang vùng, tô màu các đoạn text và thêm được ghi chú vào các đường khoanh vùng, tô màu đó.

okular

Tuy nhiên chỉ có chương trình Okular mới xem được các đánh dấu và ghi chú đó. Các chương trình xem file pdf khác như KPDF, Adobe Reader không xem được.

Ngoài ra, Okular có thể tách các text trong file pdf, xuất ra thành file text (không có định dạng). Điều này rất tiện nếu ta muốn tận dụng text đã có.

Tất nhiên Adobe Reader for Linux cũng dùng xem file pdf, nhưng không có các tính năng Review như Okular.

Một số extension có ích của OpenOffice.

Một trong những tính năng hay nhất của Firefox là các add-ons của nó. Add-ons của Firefox gồm ba loại: extensions – tính năng mở rộng, theme- các chủ đề trang trí màn hình và plugin – các cầu nối để Firefox dùng được các phần mềm bên ngoài.

Một số phần mềm nguồn đóng cũng có add-ons nhưng số lượng ít và thường là phải mua. Ngược lại, kho add-ons của Firefox rất lớn và miễn phí. Do tính chất nguồn mở, nếu bạn thấy cần một tính năng nào đó mà hiện Firefox không có, bạn có thể tự tìm hiểu và viết thêm tính năng đó, gửi lên site của Firefox cho mọi người thử, góp ý và sử dụng.

OpenOffice theo gương Firefox hiện cũng đã có kho extension riêng. Dưới đây điểm qua một số extension hay và có ích.

Địa chỉ site extension là http://extensions.services.openoffice.org/ hoặc nhấn vào menu Tools – Extension Manager – Get more extensions here.

Extension Manager là trình cài đặt, gỡ bỏ, đặt cấu hình cho extension. Các tên extension dưới đây đều chứa các link của site tương ứng.

OvniConv

Chuyển mã font tiếng Việt TCVN3 (.VnTime, .VnArial, ….) và VNI sang font unicode rất đơn giản và giữ nguyên các format của văn bản. Dễ dùng hơn cả chức năng Chuyển mã nhanh (bằng clipboard) của Unikey for Windows:

Mở văn bản, nhấn vào menu Tools -> Add-Ons -> Convert to Unicode . Xong!

Đã thử văn bản có một đoạn font TCVN, một đoạn font VNI, một đoạn font Unicode. Sau khi làm như trên, tất cả đều là unicode.

Vietnamese SpellChecker

Kiểm tra chính tả tiếng Việt.

Điều đáng buồn và xấu hổ là hai extension trên và cả dự án Việt hóa OpenOffice đều do người nước ngoài thực hiện. Trong khi đó ngay thổ dân Maori cũng tự làm bộ kiểm tra chính tả cho ngôn ngữ của họ!

Professional Template Pack – English và Professional Template Pack II – English

Bộ 200 bản mẫu: thư tín công vụ và cá nhân, kế hoạch và dự toán, bản trình diễn, name card, ….

An OxygenOffice Extra – Gallery

Gồm rất nhiều thứ bổ xung: các thư viện hình ảnh trang trí, các template.

DataForm

Tạo form để nhập liệu cho bảng trong bảng tính Calc.

OpenOffice.org2GoogleDocs

Xuất, nhập các file văn bản và bảng tính từ OpenOffice với các bộ Office online Google Docs và Zoho.

OoGdocsIntegrator

Tương tự như extension OpenOffice.org2GoogleDocs

Sun Presentation Minimizer

Dùng giảm kích thước các file trình diễn.

CADOO.o

Dùng vẽ bản vẽ kỹ thuật đơn giản bằng OpenOffice Draw.

Dmaths

Dùng viết công thức toán học. OpenOffice có tính năng Insert Formula nhưng khó dùng. Đây là một extension hay.

MultiSave

Open Document hiện là chuẩn văn bản quốc tế, là định dạng gốc của OpenOffice, kích thước file nhỏ, mở nhanh và chạy trơn tru (các file trình diễn Impress). Tuy nhiên MS Office lại là chuẩn mặc định của đa số người dùng hiện tại. Extension này cho phép đồng thời save file thành hai file theo hai chuẩn trên và cả file pdf.

Khi sửa, mở file Open Document (odt, ods, …), sau đó dùng Multisave, các kết quả sửa sẽ đồng thời cập nhật vào cả ba file.

MultiDiff

Tương tự MultiSave.

Amortization Schedule

Lập bảng tính lịch trả lãi cho một khoản vay lãi suất cố định

Debt Reduction Calculator

Một bảng tính nữa cho các khoản vay.

Savings Calculator

Lập bảng tính các khoản gửi tiền tiết kiệm.

Mortgage Payment Calculator

Lập bảng tính các khoản vay thế chấp.

Auto Starter for Presentation documents

Các file trình diễn của Impress hiện không tự chạy và Impress cũng chưa hỗ trợ file tự chạy pps của MS Powerpoint. Extension này bổ xung tính năng đó.

DeltaXML ODT Compare

So sánh hai văn bản, tạo một văn bản mới hiển thị danh sách các thay đổi.

Alba

Chèn trang theo các hướng khác nhau Portrait/Landscape.

FastMailMerge

Chọn nhanh các cột dữ liệu trong bảng tính để tạo ra các văn bản, mail rồi in ra hoặc gửi mail hàng loạt. (bổ xung cho Tools – Mail Merge wizard).

eTOK – eTraining Operating Kit

Các công cụ để tạo các chương trình đào tạo eLearning, trình diễn, bán hàng, … qua Web.

Text Clipboard

Chọn vùng văn bản (text block) để cut, copy, paste.

Hiệu ứng màn hình 3D trong Linux, Compiz Fusion

Compiz Fusion

Trong các hệ Linux, việc quản lý các cửa sổ màn hình (windows) được thực hiện bởi các trình quản lý Metacity (trong GNOME) và KWin (trong KDE). Các thao tác với cửa sổ màn hình giới hạn ở mức đơn giản: mở, đóng, phóng to, thu nhỏ, di chuyển, v.v…

Năm 2006, Novell cho ra đời trình Compiz, làm việc với các card màn hình 3D để tạo ra các hiệu ứng màn hình động, 3D đẹp mắt. Một nhánh của Compiz là Beryl đến tháng 3/2007 tái hợp với cộng đồng phát triển Compiz tạo nên Compiz Fusion. Từ đó:

  • Compiz phát triển các chức năng lõi cơ bản về quản lý màn hình.
  • Compiz Fusion chuyên về cài đặt, cấu hình và phát triển các plugin bổ xung cho Compiz. Mỗi hiệu ứng sẽ là một plugin.

Các hệ Linux hàng đầu hiện nay đều có thể cài (hoặc được cài sẵn) Compiz Fusion. Đặc điểm:

  • Có rất nhiều hiệu ứng màn hình động đẹp, bao gồm cả các hiệu ứng có trong Vista và Mac OS.
  • Không yêu cầu cao về phần cứng, thậm chí các card màn hình onboard cũng dùng được.

Dưới đây trình bày cách kích hoạt và dùng Compiz Fusion trong Mandriva Linux 2008.1. Các hệ Linux khác, cách làm cũng tương tự.

  • Mở Mandriva Control Center. Kích vào Hardware ở cột bên trái rồi kích tiếp vào Configure 3D Desktop effects.
  • Trong màn hình hiện lên, chọn Compiz Fusion rồi nhấn OK.

  • Mở Install & Remove Software cài thêm hai gói plugin sau:
  • compiz-fusion-plugins-extra
  • compiz-fusion-plugins-unsupported
  • Sau khi log out ra rồi log in vào lại, nhấn vào menu Menu – Tools – CompizConfig Settings Manager để mở màn hình sau:
  • Trong đó có hàng chục hiệu ứng màn hình khác nhau tùy chọn. Nhấn vào tên hiệu ứng để xem các options và phím kích hoạt (mỗi hiệu ứng được kích hoạt bằng một tổ hợp phím nhất định). Ví dụ:

CHÚ Ý:

  1. Mỗi hiệu ứng đều có thể bật lên, tắt đi bằng cách kích vào ô vuông bên trái (màn hình trên. Nếu không biết tổ hợp phím kích hoạt thì nhấn vào tên hiệu ứng để xem ở màn hình dưới và có thể thay tổ hợp phím theo ý thích.
  2. Nếu card màn hình yếu thì không nên bật quá nhiều hiệu ứng, máy sẽ chậm thậm chí không hoạt động được. Lần đầu tìm hiểu nên tắt hết, bật lần lượt từng đợt một vài cái.

Dưới đây là một vài ví dụ:

Xoay khối lập phương các desktop (Desktop Cube): (Ctrl + Alt + nhấn và di chuột trái)


Hiển thị các desktop để chọn: (di chuột vào góc trên bên trái màn hình)

Hiển thị các cửa sổ đang mở trong một desktop (Windows Overview): (Alt + Tab)

Hiển thị các cửa sổ đang mở trong một desktop (Windows Overview): (di chuột vào góc trên bên phải màn hình rồi kích chuột vào cửa sổ để chọn)

Cửa sổ cao su (Wobbly Windows): (nhấn chuột vào mép trên và di)

Trên đây chỉ là vài ví dụ, còn rất nhiều hiệu ứng khác

Một bộ Office mới: IBM Lotus Symphony 1.0

Ngày 30/5/2008, IBM đã chính thức cho ra đời bộ IMB Lotus Symphony 1.0. Đây là bản Office dựa trên nền OpenOffice nhưng có giao diện mới hoàn toàn và tích hợp với bộ Lotus Notes của IBM.

