Vào Ubuntu sau khi cài lại Windows XP

Cách này đơn giản hơn các cách đã nêu trong blog này.

  1. Boot máy bằng một đĩa CD Ubuntu, vào chế độ LiveCD.

  2. Mở Terminal rồi chạy lệnh: sudo fdisk -l

Giả sử màn hình có kết quả cuả lệnh fdisk như sau:

Các partition sda1 và sda5 là partition Linux, sda2 là extended partition có chứa sda3, sda4 là partition Windows (ntfs).

Chạy lệnh fdisk chỉ để đọc các partition có trên ổ cứng. Nếu trước đó đã nhớ là Ubuntu cài trên partition nào thì không cần chạy lệnh này.

Giả sử trước đó ta cài Ubuntu lên sda5 thì lệnh tiếp theo như sau:

sudo mount /dev/sda5 /mnt

Lệnh này mount sda5 vào thư mục /mnt

Chạy tiếp lệnh:

sudo grub-install --root-directory=/mnt/ /dev/sda

Chú ý trong lệnh trên, cụm ký tự cuối là /dev/sda, không phải /dev/sda5.

Lệnh này cài phần mềm quản lý boot grub2 lên ổ cứng sda và trỏ đến thư mục gốc là sda5 đã được mount vào /mnt. để tiếp tục quá trình boot.

  1. Khởi động lại máy từ ổ cứng. Boot menu của Ubuntu sẽ xuất hiện nhưng chưa có Windows. Cho khởi động tiếp vào Ubuntu.

  2. Trong Ubuntu, mở terminal rồi chạy lệnh:

sudo update-grub

Lệnh này bảo grub dò tìm trên ổ cứng các hệ điều hành khác đã cài và cập nhật nó vào boot menu. Khởi động lại máy sẽ thấy Windows xuất hiện trong boot menu của Ubuntu.

This entry was posted in Ubuntu, Kubuntu and tagged . Bookmark the permalink.

11 Responses to Vào Ubuntu sau khi cài lại Windows XP

  1. Cái lệnh này chỉ khi cài lại máy mới dùng đến, tần suất sử dụng thấp, rất hay quên :) Memo lại rồi cũng phải đi search thôi hehe

  2. tuanht says:

    Có hướng dẫn còn kêu mount cả

    mount --bind /proc /mnt/proc
    mount --bind /dev /mnt/dev
    mount --bind /sys /mnt/sys

    Vậy có cần thiết phải mount mấy cái này ko.

    • Khách says:

      Những lệnh mount đó chỉ cần để chạy update-grub ngay lúc đó. Nếu khởi động lại rồi mới update-grub thì không cần.

  3. Pingback: Khôi phục khởi động vào Ubuntu 9.10 sau khi cài lại Windows | ZXC232-Phần mềm tự do nguồn mở – Free and open source software

  4. Khách says:

    Nhét mấy dòng lệnh đó vào file text ví dụ “restore_grub.txt” rồi chép vào cái USB có cài Ubuntu. Boot USB lên, gõ mấy cái lệnh đó –thực chất là copy&paste — Thế là xong.
    Cách mới này của zxc232 gọn hơn cách cũ. Hay!

  5. Tôi cài Fedora 16 rồi sau đó cài openSUSE 12.1 nhưng GRUB của openSUSE ko nhận Fedora. Xin hỏi phải làm sao để boot vào Fedora từ boot menu của openSUSE. Lúc tôi cài Fedora để mặc định nên nó chia /boot vào sda7 còn lại nó nhóm vào 1 cái lvm.

    • zxc232 says:

      OpenSUSE 12.1 vẫn còn dùng grub1, Fedora 16 dùng grub2 nên grub1 không nhận được grub2 (ngược lại Fedora nhận được OpenSUSE).
      Trong OpenSUSE, dùng quyền root mở file /boot/grub/menu.lst rồi thêm vào các dòng sau:
      title Fedora 16
      root (hd0,6)
      kernel /boot/grub2/core.img
      Trong đó hd0 là ổ cứng thứ nhất (nếu ổ cứng thứ hai thì hd1), 6 = 7 – 1 (/boot của Fedora ở đây cài vào sda7).
      Sau đó reboot lại máy sẽ thấy Fedora 16 trong boot menu

      • Bui Quang Huy says:

        Do nó chia boot vào sda7 nên toàn bộ cái ruột của /boot sẽ nằm trực tiếp trên sda7. Tôi biết điều này vì khi gõ kernel /boot/grub2/core.img khi chọn Fedora 16 thì nó báo là File not found. Lò mò 1 hồi tôi liều sửa thành kernel /grub2/core.img thì nó chạy vào menu boot của Fedora và chọn tiếp Fedora (bản kernel trên cùng) để boot thành công vào desktop.

  6. Pingback: Vào Ubuntu sau khi cài lại Windows Xp or Windows 7 « Thai Nguyen LUG

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s