Cũng giống như các hệ điều hành Linux, trên nền OpenOffice hiện có một vài phiên bản khác nhau:

  1. Bản OpenOffice chính gốc: www.openoffice.org
  2. Bản OxygenOffice tăng cường, bổ xung thêm các template, clipart, font, hỗ trợ VBA, …: http://sourceforge.net/projects/ooop
  3. Bản StarOffice, sản phẩm thương mại của Sun nhưng người dùng Windows có thể tải về dùng miễn phí qua Google Pack.
  4. Bản OpenOffice của Novell (Novell edition). Bản này có các sửa đổi bổ xung của Novell như hỗ trợ macro và tích hợp tốt hơn với các file MS Office, tích hợp với phần mềm mail Evolution của Novell, v.v…. http://www.novell.com/products/desktop9/features/ooo.html
  5. Bản IBM Symphony này http://symphony.lotus.com
  6. và một số bản khác.

Một vài nhận xét sơ bộ:

  1. Dung lượng file cài đặt khá lớn: 288 MB so với bản OpenOffice gốc 165 MB (có JRE).
  2. Sau khi tải file IBM_Lotus_Symphony_linux.bin xong, mở terminal và cài bằng lệnh:
    • Đối với K/Ubuntu: sudo ./IBM_Lotus_Symphony_linux.bin
    • Đối với Mandriva: trước tiên phải cài thêm gói phần mềm bc (dùng Install & Remove Software). Sau đó mở terminal: su (để chuyển sang user root) rồi ./IBM_Lotus_Symphony_linux.bin.
  3. Sau khi cài xong, khởi động lại máy, chạy từ Menu – Office – IBM Lotus Symphony, màn hình tổng hợp sau xuất hiện, nhấn vào một trong ba biểu tượng để mở phần mềm tương ứng.
  4. Giao diện đẹp hơn và khác hoàn toàn với OpenOffice và MS Office. Có một sidebar bên cạnh để hiển thị và thay đổi các tính năng của font, paragraph và page.
  5. IBM mới chỉ sửa được màn hình chính. Các màn hình con vẫn là của OpenOffice. Giao diện kiểu này có tốt hay không thì phải cần thời gian làm quen và dùng thử. Một trong những ưu điểm thấy ngay là nếu mở nhiều file thì mỗi file sẽ là một tab trong một màn hình chung, không cần phải mở nhiều phần mềm trong từng màn hình riêng biệt như các bộ Office hiện tại.
  6. Tốc độ khởi động chậm hơn hẳn và có cảm giác nặng nề hơn OpenOffice. Mặc dù OpenOffice hiện đã là 2.4 nhưng nền OpenOffice của Symphony vẫn chỉ là 1.1. Do đó về tính năng kém hẳn (không có equation editor, database, drawing program, …). Theo thông báo thì phiên bản 2.0 sẽ cập nhật nhiều thay đổi hơn. Hiện tại, Lotus Symphony chỉ được mỗi giao diện đẹp và lạ.

Phần mềm Quản lý Doanh nghiệp (ERP) nguồn mở đang tăng trưởng

InfoWorld – Technology Information for Business Intelligence

Phần mềm Quản lý doanh nghiệp (ERP) nguồn mở đang tăng trưởng.

Phần mềm nguồn mở đang tạo nên một xung lực mới trong thị trường phần mềm Quản lý doanh nghiệp do tính linh hoạt và giá thành thấp.

By Robert Lemos, IDG News Service (Zxc232 lược dịch)

April 22, 2008

Phần mềm nguồn mở có thể tìm thấy chỗ đứng của mình trong những hệ thống ứng dụng tối quan trọng (mission-critical) không? Dựa trên xung lực của thị trường phần mềm Quản trị Doanh nghiệp nguồn mở (Open-source Enterprise Resource Planning – ERP), phần mềm nguồn mở bắt đầu nhìn ra con đường của mình, đặc biệt là các lãnh đạo IT của các tổ chức trung bình và nhỏ.

Trong khi các hệ ERP là trái tim và linh hồn của doanh nghiệp hiện đại, chúng cũng là nỗi kinh hoàng về IT trong thập kỷ vừa qua. Phần mềm ERP đòi hỏi một quá trình chỉnh sửa lâu dài và tốn kém để phù hợp với các quy trình nghiệp vụ đặc thù của từng ngành, từng công ty. Danh sách các hạng mục chậm trễ, các triển khai tốn kém luôn ám ảnh các lãnh đạo IT khi cố gắng nâng cấp các hoạt động của công ty. Mới đây, công ty vận chuyển hành lý khổng lổ Waste Management đã kiện ra tòa đòi hãng phần mềm SAP bồi thường 100 triệu USD do triển khai ERP thất bại.

Vấn đề bắt đầu từ thập kỷ 90: năm 1997, hãng Nestle USA bắt đầu một dự án ERP kéo dài 6 năm, tốn 200 triệu USD. Ban đầu công ty có ý định dùng số tiền đó để triển khai một hệ thống trên tất cả các văn phòng toàn cầu.

Khi triển khai xong, công ty mới thấy mình bị khóa chặt vào trong các hợp đồng giấy phép sử dụng và bảo trì tốn kém trong một thị trường hầu như không có cạnh tranh bị thống trị bởi hai hãng phần mềm ERP chính, Oracle và SAP.

Phần mềm nguồn mở bắt đầu vào cuộc. Được phổ biến do sự tăng trưởng của hệ điều hành Linux, phần mềm nguồn mở cho phép bất kỳ ai xem, kiểm tra mã nguồn và chỉnh sửa phần mềm theo ý mình. Các hệ ERP yêu cầu chỉnh sửa rất nhiều (lúc triển khai ban đầu và cả sau này khi doanh nghiệp thay đổi, phát triển – ND) do đó phần mềm nguồn mở có vẻ là phương án lý tưởng. Các công ty cũng đánh giá cao khả năng kiểm soát được mã nguồn của các phần mềm tối quan trọng đối với họ.

Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chi phí thấp của các hệ ERP nguồn mở cũng là một yếu tố quan trọng. Đó là trường hợp của công ty thực phẩm đông lạnh Cedarlane. Dùng phần mềm ERP nguồn mở của hãng xTuple đã tiết kiệm cho công ty “vài trăm nghìn đô la”, giám đốc IT Daniel Baroco cho biết.

………

Hiệu quả hiện nay là rõ ràng, Baroco nói. Công ty đã tăng trưởng từ 40 triệu lên 600 triệu USD doanh thu và khối lượng công việc giấy tờ cần thiết để thực hiện các hợp đồng giảm xuống đáng kể. Năm 2004, trung bình phải xuất 1000 hóa đơn một ngày, đôi khi một đơn hàng có đến 3 hóa đơn. Hiện nay, chỉ còn 400 hóa đơn và lại theo dõi được lượng hao hụt thực phẩm, một điều không có vào năm 2004.

“Tôi thực sự đã được đào tạo lại về nguồn mở thời kỳ đó,” Baroco nói. “Tôi trở thành người hâm mộ nguồn mở vì thế.”

Tổng giám đốc xTuple, Ned Lilly, nói rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ như Cedarlane là viễn cảnh tốt nhất cho áp dụng phần mềm ERP nguồn mở. “Triển vọng tốt nhất đối với chúng tôi là các công ty $20 triệu đến $50 triệu doanh thu đang còn dùng chỉ phần mềm kế toán QuickBooks”. Lilly nói.

Lilly không mong sẽ chuyển được các khách hàng truyền thống đang dùng Oracle hoặc SAP nhưng với các công ty nhỏ hơn, lo lắng về chi phí và quá trình triển khai cũ phức tạp thì giải pháp nguồn mở là một sự lựa chọn rõ ràng.

Tại thị trường châu Âu và châu Á, khách hàng hiểu biết hơn về phần mềm nguồn mở và theo đuổi những hệ thống kinh doanh không phụ thuộc vào một nhà cung cấp, Tổng giám đốc Don Klaiss của hãng phần mềm ERP nguồn mở Compiere cho biết.

“Có những vùng trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu và Mỹ Latinh, khuynh hướng ủng hộ nguồn mở là rất mạnh,” Klaiss nói. “Khách hàng rất mệt mỏi vì phải trả phí bản quyền và phí bảo trì cao.”

Một mặt phần mềm nguồn mở có những đặc điểm phù hợp với ERP, mặt khác các thất bại của các phần mềm ERP nguồn đóng quá ầm ỹ cũng làm tăng nhu cầu về ERP nguồn mở, Matt Aslett nhà phân tích phần mềm doanh nghiệp thuộc nhóm 451 cho biết.

Doanh số phần mềm ERP nguồn mở đang tăng vọt. Công ty Compiere năm 2007 tăng 300% và dự kiến cũng tăng như vậy năm 2008. xTuple dự kiến sẽ tăng gấp đôi. Một hãng phần mềm ERP nguồn mở khác, Openbravo, dự kiến doanh số sẽ tăng gấp 3 năm nay và nhân sự sẽ phải tăng gấp đôi.

Cộng đồng nguồn mở tập hợp xung quanh một sản phẩm làm tăng khối lượng công việc thực hiện được lên nhiều lần. Ví dụ, các đối tác và khách hàng của Openbravo hiện đang bản địa hóa sản phẩm của hãng cho 50 nước khác nhau.

Những con số tăng trưởng đó cũng không phải toàn vẹn, nhà phân tích Aslett phát biểu: “ ERP là một trong những lĩnh vực cuối cùng của hạ tầng tin học doanh nghiệp mà phần mềm nguồn mở còn xâm nhập tương đối ít nên các hãng viết phần mềm ERP nguồn mở có thể hy vọng doanh số sẽ tiếp tục tăng trưởng trong thời gian tới. Tuy nhiên cần nhớ rằng, các hãng đó xuất phát từ con số không trong khi doanh số của các hãng phần mềm nguồn đóng nổi tiếng đã lên tới hàng tỷ đô la”.

Tuy nhiên, giám đốc Mitja của Openbravo tin rằng các hãng phần mềm ERP nguồn mở đang bán một thứ mà các hãng ERP nguồn đóng không thể bán được: các khách hàng có thể tự do kiểm soát những hệ thống tối quan trọng của mình không phụ thuộc vào công ty tin học bên ngoài.

Giới thiệu chung về phần mềm Quản lý Doanh nghiệp (ERP) nguồn mở.

Bộ phần mềm Quản lý Doanh nghiệp ERP là gì

Một doanh nghiệp thường bao gồm nhiều bộ phận khác nhau hoạt động cho một mục tiêu chung: chế tạo, bán hàng, marketing, mua sắm vật tư, kế hoạch, quản lý kho, vận chuyển, phân phối, bảo trì,…

Thay cho các phần mềm riêng lẻ của từng bộ phận, bộ phần mềm Quản lý Doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning – ERP, cũng còn gọi là Enterprise Management System) tích hợp tất cả các hoạt động nghiệp vụ của các bộ phận trên trong một hệ thống phần mềm chung chạy trên mạng. Mỗi bộ phận có mođun phần mềm nghiệp vụ riêng của mình nhưng trao đổi được dữ liệu cho nhau, thực hiện các quy trình nghiệp vụ theo các dòng công việc chung từ bộ phận nọ sang bộ phận kia như một thể thống nhất trên mạng máy tính.

Các chức năng chính của bộ phần mềm ERP:

  • Quản lý Khách hàng và đơn đặt hàng (Customer and Order Management).
  • Quản lý Mua sắm (Purchasing Control).
  • Lập Kế hoạch sản xuất (Production Schedule).
  • Lập và quản lý danh mục thành phẩm, bán thành phẩm (Ingredient List)
  • Quản lý Kho (Inventory Management).
  • Giao tiếp với hệ thống bảo trì, bảo hành (Interface with CMMS system)
  • Báo cáo và Phân tích (Reporting and Analysis)
  • Tích hợp với hệ thống Kế toán (Integration with Accounting System)
  • Quản lý tiền lương (Payroll)
  • Quản lý Nhân sự (Human Resources)

ERP lớn và phức tạp như vậy nên cũng khó đưa vào ứng dụng nhất. Khi ứng dụng, yêu cầu lớn nhất và phức tạp nhất là customize phần mềm theo đặc thù hoạt động của doanh nghiệp. Tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp luôn luôn thay đổi và do đó hệ ERP cũng phải thay đổi theo liên tục. Nếu dùng các hệ ERP lớn, hiện đại và tinh vi như Oracle E-Business Suite hoặc SAP thì việc thay đổi đó phải do các công ty chuyên ngành đảm nhiệm, khách hàng không làm chủ, kiểm soát được phần mềm. Các phần mềm này cũng lớn và đắt, các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó với tới được.

Vì vậy, trong một bài báo gần đây, tạp chí CIO dành cho các giám đốc thông tin cho rằng trong 3-5 năm tới đây, công nghệ phần mềm ERP nguồn mở sẽ là một trong những công nghệ mới nổi đáng chú ý nhất. Một bài báo khác của tạp chí ComputerWorld cũng cho biết các doanh nghiệp vừa có xu hướng chuyển sang dùng các hệ ERP nguồn mở.

Lý do? Khách hàng có thể làm chủ công nghệ và chủ động tùy biến theo ý mình, phù hợp với các đặc thù của doanh nghiệp và đáp ứng được các thay đổi, phát triển liên tục của doanh nghiệp.

Danh sách các bộ ERP cả nguồn mở và nguồn đóng có thể tham khảo tại đây. Dưới đây, ta xem qua một vài phần mềm nguồn mở ERP (Google search “open source erp”) để có khái niệm. Những phần mềm giới thiệu dưới đây chỉ để tham khảo. Người dùng phải tự tìm hiểu, dùng thử, lựa chọn theo danh sách giới thiệu ở trên hoặc search trên Internet.

Openbravo

Openbravo là bộ phần mềm ERP nguồn mở dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Có hai phiên bản: bản nguồn mở miễn phí (Community Edition) và bản thương mại (Network Edition, 10.000 ơrô một năm). Bản miễn phí có các công nghệ mới nhất nhưng không tin cậy, ổn định bằng bản thương mại và không có hỗ trợ chính thức của hãng.

Các chức năng chính như sau:

1- Quản lý dữ liệu tập trung (Master Data Management)

Dữ liệu sản phẩm, các bộ phận, danh mục vật tư, khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, v.v…

Mọi dữ liệu của công ty được quản lý tập trung, đảm bảo không thừa, không thiếu, không trùng lắp và cung cấp cho đúng người, đúng lúc cần thiết.

2- Quản lý mua sắm (Procurement Management)

Đơn giá, đơn hàng, phiếu nhận, hóa đơn, kế hoạch mua sắm và thanh toán, v.v…..

Openbravo xử lý toàn bộ thông tin của quá trình mua sắm một cách tập trung, thống nhất. Mỗi hồ sơ trong quá trình đó chứa các dữ liệu của hồ sơ trước, tránh nhầm lẫn do nhập dữ liệu nhiều lần. Do đó có thể lần theo từng hồ sơ theo thứ tự thời gian của quy trình mua sắm (phiếu đặt mua, phiếu nhận hàng, hóa đơn, thanh toán) và biết được tình trạng hiện tại (chờ giao hàng, đã nhận, đã xuất hóa đơn, v.v…). Bộ phận kế toán sẽ luôn có số liệu cập nhật và tin cậy.

3- Quản lý kho (Warehouse Management)

Các kho và khu vực trong kho, các lô hàng, serial number, nhãn, phiếu nhập và xuất kho, lưu chuyển giữa các kho,….

4- Quản lý dự án và dịch vụ (Project and Service Management)

Các dự án, các giai đoạn của dự án, các công việc, nguồn tài nguyên, ngân sách, chi phí, …..

5- Quản lý sản xuất (Production Management)

Bố trí chung nhà máy, các kế hoạch sản xuất, danh mục vật tư, báo cáo tiến độ, chi phí sản xuất, sự cố, v.v….

6- Quản lý bán hàng và khách hàng (Sales Management and Customer Relationship Management – CRM)

Biểu giá, lãi suất, đơn hàng, khối lượng, chiết khấu, vận chuyển, xuất hóa đơn, hoa hồng, …..

7- Quản lý tài chính (Financial Management)

Các tài khoản, ngân sách, thuế, tài khoản phải thu, phải trả, bảng cân đối, tài sản cố định, …..

8- Quản lý tình hình doanh nghiệp (Business Intelligence)

Các báo cáo chi tiết và tổng hợp, phân tích tình hình chung, các thông tin hỗ trợ quyết định cho lãnh đạo…

Compiere

1- Quản lý tình hình doanh nghiệp (Performance Management & Reporting)

Compiere có 4 dạng báo cáo khác nhau: báo cáo truy vấn, báo cáo tiêu chuẩn (dạng in ấn), báo cáo tài chính và báo cáo tình hình tài khoản. Có thể thiết lập và lấy báo cáo từ nhiều sơ đồ kế toán khác nhau. Có thể thiết lập các giai đoạn báo cáo khác nhau. Các số liệu báo cáo đều dựa trên một kho dữ liệu chung.

2- Quản lý mua sắm (Purchasing)

Các công đoạn của quá trình mua sắm đều được quản lý và tự động hóa ở mức tối đa có thể.

3- Quản lý vật tư (Materials Management)

Quản lý sản phẩm, biểu giá, phiếu nhập kho, xuất kho, vận chuyển, chi phí vật tư cho sản xuất, ….

4- Quản lý sản xuất (Manufacturing)

Lập kế hoạch và theo dõi sản xuất

5- Quản lý đơn hàng (Order Management)

Quản lý các công đoạn lập bảng chào giá, quản lý các đơn đặt hàng, xuất hóa đơn và thu tiền. Môđun này tích hợp chặt chẽ với quản lý vật tư và quản lý khách hàng.

6- Quản lý tài chính (Financial Management)

Chương trình kế toán nội bộ doanh nghiệp

7- Quản lý dự án (Projects)

Quản lý các dự án sản xuất, kinh doanh và các công việc trong doanh nghiệp

Song song và tích hợp với chương trình ERP là chương trình Quản lý Khách hàng (Customer Relationship Management – CRM). Chương trình này có 3 môđun là Quản lý bán hàng (Sales), Quản lý dịch vụ (Service) và Thương mại điện tử (eCommerce).

Compiere gồm 3 phiên bản: Community Edition (miễn phí), Standard Edition (25USD/1user/1năm) và Professional Edition (50USD/1user/1năm).

Sự bất đồng giữa cộng đồng nguồn mở và ban lãnh đạo công ty Compiere dẫn đến hình thành dự án nguồn mở Adempiere năm 2006, một nhánh tách ra từ Compiere. Đây là một dự án bao gồm cả ba hệ phần mềm Quản lý Doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning), Quản lý Khách hàng (Customer Relationship Management) và Quản lý Hệ thống Cung cấp ( Supply Chain Management). Chi tiết xem thêm tại đây.

Giới thiệu về phần mềm nguồn đóng mySAP xem tại đây.

Ba phiên bản phần mềm mới có tính đột phá sắp ra đời!

1- Ubuntu Hardy Heron 8.04: Ubuntu đã cam kết từ đầu là cứ 6 tháng lại có một phiên bản mới. Sau bản hiện nay 7.10 (tháng 10/2007), phiên bản tiếp theo là 8.04 tên mã là Hardy Heron (con diệc gan dạ) sẽ chào đời vào tháng sau 04/2008). Hiện đã có bản 8.04 beta. Đây là một phiên bản được chờ đón vì sẽ có nhiều thay đổi lớn:

  • Xorg 7.3 trình điều khiển màn hình, bàn phím, chuột đời mới sẽ có tính năng tự cấu hình cao hơn trước. Hỗ trợ cắm nóng và chỉnh cấu hình on-the-fly. Có thêm một số driver mới. Hỗ trợ màn hình cảm ứng. Hỗ trợ chỉnh màn hình thứ hai linh hoạt hơn. Cho đến nay, chỉnh các thông số màn hình vẫn là điểm yếu của Linux so với Windows. Hy vọng là lần này sẽ có nhiều cải tiến.
  • Môi trường đồ họa GNOME 2.22 (đối với Ubuntu) và KDE 4 (đối với Kubuntu). Riêng về giao diện đồ họa thì hiện Linux và Win ngang nhau: bóng bẩy, đẹp, có nhiều hiệu ứng 3D,… Nhưng ngược lại cũng đòi hỏi cấu hình máy cao. Kubuntu KDE4 chạy chậm hơn PCLinuxOS 2007 nhiều mà đồ họa cũng không đẹp hơn.
  • Nâng cấp, thay đổi một loạt các phần mềm ứng dụng.
  • Tích hợp tốt với môi trường mạng Active Directory của Windows nhờ phần mềm Likewise open.
  • Cài đặt và gỡ bỏ trực tiếp trong Windows (như cài một phần mềm Windows, vào một thư mục của Windows) bằng phần mềm Wubi. Loại bỏ được các sai lầm theo kiểu cài cũ (tạo partition mới) có thể làm mất Windows và gây khó khăn ngần ngại cho người mới học Linux. Tính năng này được xem là một bước quan trọng góp phần phổ biến Linux cho người mới dùng.
  • Chi tiết về Ubuntu xem thêm ở đây, Kubuntu: ở đây.

Tính từ hôm nay, còn 31 ngày nữa bản 8.04 sẽ chính thức ra đời.

2- Firefox 3: trình duyệt Firefox hiện đang là bản 2.0.0.12. Phiên bản tiếp theo Firefox 3 đã có đến bản beta 4 với nhiều thay đổi quan trọng:

  • Dùng cơ cấu hiển thị web (Web rendering platform) phiên bản mới Gecko 1.9 với hơn 12.000 mục nâng cấp, sửa chữa.
  • An toàn hơn khi duyệt web: kích vào một biểu tượng nhỏ trong thanh địa chỉ để xem thông tin về chủ nhân site và dạng bảo vệ an toàn của kết nối đến site đó. Các site đã biết như nguồn phát tán malware (virus,spyware, trojan,…) sẽ được cảnh báo khi bạn truy cập vào đó. Các site bị nghi là giả mạo (forgery) sẽ không cho hiện nội dung. Khi tải các file chạy sẽ thông báo cho chương trình antivirus để quét.
  • Dễ sử dụng hơn: quản lý các password tiện hơn, dễ cài các add-on hơn, chương trình Download Manager cải tiến, có thể tiếp tục download sau khi ngừng (resume), zoom toàn bộ trang hoặc chỉ text và nhớ các thiết lập zoom, quản lý các tab thuận tiện hơn, resize được thanh địa chỉ và thanh search, tích hợp giao diện với Vista, Mac và Linux.
  • Cá biệt hóa nhiều hơn: bookmark dễ hơn và quản lý tốt hơn, thanh địa chỉ cải tiến có chức năng auto-complete phong phú và dễ sử dụng hơn, tích hợp với các ứng dụng web,…
  • Tích hợp các công nghệ mới để hiển thị web nhanh hơn và tốn ít bộ nhớ hơn.

Đối với những người dùng web như một môi trường làm việc, trình duyệt quan trọng không kém gì Office.
3- OpenOffice 3: bản OpenOffice hiện là 2.3, bản 2.4 sắp sửa phát hành và khoảng 160 ngày nữa là OpenOffice 3 sẽ ra đời. Ngay từ bây giờ có thể tải bản 3 đang hoàn thiện ví dụ tại đây về dùng thử. Một số tính năng mới:

  • Xem được nhiều trang đồng thời: xem được nhiều trang với độ phóng (zoom) khác nhau, xem hai trang như sách.
  • Hiển thị note (comment) ở bên lề. Tính năng này có trong MS Office nhưng chưa có trong OpenOffice 2.3.
  • Hỗ trợ từ gốc (native) định dạng OpenXML của MS Office 2007 (docx, xlsx, pptx). Các bản OpenOffice 2.3, 2.4 cũng có thể đọc được định dạng này nhờ odf-converter-intergrator . Ngược lại, MS Office đọc được các file OpenDocument (odt, ods, odp) bằng odf-converter.
  • Solver trong Calc để giải các bài toán quy hoạch tuyến tính. Bản OpenOffice 2.3 có thể cài thêm solver này như một extension tại đây.
  • Tô màu trong suốt trong Calc thay cho cách tô màu đặc hiện nay.
  • Tạo bảng trong Impress.
  • Tăng tốc độ mở (hiện OpenOffice 2.3 mở chậm hơn MS Office nhiều).
  • Insert cross-preference là các heading (như trong Word). Tính năng này hiện có trong OpenOffice 2.3 nhưng dùng cách kéo thả và phải insert toàn bộ heading.
  • Nhiều người cùng soạn một bảng tính.
  • Mở và edit được file PDF!

Nhưng có hai tính năng cũng cần lại chưa thấy có: tùy biến bullet, numberring và chia ngang màn hình (rất cần khi dịch văn bản).

Bản OpenOffice 2.4.0 với một số cải tiến có lẽ sẽ ra đời vào 27/3/2008!

Mobile phone và Linux

Một trong những điểm yếu của người mới dùng Linux là nếu cần dùng một tính năng gì, không thấy có phần mềm cài sẵn hoặc không biết tên phần mềm là vội kêu ầm lên: “Linux không làm được cái này”. Thực ra, tìm phần mềm nguồn mở dễ hơn và thoải mái hơn Windows nhiều vì:

1- Chỉ cần biết cách tìm là có vô số phần mềm các cỡ đáp ứng ít hay nhiều nhu cầu đề ra.

2- Khi đã tìm được thì thoải mái cài đặt, thử nghiệm vì tất cả đều miễn phí.

Đây là một ví dụ.

ThinkFree – một bộ Office đáng chú ý.

Trong số các bộ Office online hiện có, ThinkFree là một bộ có tính năng tự động đồng bộ giữa Internet và máy tính. Tính năng này tạo ra nhiều phương thức làm việc độc đáo, đáng chú ý. Bài viết giới thiệu ThinkFree xem tại đây.

Tin ngắn về một số phần mềm nguồn mở, linux

1- Phần mềm nhận dạng ký tự (OCR – Optical Character Recognition) là phần mềm dùng chuyển các văn bản scan vào máy tính dưới dạng ảnh thành dạng văn bản soạn thảo được. Có khoảng 5-6 phần mềm nguồn mở OCR được giới thiệu và hướng dẫn cài đặt tại đây.

2- Đối với người mới học Linux, việc cài Linux lên máy chung với Windows, phân chia partition là phần đáng ngại nhất, mặc dù các chương trình cài đặt hiện nay đã cải tiến rất nhiều và khá đơn giản. Để khắc phục tâm lý đó, bộ Ubuntu 8.04 sắp ra đời vào tháng 4/2008 có bộ cài đặt mới Wubi cho phép:

a/ Cài Ubuntu từ trong Windows với màn hình giao diện như cài một ứng dụng Windows (cho đĩa CD vào ổ, màn hình cài đặt sẽ xuất hiện trong Windows).

b/ Ubuntu sẽ được cài lên một thư mục trong Windows, không phải tạo partition, không sợ nhầm lẫn làm hỏng Windows.

c/ Sau khi cài, khởi động lại máy sẽ có boot menu xuất hiện cho phép chọn khởi động vào Ubuntu hoặc Windows.

Cách làm này sẽ góp phần rất lớn trong việc phổ biến Linux. Xem thông tin chi tiết và màn hình cài đặt tại đây. Hiện Ubuntu 8.04 đã có bản alpha5 có thể tải về tại đây.

3- Công ty Willow Garage đang triển khai một dự án chế tạo robot dùng phần mềm nguồn mở. Sắp tới, dự án sẽ được công khai cho mọi người tham gia.

4- Cryptmount là phần mềm dùng mã hoá bảo mật toàn bộ hệ thống file kể cả file swap. TrueCrypt là phần mềm mã hoá file và thư mục, partition, tạo ổ mã hoá theo chế độ on-the-fly (tự động mã, giải mã khi copy file vào, ra thư mục), chạy được trên Windows, Mac và Linux. Giao diện đồ hoạ mới có cho Ubuntu tại đây.

5- Giảm thời gian khởi động của Ubuntu và các ứng dụng bằng Preload.

6- Mới xuất hiện một bộ phần mềm truyền thông hợp nhất Unison chạy trên nền máy chủ Linux, máy trạm Windows cạnh tranh với bộ Exchange – Outlook. Unison kết hợp các máy chủ dịch vụ thư mục, mail, tổng đài điện thoại, tin nhắn, lịch công tác, sổ địa chỉ vào một máy chủ duy nhất. Hiện đang ở dạng beta, cho tải về miễn phí.

Gõ tiếng Việt trong Kubuntu Gutsy 7.10 bằng SCIM

Cho đến nay, tôi vẫn dùng x-unikey 0.9.2a để gõ tiếng Việt trong Kubuntu Gutsy 7.10:

Ưu điểm: – cài đặt dễ dàng, chỉ cài một lần, không phải cấu hình gì thêm. Điều khiển bằng giao diện hoặc phím tắt dễ dàng.

- gõ tiếng Việt trơn tru, thuận tiện trong các ứng dụng và trên web bằng kiểu gõ Telex dùng font unicode. Đã thử gõ font VNI kiểu telex trong OpenOffice Writer cũng tốt. Chưa thử với cách gõ VNI.

Nhược điểm: – Trong OpenOffice Calc, nếu đang gõ mà nhấn SHIFT để gõ chữ hoa tiếng Việt (vd: Đ) thì con trỏ giật sang trái xoá hết các từ đã gõ trước đó. Khắc phục tạm: trước khi gõ vào một ô nào phải nhấn F2 rồi mới gõ.

- Không gõ nhanh trên web được cũng vì cơ chế giật con trỏ sang trái nói trên. Nếu gõ nhanh thì sẽ bị mất một số chữ do con trỏ di chuyển không kịp.

- Các bộ mới hơn 1.02, 1.0.4 thỉnh thoảng bị “đơ”: đang gõ tiếng Việt, đột nhiên không gõ được. Phải nhấn Ctrl+Shift hai lần để tắt tiếng Việt đi rồi bật lại thì mới gõ tiếp được. Chỉ có bộ 0.9.2a là không bị lỗi này.

Hiện đang thử dùng SCIM . SCIM (Smart Common Input Method) là bộ gõ đa năng có thể dùng gõ hàng chục loại ngôn ngữ khác nhau trên thế giới .

Cách cài đặt:

1- Vào KMenu – Adept Manager, tìm và cài scim.

2- Vào site này, tải bản scim-viettiti.deb về rồi cài.

3- Khởi động lại máy, biểu tượng của scim sẽ xuất hiện trong System Tray của panel bar (nếu không thấy, nhấn Ctrl+Space). Nhấn chuột mở SCIM Setup rồi thiết lập mấy mục sau:

Dưới mục IMEngine, chọn Global setup. Nhấn Disable All, sau đó trong mục Vietnamese, enable kiểu gõ vi-telex-locdt. Dưới mục FrontEnd, chọn Global setup rồi chọn Keyboard Layout là English (US). Dưới mục Panel, chọn GTK rồi chọn Show là Always.

Tổ hợp phím để chuyển giữa tiếng Anh và tiếng Việt là Ctrl+Space.

Nhận xét sơ bộ:

Gõ tốt tiếng Việt trong OpenOffice và trên web. Do không dùng cơ chế lùi con trỏ sang trái để đặt dấu nên gõ nhanh được và gõ tốt trong OpenOffice Calc, không bị lỗi như unikey. Nếu hay dùng các trình soạn thảo trên web (forum, email, Google Docs, …) và quen gõ nhanh thì đây là ưu điểm nổi bật.

Đang gõ tiếng Việt, nhận được các từ tiếng Anh như cách gõ của unikey (gõ đúp dấu). Tuy nhiên thỉnh thoảng bị lỗi sau đó không gõ tiếng Việt được, phải Ctrl+Space để bật lại tiếng Việt.

Cần phải thử thêm một thời gian nữa mới có thể kết luận được.

Một vài phần mềm đáng lưu ý

1- Các phần mềm bỏ túi (portable)

Với dung lượng ổ USB ngày càng lớn và giá ngày càng hạ, một khuynh hướng tiện lợi hiện nay là các phần mềm portable: cài sẵn phần mềm trên ổ USB, cắm nhờ vào một máy tính để chạy và lưu dữ liệu trên USB, không đụng gì tới ổ cứng của máy tính.

Một số hệ Linux hiện nay (Pendrivelinux, Ubuntu, PCLinuxOS,….) có thể cài sẵn trên một ổ USB với đầy đủ các ứng dụng cần thiết (trình duyệt, email, OpenOffice,…) và các dữ liệu cá nhân. Bạn chỉ cần bỏ túi ổ USB đó là đi đâu cũng có thể làm việc nếu “nhờ” một máy tính có cổng USB (thậm chí không cần reboot máy), không cần mang theo cả cái laptop cồng kềnh. Dữ liệu của phiên làm việc “nhờ” lưu lại trên USB (kể cả cache trình duyệt, các file tạm, …) do đó đảm bảo bí mật riêng tư của bạn. Các settings cũng lưu lại trên USB, không ảnh hưởng gì đến các phần mềm cùng tên trên máy dùng nhờ. Xem hướng dẫn chi tiết tại site www.pendrivelinux.com.

Nếu không cần đến cả một bộ Linux, bạn có thể chọn cài riêng một số ứng dụng cần thiết vào USB. Site portableapps.com sẽ hướng dẫn bạn. Ví dụ chỉ cần có Firefox portable để làm việc hoàn toàn trên Internet: mở Gmail, soạn văn bản, bảng tính bằng Google Docs and Spreadsheats, Zoho hoặc Thinkfree. Đầy đủ hơn là bộ PortableApps Suite (Standard Edition) for Windows gồm: ClamWin Portable (antivirus), Mozilla Firefox – Portable Edition (web browser), Gaim Portable (instant messaging), OpenOffice.org Portable (office suite), Sudoku Portable (puzzle game), Mozilla Sunbird – Portable Edition (calendar/task manager) and Mozilla Thunderbird – Portable Edition (email client), tổng dung lượng có 90MB, chạy tốt trên một ổ USB 512MB. Không một thông tin nào lưu lại trên máy dùng nhờ và không gây thay đổi gì tới máy đó.

2- Zero Touch Linux (ZTL)

Các phần mềm máy chủ Linux thực sự là thế mạnh của Linux trước Windows do lịch sử lâu đời, độ tin cậy và ổn định của chúng. Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản là khó cài đặt và cấu hình (dùng giao diện dòng lệnh), có khá nhiều phương án khác nhau để lựa chọn. (Xem các hướng dẫn cài từng bước trên howtoforge.com).

Mới đây đã xuất hiện bộ Zero Touch Linux 1.0 của hãng Comodo dùng cài đặt và quản lý bằng giao diện Web các phần mềm máy chủ trên nền hệ điều hành Linux CentOS Enterprise-class. Các phần mềm máy chủ trong bộ này gồm: Web, Mail, DNS, Domain Controler, File Server, Printer Server, Database, DHCP, Proxy servers, Firewall servers. Theo quảng cáo trên site, bạn không cần có kiến thức gì đặc biệt để sử dụng. Đây là bộ phần mềm miễn phí nhưng không phải nguồn mở (các phần mềm thành phần trong đó thì là nguồn mở).

CentOS (the Community ENTerprise Operating System) là hệ điều hành nguồn mở dựa trên mã nguồn của RedHat và tương thích 100% với RedHat. Xem giới thiệu tại đây.

Photoshop CS/CS2 đã chạy được trên Linux – Cám ơn Google!

(Bài đăng trên Linux Magazine Online. Chú thích in nghiêng là của người dịch)

Feb 20, 2008
Google đã dùng Wine để chạy Picasa trên Linux; nay nhà tìm kiếm khổng lồ này đã thuê các kỹ sư của Codeweavers cải tiến Wine hỗ trợ cài Photoshop CS và CS2 trên Linux. (Codeweavers là công ty viết phần mềm CrossOver thương mại dùng làm nền chạy các ứng dụng Windows trên Mac và Linux, tương tự như Wine).
Phiên bản Wine 0.9.54 công bố cuối tháng 1/2008 đã hỗ trợ để Photoshop từ phiên bản 5 đến CS2, Photoshop Elements 4 và 5 chạy được trên Wine. Ngoài ra, các ứng dụng như Flash 8 hiện cũng chạy được trên Wine.
(Photoshop là một trong 3 ứng dụng mà người dùng Linux mong muốn có trên Linux nhất theo kết quả một cuộc điều tra năm 2007 của tổ chức Linux Foundation. Hai phần mềm kia là Dreamweaver và AutoCAD.

Nếu không cần đến các tính năng cao cấp của Photoshop, có thể thử các phần mềm sau:

  • Gimp, Gimpshop, Cinepaint, Krita
  • Phần mềm thương mại Pixel.

Cách cài Wine và cài phần mềm Windows trên Wine đã nêu trong tài liệu Hướng dẫn dùng Kubuntu.)

Giới thiệu một số danh sách phần mềm ứng dụng nguồn mở (1)

Lượm lặt linh tinh một số thông tin về phần mềm ứng dụng nguồn mở.

Trong Wikipedia có mục “List of open source softwares“. Trong đó liệt kê khá nhiều loại phần mềm: CAD, sinh học, điện tử, toán, tài chính, v.v… Tất nhiên cái tên của mục hơi quá tham vọng và sẽ không thể nào liệt kê đủ được, nhưng xem danh sách đó cũng có được khái niệm về phạm vi phần mềm nguồn mở và nếu chịu khó tìm cũng có nhiều thông tin có ích.

Ví dụ lần theo mục “Heathcare software” sẽ dẫn tới trang “List of Heathcare software” liệt kê 18 loại phần mềm y học với khoảng 120 phần mềm. Trong đó có từ phần mềm quản lý bệnh viện, xử lý ảnh xét nghiệm, quản lý hồ sơ sức khỏe cá nhân cho đến các hệ điều hành nguồn mở chuyên dụng cho y học.

Phần bên dưới trang List of open source software có nhiều địa chỉ các nguồn thông tin khác trên Internet về danh sách các phần mềm nguồn mở. Một vài ví dụ:

“Thư mục phần mềm tự do – Free Software Directory” là một dự án chung của “Tổ chức phần mềm tự do- Free Software Foundation” và “Tổ chức khoa học, giáo dục, văn hóa Liên hợp quốc – UNESCO”.

Site “Bảng các phần mềm Linux tương đương/thay thế/tương tự với các phần mềm Windows – The table of equivalents / replacements / analogs of Windows software in Linux. là một site tương đối hay, có nhiều phần mềm và cập nhật (mới nhất 25/11/2007).

Hai site có nhiều phần mềm nguồn mở nhất là loại site quản lý các dự án nguồn mở (hosting to Open Source software development projects): SourceForge.net và Freshmeat.net. Site SourceForge.net hiện có khoảng 170.000 dự án với 1.700.000 user đăng ký. Site Freashmeat.net có 44.000 dự án với 400.000 user đăng ký. Tại các site này có thể tải mã nguồn, chương trình cài đặt, theo dõi tình hình phát triển của dự án, tiếp xúc với các tác giả,… Dự án ở đây có từ những dự án nguồn mở lớn nhất (hệ điều hành, nhân Linux,…) cho đến những dự án nhỏ nhất (thư viện, công cụ,…).

Tất cả các phần mềm nguồn mở theo nguyên tắc phải công bố công khai cả mã nguồn và chương trình cài đặt, chạy trên Internet và cho download tự do về dùng. Hầu hết các lĩnh vực ứng dụng đều có phần mềm nguồn mở. Do đó khi cần một phần mềm nào, việc đầu tiên là Search theo keyword, sau đó cài đặt thử để chọn ra cái phù hợp (cùng một mục đích ứng dụng thường có nhiều phần mềm khác nhau). Chi tiết cách tìm phần mềm và các cách cài đặt đã trình bày  trong tài liệu “Hướng dẫn sử dụng Kubuntu” công bố trên blog này.

OxygenOffice – phiên bản OpenOffice tăng cường

Bộ OxygenOffice Professional (trước kia gọi là OpenOffice Premium) là một phiên bản tăng cường (enhanced) của OpenOffice. Các phần tăng cường gồm:
1- Hơn 3.400 ảnh chụp và hình vẽ tổ chức thành gallery, dễ dàng chọn và chèn vào các file OxygenOffice.
2- Một số bản mẫu (template) và hồ sơ mẫu (sample document).
3- Trên 90 font.
4- OOoWikipedia : một công cụ search Wikipedia từ trong OxygenOffice.
5- Phần trợ giúp tăng cường: menu help nhiều hơn, sổ tay sử dụng (Use’s Manual), các thủ thuật sử dụng (tip) nhiều hơn OpenOffice.
6- Có thêm các gradient, màu và các phần tử trang trí có ích khác
7- Có thể chạy các macro VBA của Excel trong OxygenOffice Calc. Tính năng này (đang phát triển,chưa xong) rất có ích cho việc chuyển đổi từ Excel sang Calc.
8- Có thể mở các file của Microsoft Office 2007 (theo định dạng Open XML: docx, …), Works, WordPerfect.

Tải về tại đây. Lưu ý là kích thước file cài lớn gấp đôi OpenOffice. Có thể tải riêng một số phần tăng cường trên rồi cài vào OpenOffice.

Một số lỗi khi dùng GDebi cài phần mềm deb

GDebi là phần mềm dùng cài đặt các file deb không nằm trong các kho phần mềm của Kubuntu (Ví dụ: x-unikey). Đây là phiên bản đầu chuyển từ Gnome sang KDE nên có thể chưa hoàn chỉnh và gặp một số lỗi sau:
1- Sau khi nhấn nút Install Package, màn hình GDebi mờ đi, đèn ổ cứng sáng liên tục một lúc lâu rồi màn hình GDebi tắt, không kết thúc quá trình cài đặt như thông thường. Phần mềm không cài được. Khi đó nếu vào Adept Manager, search được tên phần mềm định cài với trạng thái (status) là BROKEN thì có thể nhấn phím phải chuột, chọn Request Install để cài lại. Nếu không search được tên phần mềm thì phải mở terminal, cài bằng lệnh sudo apt-get install <path/tên phần mềm> hoặc sudo dpkg -i <path/tên phần mềm> như đã nói trong một post trước.
2- Sau khi nhấn nút Install Package, trên màn hình GDebi báo lỗi: Couldn’t find package (không tìm thấy gói phần mềm). Khi đó, có trường hợp copy gói định cài ra Desktop thì lại cài được. Nếu vẫn tiếp tục báo lỗi như trên thì phải dùng lệnh sudo dpkg -i <path/tên phần mềm> .
Hy vọng lỗi này sẽ chóng được sửa.

Phần mềm quản lý dự án OpenProj 1.0

Ngày 10-1-2008, công ty Projity (www.projity.com) đã chính thức công bố phiên bản 1.0 của phần mềm nguồn mở quản lý dự án OpenProj. Tải về tại địa chỉ http://sourceforge.net/projects/openproj/files/ .

Trong một post trước đã giới thiệu sơ bộ về phần mềm này. Nhìn chung, với trình độ và nhu cầu quản lý dự án hiện tại, OpenProj có thể thay thế được cho MS Project. Trong trường hợp một dự án lớn, có một đội quản lý dự án làm việc chung, ở rải rác nhiều nơi thì công ty cung cấp dịch vụ Project-ON-Demand quản lý dự án qua Internet.

Phần mềm này chạy trên nền Java (platform-independent, không phụ thuộc hệ điều hành), do đó có thể tải bản openproj-1.0.zip về, giải nén ra một thư mục, không cần cài. Nếu chạy từ Windows thì nhấn vào file openproj.bat, chạy từ Linux thì chạy file openproj.sh (trước đó cần đổi thuộc tính file này thành executable). Khi chạy trên Windows thì hiển thị font tiếng Việt unicode tốt, trong Linux font tiếng Việt hơi xấu do không đúng font. Cần tìm hiểu thêm xem font dùng trong Windows là font gì rồi cài sang Linux thì chắc sẽ hiển thi tiếng Việt tốt.

Cũng có các bản cài cho các hệ điều hành (deb cho các hệ Linux Debian, rpm – hệ Linux RedHat, msi – Windows) nhưng vẫn là chạy trên nền Java. Sau khi cài vào Kubuntu, menu OpenProj sẽ xuất hiện trong KMenu – Office.

Phần mềm này là sản phẩm của một công ty nên phát triển tương đối nhanh, chứng tỏ có đầu tư thích đáng. Bản beta 2 ra đời tháng 8/2007 đến nay đã có bản chính thức 1.0. Như đã nói trong post trước, đã thử mở một file dự án rất lớn của MS Project có 3.200 task (3MB) thì file mở trơn tru, nhanh, đầy đủ thông tin (IPDesktop không mở được file này). Ngay trong tuần đầu công bố bản beta đã có 200.000 lần download.

Nhược điểm lớn hiện nay là mở được file mpp nhưng không lưu được thành file mpp. Với tất cả thông tin trên, rất có thể là trong những phiên bản sau sẽ có nhiều cải tiến.

Chỉnh bảng tính cho khớp với trang in

Cách chỉnh bảng tính trong OpenOffice Calc cho khớp với trang in ra xem tại http://writer.zoho.com/public/zxc232/Chinh-bang-tinh-truoc-khi-in1
hoặc
http://docs.google.com/Doc?id=dccqsdps_515k5mgxdn

Lựa chọn, đánh giá phần mềm

Lựa chọn, đánh giá phần mềm dùng trong một tổ chức (Enterprise software evaluations) là cả một dịch vụ chuyên nghiệp bài bản có các quy trình, tiêu chuẩn, công cụ đánh giá rất chặt chẽ.
Ví dụ về một công ty cung cấp dịch vụ đó có thể xem tại http://www.technologyevaluation.com/, trong đó:

  • Lý thuyết về cách chọn phần mềm: xem tại đây
  • Các bước tuần tự online để đánh giá và chọn phần mềm xem tại đây
  • Các mẫu tiêu chuẩn để đánh giá một bộ phần mềm tải về tại đây. Trong đó, bộ phần mềm ERP có hơn 3500 tiêu chuẩn, phần mềm quản lý nhân sự 856 tiêu chuẩn, phần mềm kế toán – tài chính 1388 tiêu chuẩn.
  • Chọn phần mềm nguồn mở tại đây

Nên xem qua để biết chúng ta “ngây ngô” đến mức độ nào.

Phần mềm xử lý ảnh GIMP và GIMPshop

GIMP (GNU Image Manipulation Program) là chương trình xử lý ảnh nguồn mở miễn phí nổi tiếng được coi là ngang ngửa với Photoshop đối với người dùng cá nhân (www.gimp.org ). GIMP có các bản chạy trên Windows, Linux, Unix và Mac OS X.
Khi xử lý ảnh thương mại, nhược điểm lớn nhất của GIMP là chưa hỗ trợ hệ màu CMYK và Pantone (hiện đang xây dựng phần hỗ trợ CMYK). Một nhược điểm nữa của GIMP là giao diện khác xa Photoshop.
Để khắc phục nhược điểm thứ hai, phần mềm GIMPshop dựa trên GIMP có giao diện giống Photoshop đến mức tối đa. GIMPshop cũng có các bản cho Windows, Mac OS X và Linux tải về tại http://plasticbugs.com/?page_id=294 . Một số hướng dẫn cài đặt có tại http://thegimpshop.net/pages/index.php
Để xem các ý kiến so sánh GIMP và Photoshop, search ” GIMP vs. Photoshop”. Tôi không có đủ khả năng trong lĩnh vực xử lý ảnh nên chỉ giới thiệu để mọi người tham khảo.

Phần mềm nguồn mở trên Windows

Phần mềm nguồn mở không phải chỉ có trên Linux. Điển hình là bộ OpenOffice có cả bản dành cho Windows, Linux, Solaris, Mac OS,…Dưới đây là danh sách 100 phần mềm nguồn mở chạy trên Windows (tất nhiên là không chỉ giới hạn ở con số 100):
http://itmanagement.earthweb.com/osrc/article.php/3718206

Danh sách phần mềm ứng dụng

Để tiện cho việc tìm kiếm, sử dụng các phần mềm ứng dụng, danh sách phần mềm được lập tại địa chỉ http://zxc232.wiki.zoho.com/Danh-sach-ung-dung.html
Danh sách này sẽ được bổ sung dần dần. Mọi người đều có thể thêm, sửa danh sách để chia sẻ cho người khác cùng biết.

Soạn, sửa hoặc convert file PDF

Thông thường muốn sửa các file PDF phải dùng Adobe Acrobat hoặc một số chương trình đã nêu trong một post trước khá phức tạp. Muốn convert file pdf thành file doc phải dùng pdf2word hoặc các chương trình tương tự trong Windows nhưng đều là chương trình bản quyền, phải trả phí. Chương trình KWord trong Kubuntu có chức năng Import file PDF để sửa và save as thành file doc (tất nhiên với điều kiện là file đó không bị khóa).
KWord có thể cài trực tiếp từ Add/Remove Programs. Đây là một trình soạn văn bản tuy chưa bằng OpenOffice nhưng có nhiều tính năng khá mạnh. Từ menu File, chọn Import rồi chọn file PDF. File này sẽ được nhập vào KWord như một file văn bản để soạn. Tuy nhiên, gõ tiếng Việt trong KWord hơi khó (không gõ nhanh được), xuất ra file pdf dưới dạng Print to file (pdf). Vì vậy nếu sửa nhiều thì nên save as file thành file doc hoặc odt rồi dùng OpenOffice để sửa và xuất ra file pdf.
KWord còn một tính năng nữa thuận tiện cho việc dịch là chia màn hình thành hai (Từ menu View chọn Split view). Tính năng này có trong MS Word nhưng không có trong OpenOffice.
KWord là phần mềm soạn văn bản nằm trong bộ KOffice. Trong KOffice còn có phần mềm bảng tính, phần mềm trình diễn,…tương tự MS Office và OpenOffice. Soạn văn bản và bảng tính của KOffice không mạnh bằng MS Office và OpenOffice nhưng các phần mềm khác như cơ sở dữ liệu, vẽ biểu đồ, đồ thị v.v… cũng đáng để tìm hiểu. Xem thêm tại www.koffice.org

Hướng dẫn sử dụng và cài phần mềm vào Gutsy (tiếng Anh)

Site http://kubuntuguide.org/Gutsy có rất nhiều hướng dẫn sử dụng và cài bổ xung các loại phần mềm vào Kubuntu Gutsy 7.10.
Cần chú ý là cách cài phần mềm tại site này toàn dùng dòng lệnh (apt-get hoặc dpkg). Chỉ cần nhớ tên phần mềm, rồi tìm trong Adept Manager để cài thì trực quan hơn và đỡ gõ lệnh nhầm (trừ những phần mềm không có trong Adept Manager).

Một lỗi cài đặt hay gặp

Khi tải về các file deb và cài đặt thường gặp lỗi sau:
- Nhấn chuột trái vào file, chương trình cài GDebi xuất hiện kiểm tra các phần mềm phụ trợ (dependencies) đã có trên máy chưa, nếu chưa sẽ đưa vào danh sách tải về cài. Nhấn tiếp vào nút Install Packages thì chương trình chạy khá lâu rồi tự tắt, màn hình Installing không xuất hiện.
- Mở Terminal, cài bằng dòng lệnh:
sudo apt-get install <path>/<tên gói cần cài.deb>
thì bị báo lỗi E: Coudn’t find package mặc dù đường dẫn (path) đúng. Đây là lỗi rất hay gặp trong Kubuntu 7.10, không rõ lý do tại sao. Các bản 6.10 và 7.04 không gặp lỗi này.

Cách khắc phục: thay cho apt-get, dùng lệnh sau:
sudo dpkg -i <path>/<tên gói cần cài.deb>
dpkg là phần mềm quản lý cài đặt cấp thấp (low-level) các gói deb của Debian. apt là phần mềm cấp cao hơn để dùng dpkg, trong đó có công cụ dòng lệnh apt-get và gói adept gồm các giao diện đồ họa Adept Manager, Adept Installer, v.v…
CHÚ Ý: nếu gói cần cài đã có đủ các phần mềm phụ trợ, thì chỉ cần lệnh sudo dpkg như trên là xong. Nếu cần cài thêm phần phụ trợ thì lệnh trên sẽ báo lỗi. Mở Adept Manager ra, tìm theo tên gói cần cài, trạng thái (status) của gói sẽ là BROKEN. Nhấn phím phải chuột chọn Request Install, Adept Manager sẽ tải các gói phụ về cài và cài tiếp gói cần cài đến khi xong.

Hai kho phần mềm mới

Ngoài các kho phần mềm đã nói trong post trước, hiện có hai dự án xây dựng hai kho phần mềm có một số đặc điểm khác biệt:
1- Getdeb.net: Ubuntu có chính sách cập nhật chặt chẽ các phần mềm trong các kho chính thống. Điều đó có nghĩa là nếu bản OpenOffice 2.4 ra đời, nó chỉ được đưa vào kho cho người dùng cập nhật sau khi đã kiểm định, test cẩn thận và bạn sẽ phải chờ. Getdeb sẽ giúp người dùng bình thường dùng các phần mềm mới, version mới nhanh hơn.
2- http://cnr.com : cnr.com: dự án này có tham vọng tập hợp mọi phần mềm Linux (cả miễn phí và không) dưới dạng cài đặt one-click cho một số hệ Linux phổ biến (Fedora, Debian, Ubuntu, OpenSUSE…). Để dùng site này phải tải về cài một phần mềm client nhỏ.
Cả hai dự án này đều đang ở giai đoạn phát triển đầu nên số lượng phần mềm trong các kho không nhiều nhưng nó có những đặc điểm hay mà Adept Manager không có.

Tìm phần mềm cài lên Kubuntu 7.10

Tìm kiếm các phần mềm, cài đặt và chạy thử trên Kubuntu có lẽ là công việc hay, hứng thú và say mê khác hẳn khi dùng Windows. Các lý do chính như sau:

  • Kho phần mềm nguồn mở trên Internet rất phong phú (riêng các kho của Kubuntu có khoảng 23.000 gói phần mềm) và tuyệt đại đa số là miễn phí. Mỗi loại phần mềm có nhiều bản khác nhau do những nhóm khác nhau phát triển, thoải mái chọn và thử. Tìm phần mềm lại đơn giản: chỉ cần biết một vài keyword mô tả chức năng của phần mềm. Khi tìm được không cần lo lắng gì về bản quyền, crack, hạn dùng thử v.v…
  • Cách cài phần mềm vào Kubuntu rất khác nhau. Từ cài đặt đơn giản, convert trước khi cài, biên dịch từ mã nguồn cho đến cài thẳng phần mềm Windows thậm chí cả hệ điều hành Windows vào Kubuntu.
  • Phần mềm quản lý việc tìm kiếm, cài đặt phần mềm của Kubuntu được đánh giá là một trong những bộ phần mềm hay nhất trong các hệ Linux.

    Chi tiết hơn xem file “Tim kiem phan mem trong Kubuntu 7.10.pdf” tại các địa chỉ www.mediamax.com/zxc232http://savefile.com/projects/1064804

    Các phần mềm CAD bản quyền trên Kubuntu 7.10

    Định dạng bản vẽ DWG của Autodesk đã trở thành chuẩn bản vẽ mặc nhiên (de-facto). Các nhà lập trình nguồn mở thành lập tổ chức Open Design xây dựng chuẩn mở OpenDWG tương thích với DWG. Các công ty phần mềm CAD lập nên consortium IntelliCAD xây dựng phần mềm nền IntelliCAD tương thích với DWG, sau đó các công ty thành viên tự bổ xung, sửa đổi thành sản phẩm của mình để bán.
    Qua xem xét sơ bộ, các phần mềm này:
    - Có giao diện và các tính năng rất giống AutoCAD. Được quảng cáo là người biết AutoCAD có thể dùng được ngay. Định dạng bản vẽ chuẩn là DWG.
    - Giá cao nhất khoảng 500USD.
    - Đều là phần mềm Windows nhưng có thể cài đặt dễ dàng trong Kubuntu (giống hệt như khi cài trong Windows) sau khi đã cài wine. Chạy và dùng được trong Kubuntu tuy có chậm hơn so với khi chạy trong Windows (nhất là khi mở bản vẽ lần đầu). Phần hiển thị và gõ tiếng Việt cần nghiên cứu thêm. Riêng hãng Bricsys có bản Bricscad for Linux (thực chất cũng chạy trên nền wine). Bản này đóng gói dạng rpm cho RedHat, dùng alien chuyển sang dạng deb cài chạy được trên Kubuntu.
    Vì vậy đây là một giải pháp tiềm năng cho CAD trong Kubuntu.

    CAD và PDF trong Kubuntu 7.10

    Trong Kubuntu 7.10 có thể vẽ các bản vẽ dùng các chương trình CAD (kể cả bằng AutoCAD 2000). Ngoài ra có thể soạn, tạo file PDF (mà không cần tới Adobe Acrobat); đọc file pdf bằng Adobe Reader, Kpdf; sửa, ghi chú vào file pdf bằng Foxit for Windows, pdfedit.
    Tài liệu hướng dẫn có tại:
    1- http://savefile.com/projects/1064804
    2- http://www.mediafire.com/zxc232

    Phần mềm quản lý dự án OpenProj

    Trong Kubuntu hiện có vài phần mềm quản lý dự án nguồn mở: KPlato (KDE), Planner (GNOME), GanttProject (Java). Tuy nhiên nhược điểm lớn nhất của các phần mềm này là không đọc được trực tiếp file dự án mpp của Microsoft Project.
    Tôi mới thử sơ bộ phần mềm OpenProj (http://openproj.org) viết bằng Java.
    Ưu điểm:
    1- Đọc được file mpp. Đã thử mở một file MS Project có 3200 task, dung lượng 3MB. File mở tốt với đầy đủ các thông tin.
    2- Có các tính năng cơ bản như MS Project, giao diện và từ ngữ khá giống MS Project, đủ dùng cho trình độ quản lý dự án bây giờ.
    Nhược điểm:
    1- Giao diện Java nên không đẹp và đơn giản (vd: các gant chart chỉ có một kiểu). Nhận được font chữ unicode tiếng Việt nhưng hiển thị xấu. Chạy hơi chậm.
    2- Không save được thành dạng file mpp. Nếu soạn hoặc sửa file dự án bằng OpenProject muốn đọc lại được trong MS Project phái save as thành file xml. Một file mpp 3MB chuyển sang dạng xml có kích thước là 35MB.
    Dù sao thì với hai ưu điểm nói trên, phần mềm này là một bước đột phá trong việc chung sống giữa Kubuntu và Windows trong lĩnh vực quản lý dự án. Xin giới thiệu để mọi người cùng tìm hiểu thêm.
    Ngoài ra còn một phần mềm quản lý dự án nữa viết bằng java chạy trên Kubuntu và đọc được các file MS Project là IP Desktop (www.webintellisys.com). Tuy nhiên phần mềm này phải mua với giá 300USD (cho dùng thử 30 ngày).

    OpenOffice và font VNI

    Trong các bản OpenOffice 2.2, các văn bản dùng font VNI không hiển thị được tiếng Việt cũng như font ABC thì bị lỗi chữ ư.
    Rất may là bộ OpenOffice 2.3 có trong Kubuntu 7.10 hiển thị tốt tiếng Việt của VNI trong các file doc và xls, gõ được theo kiểu gõ Telex.
    Nhưng lỗi chữ ư của font ABC thì vẫn bị.
    Những lỗi font cũ trong OpenOffice và việc không có một phần mềm convert đơn giản tiện dụng như unikey trong Windows đang là một cản trở lớn cho việc dùng OpenOffice.

    UPDATE (24/1/2009): đến nay, mọi vấn đề trên đều có vẻ ổn

    • Font ABC, VNI đã có công cụ convert cực kỳ đơn giản sang unicode.
    • Font VNI gõ được theo kiểu VNI và telex bằng bộ gõ scim-unikey

    (xem các bài liên quan, nhấn catergory Tiếng Việt).

    PS: nói có vẻ ổn vì với font VNI mới thử sơ.


    Từ điển StarDict và Kubuntu 7.10

    Bản StarDict 3.0.0 có sẵn trong kho của Kubuntu 7.10 (cài qua Add/Remove Programs) có một lỗi khi chạy: nếu tra từ bằng cách bôi đen từ rồi nhấn phím Win thì màn hình hiện lên không cố định lại được (di chuột là màn hình tắt).
    Phải tải bản 3.0.1 beta từ site của StarDict về cài mới không bị lỗi nói trên. Trước khi cài, vào Adept Manager, gỡ bỏ cả stardict và stardict-common đi.
    So với bản trước 2.4.8 thì bản này hay hơn hẳn, nhiều từ điển hơn, từ điển Anh-Việt cũng “có vẻ” nhiều từ hơn (chưa kiểm tra kỹ).
    Cách dùng nêu trong tài liệu “Sử dụng Kubuntu 7.10″ sẽ up lên trong một ngày gần đây.

    Phần mềm Quản lý dự án

    Nếu như OpenOffice ngang ngửa với MS Office về tính năng thì hiện chưa có phần mềm quản lý dự án nào trong Linux sánh được với MS Project. Tuy nhiên, cũng như với WinWord mà hiện đa số người dùng chỉ cần đến và dùng được một phần nhỏ tính năng của nó, bạn có thể sử dụng các phần mềm quản lý dự án dưới đây khi mà trình độ quản lý dự án của bạn chưa được “như tây”.
    Tôi chưa tìm hiểu và sử dụng kỹ được các phần mềm này nên những nhận xét dưới đây chỉ có tính sơ bộ, nhưng cũng giới thiệu để các bạn cùng tìm hiểu.

    1- KPlato: đây là phần mềm quản lý dự án nằm trong bộ KOffice, chạy trong môi trường KDE nên giao diện rõ ràng và đẹp khi chạy trên Kubuntu. Phần mềm này có thể cài bằng Adept Manager (gõ kplato vào ô Search). Ưu điểm: có hệ thống đánh số WBS, tích hợp chặt với các ứng dụng KDE khác (có thể chọn người thực hiện trong Kontact và gửi mail qua KMail). Nhược điểm: cách cập nhật tiến độ hơi khó hiểu,…, không đọc được các file dự án của MS Project (mpp).

    2- GanttProject: phần mềm này chạy trên java, do đó trước hết phải cài JRE vào máy. Site chính là www.ganttproject.org.Ưu điểm: đọc được file MS Project, cách cập nhật tiến độ đơn giản (% thực hiện), thời gian hiển thị điều chỉnh được (ngày, tuần, tháng,…), có thể điều chỉnh thời gian của task bằng cách kéo rê chuột, có đường găng,.. Nhược điểm: giao diện không đẹp, không có WBS, không tích hợp với các ứng dụng khác.
    Lưu ý khi chỉnh GanttProject:
    1- Vào KMenu – System Settings – Appearance – GTK Style and Fonts – GTK Fonts, chọn font là Arial hoặc Times New Roman.
    2- Trong GanttProject vào menu Edit – Settings – Appearance, chọn GTK+
    Chỉnh như vậy màn hình sẽ hiển thị tốt tiếng Việt.

    Ngoài ra còn có một phần mềm miễn phí khác là OpenWorkbench (www.openworkbench.org) có tham vọng thay thế MS Project nên có nhiều tính năng mạnh. Nhưng hiện nay, OpenWorkbench chỉ chạy trên Windows.

    Tìm phần mềm để cài trên Kubuntu

    Nếu ta cần đến một phần mềm mà không có sẵn trong Kubuntu thì phải tìm kiếm trên Internet để download về cài.Trong bài sau đây, tôi chia sẻ kinh nghiệm tìm phần mềm biên tập video theo dạng nghiệp dư của những người không rành linux. Hy vọng sẽ có ích cho các bạn.Bài viết này có ảnh chụp màn hình. Để cho nhanh tôi xuất nó ra dưới dạng file pdf. Đọc file ở đâyTim phan mem cho Kubuntu.pdf

    Năm cách dùng phần mềm Windows trong Linux

    Bản lược dịch, các phần chữ nghiêng là lời người dịch, bản gốc
    tại đây. Tại địa chỉ này cũng có những bài viết hay về sử dụng Ubuntu 6.10 và phần mềm mã nguồn mở nói chung (bằng tiếng Anh).

    Xem bản dịch tại đây: http://docs.google.com/View?docid=dgf245vn_8gngs3n&revision=_published